CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÔNG TIN KẾ TOÁN VÀ VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN KẾ TOÁN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1. KẾ TOÁN VÀ THÔNG TIN KẾ TOÁN 1. Bản chất của kế toán Sự hình thành và phát triển của kế toán gắn liền với sự hình thành và phát triển của đời sống kinh tế, xã hội loài người từ thấp lên cao. Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế đều thống nhất rằng, kế toán thực sự xuất hiện và có dấu hiệu phát triển từ khi có sự hình thành chữ viết và số học sơ cấp, mà trước hết là sự phát minh ra hệ đếm thập phân và việc sử dụng rộng rãi chữ số đã tạo ra những tiền đề cần thiết cho sự ra đời của kế toán.
Thật vậy, nhiều thế kỉ trước đây, kế toán đã trở thành một môn khoa học độc lập và theo một số nhà nghiên cứu khảo cổ học thì người ta đã tìm ra những di tích bằng gốm hoặc sành trên đó có ghi khắc nhiều tài liệu chứng tỏ khoảng 2000 năm trước công nguyên, người dân Babylonnienne đã biết những khái niệm sơ khởi về kế toán như việc ghi chép và trao đổi hàng hóa, cho vay… hoặc ở Ai cập cổ đại người ta đã tìm thấy các loại giấy ghi chép sự tăng giảm tài sản - gọi là giấy papyrus, còn ở La mã cổ đại thì lại tìm thấy các bảng nhỏ bằng sáp dùng để ghi chép tính toán. Công việc ghi chép các sự kiện có liên quan đến các hoạt động kinh tế trong xã hội luôn là vấn đề thực tiễn được con người quan tâm hàng đầu. Tuy nhiên, công việc ghi chép cũng có tính chất vận động của nó, ở giai đoạn đầu việc ghi chép chỉ phản ánh, sao chép các sự kiện hiện thực trong đời sống kinh tế, từ khi con người phát minh ra chữ viết và số, cùng với sự ra đời của toán học dựa trên các chữ số và ký hiệu đã đem lại cho công việc ghi chép các sự kiện kinh tế giá trị thực sự của nó, làm cho kế toán và thông tin kinh tế 7 ngày càng có vị trí quan trọng và không thể thiếu trong quá trình hoạt động kinh tế của con người, nhất là vào giai đoạn hiện nay. Với mục đích đạt được hiệu quả cao trong các hoạt động kinh tế, thông tin kế toán phải được cung cấp kịp thời, chính xác và đáng tin cậy.
Trong bối cảnh kinh tế xã hội ngày nay, các hoạt động kinh tế rất đa dạng, có nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng dù ở trong lĩnh vực nào đi nữa thì thông tin kế toán luôn mang tính chất quan trọng và không thể thiếu được, qua đó cho phép chúng ta hiểu rõ về các hoạt động kinh tế mà mình đang thực hiện, cũng như hiệu quả của các hoạt động này là như thế nào. Kế toán chính là công cụ ghi chép các diễn biến trong hoạt động kinh tế dựa trên quan sát, đo lường, tính toán và ghi chép lại những sự việc trên. Theo Liên đoàn kế toán quốc tế: “Kế toán là nghệ thuật ghi chép, phân loại, tổng hợp theo cách riêng có bằng những khoản tiền các nghiệp vụ và các sự kiện mà chúng có ít nhất một phần tính chất tài chính và trình bày kết quả của nó”. Theo Hiệp hội nhà nghề Kế toán quốc tế: “Kế toán là nghệ thuật xử lý thông tin”.
