MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút Dengue gây ra bởi bốn típ huyết thanh, gồm DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN- 4. Bệnh lây truyền qua trung gian là muỗi Aedes, trong đó Aedes aegypti đƣợc xem là véc tơ truyền bệnh chủ yếu và Aedes albopictus đƣợc xem là thứ yếu. Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), ƣớc tính hàng năm trên thế giới có khoảng 2,5 – 3 tỷ ngƣời có nguy cơ mắc bệnh.
Trong 50 – 100 triệu trƣờng hợp mắc sốt xuất huyết có khoảng 500.000 trƣờng hợp sốt xuất huyết Dengue phải nhập viện điều trị, trong đó 90% là trẻ em dƣới 15 tuổi. Bệnh lƣu hành trên 100 nƣớc thuộc các khu vực khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới nhƣ: Châu Mỹ, Châu Phi, khu vực Tây Thái Bình Dƣơng và Đông Nam Á [1]. Việt Nam đƣợc xác định là một trong 8 nƣớc đứng đầu khu vực Đông Nam châu Á và thế giới về tỷ lệ mắc và chết do bệnh sốt xuất huyết Dengue. Bệnh lƣu hành rộng rãi ở vùng châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long và duyên hải miền Trung, bệnh không chỉ xuất hiện ở các khu đô thị mà cả vùng nông thôn và những năm đây gần đây ca mắc SXHD gia tăng ở các huyện miền núi, là một trong 10 bệnh truyền nhiễm gây dịch có tỷ lệ mắc cao nhất ở nƣớc ta [1, 2].
Tại miền Trung từ Quảng Bình đến Bình Thuận, nhiều năm qua tỉnh có ca mắc cao nhất khu vực vẫn là Khánh Hòa, trong đó thị xã Ninh Hòa là 1 trong 9 huyện/thị có số mắc cao liên tục của tỉnh trong nhiều năm qua [3]. Các chỉ số muỗi và bọ gậy truyền bệnh SXHD ở đây luôn luôn ở mức báo động, mặc dù đã triển khai nhiều biện pháp can thiệp nhƣ: phóng thả tác nhân sinh học cá bảy màu, chế phẩm Abate/Sumilarv, phun chủ động và các chiến dịch diệt lăng quăng thƣờng xuyên… nhƣng vẫn chƣa đạt hiệu quả theo mong muốn trong việc làm giảm số lƣợng ca bệnh và quần thể véc tơ truyền bệnh. Việc nghiên cứu tìm các giải pháp nhằm kiểm soát các dụng cụ chứa nƣớc có lăng quăng/bọ gậy và muỗi trƣởng thành đang hoạt động mang vi rút trong cơ thể của chúng ở những địa phƣơng là rất cần thiết để ngăn chặn các vụ dịch sốt xuất huyết Dengue hiện nay. Tuy nhiên, công tác phòng chống dịch bệnh vẫn còn nhiều tồn tại liên quan đến nhiều vấn đề nhƣ: biến đổi khí 6 hậu, thay đổi hạ tầng cơ sở, thói quen tích trữ nƣớc, giao lƣu của ngƣời dân và sự thích ứng của véc tơ truyền bệnh đã làm cho công tác phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue ngày càng khó khăn hơn.
Để phòng chống sốt xuất huyết có hiệu quả hơn, việc xác định một số đặc điểm sinh học sinh thái và ổ bọ gậy nguồn của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue là rất cần thiết trong việc tìm ra các giải pháp hợp lý, từ đó giúp địa phƣơng phòng chống và kiểm soát quần thể muỗi tốt hơn trong việc ngăn chặn các vụ dịch sốt xuất huyết. Do đó, đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh thái và ổ bọ gậy nguồn của của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết dengue tại huyện Ninh Hòa-Khánh Hòa năm 2021” đã đƣợc thực hiện. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Mô tả một số đặc điểm sinh học sinh thái của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue tại huyện Ninh Hòa, Khánh Hòa năm 2021. Xác định ổ bọ gậy nguồn của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue tại địa điểm nghiên cứu.
