Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Điều kiện tự nhiên tỉnh Thái Nguyên 1. Vị trí địa lý Thái Nguyên là tỉnh miền núi vùng Trung du - Miền núi Bắc Bộ, phía Nam giáp Thủ đô Hà Nội, phía Bắc giáp Bắc Kạn, phía đông giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc giang, phía tây giáp các tỉnh Tuyên Quang, Phú Thọ. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 3526,2 km2 dân số trung bình đến 31/12/2009 là 1.430 nghìn người.
Thái Nguyên là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục y tế của vùng trung du Đông Bắc nói riêng và Việt Nam nói chung. Tọa độ địa lý nằm 20o25’ vĩ độ Bắc; 105o25’ đến 106o16’ kinh độ Đông. Khí hậu Do nằm sát chí tuyến Bắc trong vành đai Bắc bán cầu, nên khí hậu của tỉnh Thái Nguyên nên mang tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên vào mùa nóng (mưa nhiều) từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình khoảng 23-28oC và lượng mưa trong mùa này chiếm tới 90% lượng mưa cả năm.
Mùa đông có khí hậu lạnh (mưa ít) từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Song do có sự khác biệt rõ nét ở độ cao và địa hình, địa thế nên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hình thành các vùng tiểu vùng khí hậu khác nhau. Sự đa dạng về khí hậu của Thái Nguyên đã tạo nên sự đa dạng, phong phú về các tập đoàn cây trồng, vật nuôi. Đây chính là cơ sở cho đa dạng hóa cơ cấu sản phẩm nông nghiệp nhằm phát huy lợi thế to lớn các yếu tố sinh thái của tỉnh.
Điều kiện địa hình Là một tỉnh trung du miền núi, Thái Nguyên có độ cao trung bình so với mặt biển khoảng 200-300 m, thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông. Tỉnh Thái Nguyên được bao bọc bởi các dãy núi cao Bắc Sơn, Ngân 14 Sơn và Tam Đảo. Đỉnh cao nhất thuộc dãy Tam Đảo có độ cao 1592 m. Về địa hình địa mạo được chia thành 3 vùng rõ rệt.
+ Vùng địa hình vùng núi: Bao gồm nhiều dãy núi cao ở phía Bắc chạy theo hướng Bắc – Nam và Tây Bắc – Đông Nam. Các dãy núi kéo dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Vùng này tập chung ở huyện Đại Từ Và một phần của huyện Phú lương. Đây là vùng có địa hình cao chia cắt phức tạp do quá trình castơ phát triển mạnh, có độ cao từ 500-1000 m, độ dốc thường từ 25-30 độ.
+ Vùng địa hình đồi cao, núi thấp: Là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi cao phía Bắc và vùng đồi gò đồng bằng phía Nam, chạy dọc theo sông Cầu và đường quốc lộ 3 thuộc huyện Đồng Hỷ, Nam Đại Từ và Nam Phú Lương. Địa hình gồm các dãy núi thấp đan chéo với dãy đồi cao tạo thành các bậc thềm lớn và nhiều thung lũng. Độ cao trung bình từ 100-300 m, độ dốc thường 15-25 độ. + Vùng địa hình nhiều ruộng ít đồi: Bao gồm vùng đồi thấp và vùng đồng bằng phía Nam tỉnh.
Địa hình tương đối bằng phẳng, xem giữa các đồi bát úp dốc thoải là các khu đất bằng. Vùng này tập chung ở huyện Phú Bình, Phổ Yên, thị xã Sông Công, và thành phố Thái Nguyên và một phần phía Nam huyện Đồng hỷ, Phú Lương. Độ cao trung bình 30-50 m, độ dốc thường < 10 độ. Tài nguyên đất Kết quả tổng hợp trên bản đồ đất tỷ lệ 1/50.000 của tỉnh cho thấy đất đai của Thái Nguyên chủ yếu là đồi núi (chiếm đến 85,5% tổng diện tích tự nhiên).
Do sự chi phối của địa hình và khí hậu đất đồi núi của tỉnh bị phong hóa nhanh, mạnh, triệt để, đồng thời cũng đã bị thoái hóa, rửa trôi, sói mòn mạnh một khi mất cân bằng sinh thái. Do tính đa dạng của nền địa chất và địa hình tạo ra nhiều loại đất có đặc điểm đặc trưng khác nhau. Dưới đây là một số loại đất chính của tỉnh. 15 - Đất phù sa: Diện tích 19.448 ha, chiếm 5,49% diện tích tự nhiên.
