chương 1 Chương này trình bày những giới thiệu chung về nền tảng lý thuyết cũng như thực tế làm cơ sở hình thành luận văn, xác định vấn đề, câu hỏi nghiên cứu trong việc tìm mối quan hệ giữa các đặc điểm về quản trị công ty tác động đến độ trễ công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm tại các công ty niêm yết ở Sở giao dịch Chứng khoán Tp. Từ đó, luận văn xác định mục tiêu, đối tượng, các phương pháp nghiên cứu (PPNC) cụ thể áp dụng trong bài. Nội dung chi tiết về cở sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày ở các chương tiếp theo của luận văn. Trang 6 CHƯƠNG 2: CÁC ĐẶC ĐIỂM VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ ĐỘ TRỄ CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN BÁO CÁO TÀI CHÍNH KIỂM TOÁN NĂM.
Chương 2 trình bày các đặc điểm về quản trị công ty, công bố thông tin và độ trễ công bố thông tin cũng như cung cấp lý thuyết nền của nghiên cứu. Dựa trên cơ sở lý luận, kết quả thực nghiệm của các nghiên cứu trước, qua so sánh, đánh giá và phân tích tác động của các đặc điểm về quản trị công ty đến độ trễ báo cáo, từ đó bài nghiên cứu đưa ra các giả thuyết kỳ vọng về tác động của các đặc điểm về quản trị công ty lên độ trễ của công bố thống tin báo cáo tài chính kiểm toán năm tại các công ty niêm yết. Quản trị công ty: Do cách tiếp cận khác nhau nên có rất nhiều định nghĩa về khái niệm quản trị công ty mà phần lớn phụ thuộc vào các tác giả, thể chế cũng như quốc gia hay truyền thống pháp lý. Oyejide và Soyibo (2001) cho rằng quản trị công ty có thể được xem từ hai khía cạnh: một cái nhìn hẹp, trong đó nó được xem như chỉ bận tâm đến cấu trúc bên trong của một công ty, các vấn đề liên quan đến bảo vệ cổ đông, kiểm soát quản lý và phổ biến hơn cả là vấn đề đại diện.
Những người ủng hộ quan điểm rộng hơn muốn xem xét đến tính xã hội của công ty, các nền kinh tế chuyển đổi, các vấn đề về thể chế, pháp luật và nâng cao năng lực cũng như quy định của pháp luật. Trong khi đó, O'Donovan (2003) khái quát rằng quản trị công ty là một hệ thống nội bộ bao gồm các chính sách, quy trình và nhân sự, phục vụ cho nhu cầu của các cổ đông và các bên liên quan khác, bằng cách chỉ đạo và kiểm soát các hoạt động quản lý với tầm hiểu biết tốt về kinh doanh, khách quan, trách nhiệm giải trình và tính toàn vẹn. Thông qua các cơ chế và quy định, công ty được định hướng điều hành và kiểm soát nhằm đáp ứng quyền lợi của nhà đầu tư, người lao động và những người điều hành công ty. Theo Tổ chức Tài chính quốc tế (2011), quản trị công ty là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát công ty, liên quan tới các mối quan hệ giữa ban giám đốc, HĐQT và các cổ đông của một công ty với các bên có quyền lợi liên quan.
Quản trị công ty cũng tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công ty, và xác định các phương tiện để đạt được những mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả Trang 7 hoạt động của công ty. Quản trị công ty chỉ được cho là có hiệu quả khi khích lệ được giám đốc và HĐQT theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của công ty và của các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công ty một cách có hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng các nguồn lực một cách tốt hơn. Có một số nguyên tắc cơ bản được quốc tế công nhận là có khả năng quản trị công ty trong đó bao gồm các quyền của cổ đông, đối xử công bằng của các cổ đông, vai trò của các cổ đông, công khai, minh bạch và trách nhiệm của HĐQT (Ige, 2008; Ayininuola, 2009; Appah và Appiah, 2011). Quyền và đối xử công bằng của các cổ đông: Tổ chức phải tôn trọng quyền của cổ đông để thực hiện các quyền đó.
Họ sẽ giúp cổ đông thực hiện quyền của họ bằng cách giao tiếp hiệu quả thông tin, đó là điều dễ hiểu, dễ tiếp cận và khuyến khích các cổ đông tham gia vào các cuộc họp chung. Quyền lợi của các bên liên quan khác: công ty nên nhận ra rằng họ có luật pháp và các nghĩa vụ đối với tất cả các bên liên quan hợp pháp. Công khai và minh bạch: Các công ty nên tiết lộ thông tin kịp thời và chính xác về tất cả các vấn đề liên quan đến công ty. Vai trò và trách nhiệm của HĐQT: hội đồng quản trị cần một loạt các kỹ năng và sự hiểu biết để có thể đối mặt với các vấn đề kinh doanh khác nhau và có khả năng xem xét cũng như thay đổi trước những thách thức trong việc thực hiện quản trị có hiệu quả (Appah và Appiah, 2010).
