Chương 1. Giới thiệu về đề tài - Giới thiệu lý do hình thành nên đề tài. Tổng quan về cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Đưa ra các khái niệm cơ bản, các nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước về Quản trị Công ty và tiền mặt năm giữ trong công ty, đưa ra các giả thuyết và mô hình nghiên cứu. Dữ liệu và Phương pháp nghiên cứu Mô tả cách thức và nguồn thu thập dữ liệu được sử dụng trong nghiên; đưa ra cách đo và phương pháp kiểm chứng giả thuyết cho nghiên cứu Chương 4.
Kết quả nghiên cứu Mô tả và phân tích các kết quả tìm thấy và so sánh, giải thích kết quả tìm được so với giả thiết ban đầu. Kết luận và kiến nghị Dua ra kêt luận của nghiên cứu và một vài dé nghị cho các nghiên cứu tiép theo. CO SO LY THUYET 2.1 Các khái niệm cơ ban Tiền mặt là một hình thức của tiền tệ: theo đó, trong thời gian giao dich, chức năng lưu thông và cất giữ được thực hiện ma không cần các định chế tai chính trung gian. Giá trị của việc năm giữ tiền mặt là giá trị định giá cổ phiếu theo quan điểm của cổ đông đối với lượng tiền mặt nắm giữ của doanh nghiệp.
Quản trị Công ty Quản trị Công ty được xây dựng va phát triển trên lý thuyết được cho là gốc và pho bién nhất là lý thuyết vẫn đề đại diện. Theo quan điểm trong lý thuyết vẫn đề đại diện, sự phân tách giữa chủ sở hữu và quan lý có thé dẫn tới việc nhà quản lý hành động không nhằm mục tiêu tối đa hóa gia tri của cô đông, mà có thé vì lợi ích của chính bản thân họ, do đó một cơ ché kiểm soát cần được thiết kế dé bảo vệ lợi ích của các cổ đông [6]. “Quản trị Công ty là những biện pháp nội bộ dé điều hành và kiểm soát công ty, liên quan tới các mối quan hệ giữa ban giảm đốc, Hội động quan trị và các cổ đông của một công ty với các bên có quyên lợi liên quan. Quản trị Công ty cũng tạo ra một cơ cấu dé dé ra các mục tiêu của công ty, và xác định các phương tiện dé đạt được những mục tiễu đó, cũng như đề giám sát kết quả hoạt động của công ty.
Quản trị Công ty chỉ được cho là có hiệu qua khi khích lệ được ban giám đốc và Hội đồng quan tri theo đuổi các mục tiêu vì lợi ich của công ty và cua các cô đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công ty một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng các nguồn lực một cách tốt hơn” [3]. Quản trị Công ty liên quan đến 5 nguyên tắc sau [2], [21]: Quyền của Cô đông va các Chức năng Sở hữu Cơ bản (nhằm đánh giá việc doanh nghiệp thừa nhận và tạo điều kiện dé thực hiện quyên của cô đông): Doi xử Bình đăng đôi với Cô đông (nhằm dam bdo đối xử công bằng với tat cả các cô đông, đặc biệt và cô đông thiểu số và cô đông nước ngoời); Vai trò của các Bên có Quyền lợi liên quan trong Quản trị Công ty (Nguyên tắc OECD quy định rằng công tác quản trị công ty can bảo vệ các bên có quyên lợi liên quan bao gồm người lao động, nhà cung cap, khách hang, chu nợ, môi trưởng va cong 17 đồng trong hoạt động kinh doanh của mình); Công bỗ Thông tin và Tính minh bạch (nhằm đánh giá mức độ công khai minh bach của công ty thông qua việc công bố các thông tin quan trọng): Trách nhiệm của Hội đồng Quản trị (Theo nguyên tắc quan trị công ty do OECD xây dựng, Hội đồng quản trị đóng vai trò trung tâm là bảo đảm nhiệm vụ dé ra định hướng, chiến lược phát triển, và giám sát bộ máy diéu hành trong các hoạt động của công ty). Ngoài ra, còn có phần Điểm Thưởng va Phat dành cho các công ty đáp ứng tốt hơn mức độ yêu cau từ 5 phần nguyên tac chính trong khuôn khổ quản trị công ty của OECD [2].1 Thông tin cơ ban về thé điểm Quản tri Công ty khu vực Asean Theo báo cáo ACGS 2015 - 2016 [2], thẻ điểm Quản trị Công ty khu vực ASEAN được thiết kế và đánh giá thử nghiệm từ năm 2010, và được áp dụng chính thức đánh giá các nước trong khu vực ASEAN có thị trường chứng khoán từ năm 2011. Thẻ điểm này là một sáng kiến về Quản trị Công ty của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) trong Kế hoạch tổng thé do Diễn đàn Thị trường vốn ASEAN (ACME) thiết lập nhằm xây dựng hình ảnh và thương hiệu ASEAN như một tài sản đầu tư của thị trường vốn quốc tế.