- Đất bạc màu: Diện tích chỉ có 4.331 ha, chiếm 1,22% diên tích tự nhiên. Loại đất này phân bố ở các huyện phía Nam tỉnh. Đất bằng hiện đã được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp. - Đất dốc tụ: Diện tích 18.411 ha, chiếm 5,20% diện tích tự nhiên.
Loại đất này được hình thành và phát triển trên sản phẩm rửa trôi và lắng đọng của tất cả các loại đất ở các chân sườn thoải mái hoặc khe dốc, nên thường có độ phì khác nhau và phân tán trên địa bàn các huyện trong tỉnh. Đây là loại đất thích hợp với trồng ngô, đậu đỗ và các loại cây công nghiệp ngắn ngày. - Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa: Diện tích 4.380 ha, ciếm 1,24% diện tích tự nhiên. Loại đất này phân tán ở hầu hết các thung lũng trên địa bàn các huyện trong tỉnh, hiện đã được sử dụng vào trồng lúa và một số cây trồng ngắn ngày khác.
- Đất đỏ vàng trên phiến thạch sét: diện tích 136.880 ha, chiếm 38,65% diện tích tự nhiên, đây là loại đất có diện tích lớn nhất. Trên loại đất này có khoảng 48,5% diện tích có độ dốc từ 8-250, rất thích hợp với phát triển cây chè cây ăn quả. Nguồn gốc và phân loại cây Đơn mặt quỷ 1. Nguồn gốc Cây Đơn mặt quỷ mọc ở các bờ đất dưới chân đồi ven suối, ven rừng đồng bằng, dưới tán các cây gỗ.
Cũng gặp mọc bò trên các cây bụi ở nơi đất khô trải nắng miền trung du từ Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hòa Bình, Ninh Bình qua Thanh Hóa, Nghệ An đến Gia Lai. Cây Đơn mặt quỷ còn thấy mọc ở các nước nhiệt đới Châu Á: Trung Quốc, Nhật Bản, Châu Mỹ. Phân loại thực vật Kết quả giám định cây Đơn mặt quỷ nằm trong hệ thống phân loại thực vật như sau: 16 Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Hạt kín (Angiospermae) Lớp: Hai lá mầm (Eudicots) Bộ: Long đởm (Gentianales) Họ: Cà phê (Rubiaceae) Chi: Morinda Tên khoa học: Morinda umbellata L. Đặc điểm thực vật học cây Đơn mặt quỷ Dạng thân bụi, dây leo có thể dài tới 10 m.
Lá hình trứng rộng, phía cuống lá hẹp lại, đầu tù hay nhọn dài 2-12,5 cm, rộng 3-4 cm, nhẵn hay có lông ở mặt dưới. Hoa hợp thành hình đầu tận cùng, đường kính khoảng 6 mm. Quả hạch dính với nhau thành hình đầu nhiều mặt, màu đỏ, mỗi hoa để lại trên quả một vết tròn làm cho quả có hình thù quái dị, giống như mặt một con quỷ, mỗi hạch dài 4 mm, dày 2mm, thành dai. Mỗi hạch chứa một hạt [8].
Hoa cây Đơn mặt quỷ 17 Hình 1. Quả cây Đơn mặt quỷ Hình 1. Lá cây Đơn mặt quỷ Hình 1. Cây Đơn mặt quỷ ở thực địa 18 1.
Thành phần hóa học, tính vị và công dụng của cây Đơn mặt quỷ 1. Thành phần hóa học Các nghiên cứu đã báo cáo rằng có 18 hoạt chất được phân lập từ các chiết xuất từ cây Đơn mặt quỷ. Hai hoạt chất mới 11-noriridoids, umbellatolides A (1) và B (2) đã được phân lập từ bộ phận trên mặt đất của cây này. Mới đây, 16 hoạt chất khác cũng được phân lập từ các bộ phận trên mặt đất của cây đơn mặt quỷ: 2-hydroxy-6-hydroxymethylanthraquinone (3); 2-hydroxymethyl-6-methoxyanthraquinone (4); 1,6-dihydroxy-2- hydroxymethylanthraquinone (5); 1,3-dihydroxy-7- methoxymethylanthraquinone (6); 3-hydroxy-1-methoxy-7-methoxymethy lanthraquinone (7); 3-hydroxy-1,7-dimethoxyanthraquinone (8); 2,3-dihydroxy- 6-methoxymethylanthraquinone (9); 2,6-dihydroxy-1-methoxyanthraquinone (10); 6-hydroxy-1,2-methylenedioxyanthraquinone (11); 3-hydroxy-1,2-methylen edioxyanthraquinone (12); methyl 4,6-dihydroxy-1-methoxynaphthalene-2- carboxylate (13); dimethyl 1,1׳-dihydroxy-4,4׳-dimethoxy-2,2׳-binaph thalene- 3,3׳-dicarboxylate (14); methyl 7,12-dihydro-2,9-dihydroxy-5-methoxy -7,12- dioxodinaphtho [1,2-b: 2׳,3׳-d] furan-6-carboxylate (15); methyl 7,12-dihydro- 2,5,9-trihydroxy-7,12-dioxodinaphtho [1,2-b:2׳,3’-d] furan-6-carboxylate (16); methyl 7,12-dihydro-9-hydroxy-5-methoxy-7,12-dioxodinaphtho [1,2-b: 2׳,3׳- d] furan-6-carboxylate (17); methyl 7,12-dihydro-10-hydroxy-5-methoxy- 7,12-dioxodinaphtho [1,2-b:2׳,3׳-d] furan-6-carboxylate (18) [42].