Công bố thông tin và độ trễ của CBTT BCTC kiểm toán: 2. Công bố thông tin: Trên thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng, công bố thông tin có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhà đầu tư. Theo đó, CBTT được biết là phương tiện truyền thông quan trọng giúp các nhà quản lý thông tin về tình hình hoạt động của công ty và hoạt động quản trị công ty cho các nhà đầu tư bên ngoài. Theo Standard & Poor’s (2002), CBTT là thành phần cơ bản trong quản trị công ty giúp cho các bên liên quan và các nhà đầu tư quan tâm biết được cách thức công ty đang hoạt động.
CBTT đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thông tin bất cân xứng giữa cổ đông nội bộ (nhà quản lý và người liên quan) và các cổ đông và nhà đầu tư quan tâm bên ngoài. CBTT phải đảm bảo tính minh bạch, kịp thời và đầy đủ Trang 8 các thông tin về tài chính, HĐQT và tỷ lệ sở hữu của HĐQT, hoạt động của nhà quản lý, cũng như xác định rõ ràng bất kỳ xung đột lợi ích giữa các nhà quản lý, cổ đông và các bên liên quan khác. Trong các thông tin công bố, thông tin về tài chính rất quan trọng và có giá trị đối với các nhà đầu tư vì các thông tin tài chính có thể tác động hoặc làm thay đổi quyết định của nhà đầu tư. Để đảm bảo các thông tin tài chính là đáng tin cậy, các báo cáo tài chính phải được kiểm toán bởi công ty kiểm toán độc lập là một yêu cầu được đặt ra để giải quyết xung đột lợi ích giữa nhà quản lý và nhà đầu tư (Healy và Palepu, 2001; Wu và cộng sự, 2008).
Độ trễ của công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm: Công bố thông tin báo cáo tài chính kịp thời là cần thiết cho thị trường tài chính lành mạnh, giúp phân bổ hiệu quả và kịp thời các nguồn lực bằng cách giảm phần lớn các thông tin bất đối xứng, cải thiện giá cả của chứng khoán và bằng cách giảm thiểu giao dịch nội gián, giảm rò rỉ thông tin và tin đồn trên thị trường (Kamran, 2003). Các BCTC kiểm toán được công bố kịp thời là yếu tố quyết định quan trọng và có ý nghĩa tác động đến tính hữu ích của thông tin tài chính cung cấp cho người dùng bên ngoài (Aljifri và Khasharmeh, 2010). Công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán trễ, không điều độ sẽ gây nguy hiểm cho chất lượng của BCTC bằng cách không cung cấp thông tin kịp thời cho các nhà đầu tư. Hầu hết các cơ quan quản lý thị trường vốn trên thế giới đều giới hạn thời gian công bố thông tin báo cáo tài chính năm để đảm bảo rằng việc công bố đúng thời hạn cho các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính.
Theo nghiên cứu của Wu và cộng sự (2008) và Hout (2012), Ủy ban chứng khoán tại Mỹ yêu cầu các công ty công bố báo cáo tài chính hàng năm trong vòng 90 ngày, sau đó họ tiếp tục giảm thời hạn nộp hồ sơ (Mẫu 10 – K) từ 90 ngày xuống còn 60 ngày để nâng cao hiệu quả. Còn tại Điều 36 của Luật Chứng khoán Đài Loan yêu cầu CTNY phải công bố báo cáo hàng năm trong vòng 4 tháng sau khi kết thúc năm. Cuối năm 2004, Liên minh Châu Âu công bố bộ nguyên tắc minh bạch trong Chỉ thị số 2004/109/EG, theo đó một trong những hướng dẫn chỉ ra rằng các thành viên cá nhân của Liên minh Châu Âu chịu trách nhiệm thực hiện công bố báo cáo tài chính năm đúng thời hạn, cụ thể là 4 tháng sau khi kết thúc năm tài chính (Aubert, 2009; Hout, 2012). Trang 9 Tại Việt Nam, theo Thông tư 09/2010/TT-BTC ngày 15/01/2010, thời gian công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm là 100 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính, đến Thông tư 52/2012/TT-BTC ngày 05/04/2012, thời gian công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm rút ngắn còn 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính.
Như vậy, các báo cáo tài chính kiểm toán từ năm 2010 đến 2011 được xem là công bố trễ nếu công bố sau 100 ngày kể từ khi kết thúc năm tài chính và các BCTC kiểm toán từ năm 2012 đến 2014 được xem là công bố trễ nếu công bố sau 90 ngày kể từ khi kết thúc năm tài chính. Phương pháp đo lường cơ bản nhất của tính kịp thời là độ trễ báo cáo, lần đầu tiên được xem xét bởi Dyer và McHugh (1975). Độ trễ báo cáo chỉ đơn giản là số ngày kể từ khi kết thúc năm tài chính đến thời điểm báo cáo được công bố. Cách tính độ trễ báo cáo này cũng được đề cập trong rất nhiều nghiên cứu, chẳng hạn như nghiên cứu Chambers và Penman (1984); Sengupta (2004); Aubert (2009).
Hout (2012) đã thực hiện nghiên cứu độ trễ báo cáo tại 03 nước Bỉ, Đức, Hà Lan trong năm 2010 với mẫu nghiên cứu là 402 công ty đã tính toán độ trễ báo cáo bằng số ngày công bố BCTC kiểm toán chia cho số ngày tối đa được phép công bố theo định.