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus tại hộ gia đình bao gồm khu vực trong nhà và khu vực xung quanh nhà, vƣờn cây. Bọ gậy/lăng quăng Aedes aegypti và Aedes albopictus tại hộ gia đình bao gồm các dụng cụ chứa nƣớc sinh hoạt, phế thải trong và ngoài nhà. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI Cung cấp bổ sung cập nhật thông tin về sinh học sinh thái của muỗi truyền bệnh SXHD tại huyện Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà. Xác định ổ bọ gậy nguồn và sự thay đổi ổ bọ gậy nguồn theo thời gian của muỗi truyền bệnh SXHD tại điểm nghiên cứu.
Cơ sở đề xuất các biện pháp diệt bọ gậy/lăng quăng, đảm bảo công tác tuyên truyền, phòng chống bệnh SXHD thích hợp, hiệu quả cho từng giai đoạn theo mùa trong năm. CÁC NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHÍNH - Điều tra một số đặc điểm sinh học sinh thái muỗi truyền bệnh SXHD bao gồm nơi trú đậu, giá thể, độ cao ƣa thích và thời gian hoạt động hút máu. - Điều tra bọ gậy truyền bệnh SXHD trong các dụng cụ chứa nƣớc trong và ngoài nhà (vƣờn) nhằm xác định ổ bọ gậy nguồn của muỗi truyền bệnh SXHD. - Tìm hiểu một số mối liên quan đến tập tính sinh học của muỗi và bọ gậy Aedes.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE 1. Định n hĩa b nh sốt xuất hu ết Den ue Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO): Bệnh sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm nhóm B do vi rút họ Flaviviridae, với 4 típ huyết thanh DEN- 1, DEN- 2, DEN- 3, DEN- 4. Vi rút Dengue đƣợc truyền bởi muỗi Aedes từ ngƣời bệnh có virus Dengue sang ngƣời lành thông qua việc hút máu [4].
Ngƣời bị nhiễm vi rút Dengue có thể không có triệu chứng hoặc biểu hiện lâm sàng nhẹ, hoặc tình trạng xuất huyết nặng, sốc và dẫn đến tử vong. Đặc điểm của b nh sốt xuất hu ết Den ue Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh nhiễm vi rút Dengue cấp ở ngƣời, mọi lứa tuổi đều có thể mắc SXHD. Sau khi nhiễm một típ vi rút Dengue, ngƣời bệnh sẽ có miễn dịch suốt đời đối với típ vi rút đó, có miễn dịch tạm thời một phần với típ khác, nhƣng không bền vững, họ có thể nhiễm típ khác và có nguy cơ bị nặng hơn. Cần nghi ngờ mắc SXHD khi có triệu chứng sốt cao kèm theo 2 trong số các triệu chứng sau đây: đau đầu nặng, đau sau hốc mắt, đau cơ khớp, chóng mặt, nôn mửa, da xung huyết hoặc nổi ban.
Sốt thƣờng kéo dài từ 2 đến 7 ngày, sau thời gian ủ bệnh từ 4 đến 10 ngày sau khi bị muỗi mang bệnh đốt. SXHD nặng là một biến chứng có thể gây tử vong vì rò rỉ plasma, ứ dịch, suy hô hấp, chảy máu nặng, hoặc suy tạng. Các dấu hiệu cảnh báo xuất hiện 3 đến 7 ngày sau những triệu chứng đầu tiên, kèm với hiện tƣợng nhiệt độ cơ thể giảm và bao gồm: đau bụng dữ dội, nôn mửa, thở gấp, xuất huyết, mệt mỏi, bứt rứt và nôn ra máu. Trong vòng 24 đến 48 giờ tiếp theo của giai đoạn quan trọng này có thể gây ra tử vong, sự chăm sóc y tế chuẩn mực là điều cần thiết để tránh các biến chứng và nguy cơ tử vong [5].
Tình hình b nh sốt xuất hu ết Den ue tr n thế iới Vào năm 1897, vụ dịch SXHD đầu tiên đƣợc ghi nhận ở Úc và một bệnh xuất huyết tƣơng tự cũng đƣợc ghi nhận tại Hy Lạp trong năm 1928 và tiếp theo là vụ dịch ở Đài Loan năm 1931. Tuy nhiên, phải đến năm 1953-1954 thì một vụ dịch SXHD đƣợc ghi nhận đầu tiên ở Philippines. Từ đó, nhiều vụ dịch SXHD 9 lớn đã xảy ra ở hầu hết các nƣớc Đông Nam Á, với tỷ lệ tử vong cao, bao gồm cả Ấn Độ, Indonesia, Maldives, Myanma, Sri Lanka, Thái Lan và các nƣớc thuộc khu vực Tây Thái Bình Dƣơng nhƣ Singapore, Malaysia, New Caledonia, Palau, Philippines, Tahiti và Việt Nam. Hiện nay dịch SXHD đã lan rộng ra 128 quốc gia ở Nam Mỹ, Địa Trung Hải, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dƣơng vào năm 2018.