Thẻ điểm được ky vọng sẽ nâng cao các chuẩn mực về Quản trị Công ty của các doanh nghiệp niêm yết trong khu vực ASEAN và giúp các nhà đầu tư có cái nhìn rõ hơn về các doanh nghiệp này. Với sự tin tưởng của các cơ quan quản lý, doanh nghiệp, nhà đầu tư, và các bên hữu quan vào tính thiết thực và hiệu quả của thẻ điểm trong việc nâng cao các chuẩn mực Quản trị Công ty thì các doanh nghiệp niêm yết có thể cải thiện thực tiễn Quản trị Công ty của minh [2]. Các quốc gia trong khu vực Asean gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thai Lan, cũng như Việt Nam có các tổ chức tham gia đánh giá xếp hạng va cùng nhau thực hiện báo cáo về tình hình thực thi Quản trị Công ty tại các doanh nghiệp niêm yết trong khu vực [2].2 Tinh hình thực hiện Quan tri Cong ty tại Việt Nam Theo báo cáo ACGS 2015 - 2016 [2]. trong năm đánh giá 2015, có tổng cộng 55 doanh 18 nghiệp được đánh gia tình hình Quan tri Công ty, tang 5 công ty so với năm đánh gia 2014 (tăng 10% số công ty), tăng 15 công ty so với năm đánh giá 2013 va tăng 16 công ty so với năm đánh giá 2012.
Số lượng công ty công bố các thông tin quan trọng dành cho các nhà đầu tư bằng tiếng Anh tăng qua các năm là một tín hiệu tốt và đáng khích lệ vÌ ngày càng có nhiều doanh nghiệp nhận thức được trách nhiệm của họ trong việc đảm bảo đối xử bình đăng giữa nhóm cổ đông trong nước và nhóm cổ đông nước ngoài. Trong suốt 4 năm đánh giá 2012-2015, có tổng cộng 30 công ty có mặt liên tục trong mẫu đánh giá của tất cả các năm. 25 22 m 2012 (39 PLCs) 19 20 + 18 2013 (40 PLCs) 17 SlCtưôốợnyg L: 16 m 2014 (50 PLCs) 15 + 13 14 m 2015 (55 PLCs) 12 12 11 10 + 7 6 of | 4 uw 3 3 2 2 2 [10; 20) [20; 30) [30; 40) [40; 50) [50; 60) [60; 70) Diém Quan tri Cong ty Hình 1. Điểm Quan trị Công ty qua các năm Hình 1 thé hiện điểm Quản trị công ty của các doanh nghiệp niêm yết được đánh giá trong suốt 4 năm thực hiện dự án.
Tất cả các lĩnh vực đều ghi nhận sự cải thiện trong năm đánh giá 2015 so với những năm trước. Tổng điểm trung bình của năm 2015 là 36. Sự cải thiện này rất đáng khích lệ, nhưng hiện vẫn cần nhiều nỗ lực hơn nữa để giúp nâng cao nhận thức của các Công ty niêm yết về tầm quan trọng của Quản trị công ty trong sự phát triển bền vững của doanh nghiệp [2]. Trong số 55 công ty được đưa vào đánh giá năm 2015, có 46 công ty đã được đánh giá năm 2014, và 30 công ty được đánh giá trong suốt 4 năm qua.
Khi so sánh điểm số của 19 30 công ty có mặt trong dự án đánh giá suốt 4 năm, có một sự tiễn bộ rõ rệt trong tong điểm dat được qua các năm. Cho thay rang, chat luong Quan tri Cong ty cua cac Doanh nghiệp niêm yết Việt Nam ghi nhận sự cải thiện qua từng năm, nhưng hiện van cần nhiều nỗ lực hơn nữa dé thu hẹp khoảng cách với mức yêu cầu chung của khu vực va nâng cao năng lực cạnh tranh thu hút vốn của quốc gia ở thị trường chung ASEAN [28]. Sự tiến bộ này là tín hiệu tốt cho thấy sự cải thiện và những nỗ lực không ngừng của doanh nghiệp trong việc thực thi Quản trị Công ty, bên cạnh những lưu ý quan trọng đối với từng lĩnh vực cụ thể [2]. Các doanh nghiệp thường dễ dàng đáp ứng các yêu câu cơ bản, tuy nhiên để đạt được những mức điểm cao hơn đỏi hỏi nhiều nỗ lực và sự cam kết từ phía doanh nghiệp.
Thẻ điểm Quản trị Công ty Khu vực ASEAN được xây dựng không chỉ để khuyến khích các doanh nghiệp tuân thủ những quy định tối thiểu ma còn nhắm đến mục tiêu tao dựng sự quan tâm that sự đối với lợi ích nhà dau tư trong thực tiễn Quan trị Công ty [2]. Thông qua kết quả đánh giá của dự án Thẻ điểm Quản trị Công ty khu vực ASEAN những năm vừa qua, các van dé liên quan đến cơ cấu va năng lực, trách nhiệm và tính cam kết của Hội đồng Quan tri cần nhận được su quan tâm hơn nữa từ các Doanh nghiệp niêm vết để nâng tầm năng lực quản tri và tạo được lợi thế cạnh tranh trên thị trường vốn ASEAN [28].3 QUAN TRI CONG TY VA NAM GIỮ TIEN MAT 2.4 Nghiên cứu ngoài nước Quản trị Công ty (Corporate Governance) là một trong những vẫn đề được nhiều giới đặc biệt quan tâm nghiên cứu trong khoảng thời gian gần đây. Van dé nay được đặc biệt coi trọng kế từ khi các nhà nghiên cứu chi ra rang Quản trị Công ty kém là một trong những nguyên nhân của những câu chuyện kinh doanh bê bối ở Hoa Kỳ, cuộc khủng hoảng tài chính ở Châu A năm 1997, sự sụp đồ của hàng loạt công ty niêm yết tại các nước phát triển, và gần đây nhất là cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2009. Nguồn gốc của Quản trị Công ty được cho rang phát sinh từ yêu cau phải tách biệt giữa quyền sở hữu và quyên điều hành doanh nghiệp.