Tính vị và công dụng - Tính vị: Cây Đơn mặt quỷ có vị cay ngọt, tính hơi nóng. - Công dụng: Cây Đơn mặt quỷ trong phạm vi nhân dân để chữa các bệnh về cơ xương khớp. Chữa thấp khớp: mặt quỷ, vỏ xà cừ, rễ cỏ xước mỗi vị 10 g sắc nước uống. Trị thận hư eo lưng đau: Vỏ rễ mặt quỷ 10 g, thêm xương lợn, sắc nước uống.
Trị khớp đốt đau phong thấp: rễ cây mặt quỷ khô 20 g sắc nước uống trong ngày [8]. 19 Ứng dụng lâm sàng của cây mặt quỷ: chữa thấp khớp: đơn mặt quỷ, vỏ xà cừ, rễ cỏ xước, rễ chổi sể đồng 10 gam sắc nước uống; trị thận hư eo lưng đau: vỏ rễ đơn mặt quỷ 10 gam, thêm xương lợn, sắc nước uống; trị khớp đốt đau phong thấp: rễ đơn mặt quỷ khô 20 g sắc nước uống [8]. Tình hình nghiên cứu nhân giống bằng phương pháp giâm hom trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình nhân giống bằng phương pháp giâm hom trên thế giới 1.
Giá thể Giâm hom có thể được tiến hành bởi nhiều loại hom trên nhiều loại giá thể khác nhau (đất, xơ dừa, cát). Kết quả của nghiên cứu về giá thể giâm hom cây cỏ ngọt tại Philippines cho thấy sử dụng môi trường đất + cát + phân trùn quế (1: 1: 1) đã cho mầm dài hơn và dày hơn, chu vi rễ tốt hơn, trọng lượng chồi và rễ khô [53]. Chất điều hòa sinh trưởng Các yếu tố có thể góp phần vào sự phát triển và phân hóa của rễ bao gồm chất điều hòa sinh trưởng, đặc điểm di truyền, vật liệu nhân giống giai đoạn trưởng thành hoặc non và nồng độ chất dinh dưỡng [25] Cảm ứng ra rễ là một trong những hiệu ứng sinh lý phổ biến và được kiểm soát nhiều nhất bởi auxin thông qua kích thích quá trình phân hóa tế bào [46]. Trong số các auxin được sử dụng để kích thích ra rễ, axit indole-3-butyric (IBA) là hiệu quả và ít độc nhất đối với các mô thực vật [47].
Các chất điều hòa sinh trưởng đã được ứng dụng trong thực tiễn sản xuất làm chất tăng trưởng thực vật để tăng cường sự ra rễ của cành giâm [54]. Nghiên cứu về nhân giống bằng phương pháp giâm hom cành thông cho thấy hom được xử lý IBA có tỷ lệ phần trăm ra rễ cao hơn so với NAA. Công thức đạt hiệu quả nhất: IBA 4000 mg/L + paclobutrazol100 mg/L [33]. Hou và cộng sự 2019 [34] báo cáo rằng hom trà Camellia japonica được xử lý IBA + axit ascorbic (1000 mg/L) cho kết quả cao nhất về số lượng rễ, chiều dài rễ so với các công thức thí nghiệm; hom được xử lý bằng IBA + catechol 20 (50 hoặc 100 mg/L) tạo ra số lượng rễ, chiều dài và trọng lượng khô lớn hơn so với các thí nghiệm khác [37].