Trong đó khu vực Nam Mỹ, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dƣơng chiếm 75% số ca bệnh SXHD. Hàng năm có khoảng 390 triệu ngƣời mắc SXHD trên toàn cầu, trong trong vòng 10 năm (2010-2020), số ca mắc SXHD tăng từ 2,2 triệu ngƣời lên 3,6 triệu ngƣời [1, 6]. Nghiên cứu của Salles (2018) cho thấy tỷ lệ các ca sốt xuất huyết nặng ở khu vực Đông Nam Á cao gấp 18 lần so với khu vực Châu Mỹ [7]. Theo tác giả Lee (2017) đã nhận định Philippines, Malaysia, Việt Nam là những nƣớc có tỷ lệ mắc SXHD cao nhất trong khu vực, với tình hình SXHD trên thế giới diễn biến phức tạp, bệnh SXHD ảnh hƣởng trực tiếp đến sức khỏe, kinh tế và xã hội, đặc biệt là các nƣớc thuộc vùng SXHD lƣu hành cao nhƣ Việt Nam [8].
Theo báo cáo ngày 13/8/2020 của Tổ chức y tế thế giới (WHO), nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới vẫn tiếp tục ghi nhận số mắc và tử vong cao Bản 1. Số ca mắc SXHD tại các Quốc gia trên thế giới STT Quốc ia Số mắc Số chết 1 Malaysia 66.210 07 Khu vực châu Mỹ La Tinh 7 Brazil 1.048 28 (Nguồn: Cục y tế dự phòng – Bộ Y tế htps://vncdc.vn/files/article_attachment/2020/9/2-cuc-ytdp-hoi-nghi-sxhd-2020) 10 1. Tình hình b nh sốt xuất hu ết Dengue tại Vi t Nam. Số ca mắc bệnh SXHD cả nƣớc phân theo khu vực năm 2020 (Nguồn: Cục y tế dự phòng – Bộ Y tế) Việt Nam là một nƣớc có khí hậu nhiệt đới gió mùa thuận lợi cho sự phát triển của muỗi Aedes, vì vậy bệnh SXHD đang là một trong các bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất hiện nay.
Bệnh SXHD xảy ra trƣớc năm 1990, lúc đó những vụ dịch mang tính chất chu kỳ với khoảng cách trung bình 3 - 4 năm. Sau năm 1990, bệnh xảy ra liên tục với cƣờng độ và quy mô ngày một gia tăng hơn.000 trƣờng hợp mắc SXHD và hơn 1.500 trƣờng hợp tử vong [9]. Sau đó trận dịch lớn thứ hai vào năm 1998, cả nƣớc ghi nhận số trƣờng hợp mắc là 234.920 và 377 trƣờng hợp tử vong, tỉ lệ mắc/100.000 dân là 306 và tỉ lệ chết/mắc là 0,19%. Giai đoạn từ 1999-2003, số mắc trung bình hàng năm đã giảm chỉ còn 36.826 ca mắc và tử vong trung bình là 66 trƣờng hợp [10, 11].
Năm 2010 số ca mắc đƣợc ghi nhận 128.710 trƣờng hợp và 109 bệnh nhân đã tử vong [12]. Trong những năm gần đây, chu kỳ dịch SXHD diễn biến phức tạp với tỉ lệ mắc SXHD/100.000 dân từ năm 2011 đến năm 2020 có xu hƣớng tăng ở khu vực miền Trung và tây Nguyên. Tuy nhiên, năm 2017, dịch bệnh bùng phát ở hai thành phố lớn là Hà Nội (14.000 ngƣời mắc) và TP.500 ngƣời 11 mắc), sau đó lan ra các vùng lân cận.