Theo Luật kế toán Việt Nam: “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế - tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động”. Thông tin kế toán được cung cấp cho nhiều đối tượng khác nhau với các yêu cầu khác nhau nên chia thành: thông tin kế toán quản trị và thông tin kế toán tài chính. - Kế toán quản trị đưa ra các thông tin kinh tế tổng hợp đã được đo lường, xử lý và cung cấp cho nhà quản lý doanh nghiệp để điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Hay nói cách khác, thông tin kế toán quản trị mang tính chất định hướng tương lai, dự báo xu hướng biến động vì vậy thông tin đó giúp cho nhà quản lý đánh giá, cân nhắc, xây dựng các kế hoạch kinh 8 doanh ngắn hạn, trung hạn và dài hạn có hiệu quả kinh tế cao nhất như: Phải sản xuất những sản phẩm nào? Bán các sản phẩm đó bằng cách nào? Theo giá nào?.
- Kế toán tài chính cung cấp thông tin liên quan đến tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp cho nhà quản lý và những đối tượng bên ngoài doanh nghiệp giúp họ ra quyết định phù hợp với mục tiêu mà họ quan tâm. Thông tin kế toán tài chính là thông tin đã xảy ra trong quá khứ, phản ánh quá khứ nên có thể kiểm tra được, vì vậy đòi hỏi phải có độ tin cậy cao và chính xác. Sản phẩm của kế toán tài chính là BCTC, bao gồm: + Bảng cân đối kế toán: dùng để khái quát toàn bộ tài sản và nguồn hình thành tài sản tại một thời điểm nhất định, giúp cho người sử dụng thông tin thấy được toàn bộ giá trị tài sản hiện có, hình thái vật chất của tài sản, nguồn hình thành tài sản, đánh giá khái quát tình hình tài chính. + Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: phản ánh tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong một kỳ kế toán và tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước.
+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đánh giá khả năng tạo ra luồng tiền trong tương lai, khả năng thanh toán và khả năng đầu tư bằng tiền nhàn rỗi của doanh nghiệp. + Thuyết minh báo cáo tài chính: được sử dụng để giải thích và bổ sung thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các BCTC khác chưa trình bày rõ ràng, chi tiết và cụ thể được. Vai trò của thông tin kế toán Mỗi doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế mà lợi ích của doanh nghiệp đó có liên hệ đến nhiều đối tượng. Mỗi đối tượng có những nhu cầu thông tin riêng xuất phát từ những lợi ích riêng có của mình.
Có thể thấy vai trò của thông tin kế toán thể hiện qua hai nhóm đối tượng sau: - Đối với đối tượng bên trong doanh nghiệp: Do doanh nghiệp có tính tự chủ trong việc sử dụng các nguồn lực của mình nên nhà quản lý cần có thông tin để hoạch định, tổ chức và kiểm soát toàn bộ tài sản và hoạt động kinh doanh của mình. Vai trò của thông tin kế toán đối với nhà quản lý thể hiện trên các mặt: + Giúp nhà quản lý kiểm tra, kiểm soát toàn bộ tài sản hiện có, tình hình biến động và sử dụng tài sản trong hoạt động kinh doanh. + Giúp nhà quản lý kiểm tra, kiểm soát tình hình sử dụng các khoản vay nợ, tình hình huy động và sử dụng vốn chủ sở hữu, qua đó đánh giá tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với người cho vay, Nhà nước và các tổ chức khác. + Giúp nhà quản lý có thể xây dựng các kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn trong hoạt động đầu tư và huy động vốn.
+ Thông tin kế toán là cơ sở để các nhà quản lý ra các quyết định liên quan đến tài sản và nguồn vốn của mình. - Đối với các đối tượng ngoài doanh nghiệp: Nhu cầu thông tin kế toán của các đối tượng này thường khác nhau do sự khác biệt về lợi ích kinh tế: + Đối với Nhà nước: Nhà nước quản lý các tổ chức kinh tế trên cơ sở hệ thống pháp luật nên rất cần thông tin kế toán để kiểm tra, kiểm soát tình hình tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp, đánh giá tổng hợp thực trạng hoạt động của mỗi ngành, mỗi địa phương, mỗi khu vực kinh tế và toàn nền kinh tế, qua đó xây dựng chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp. 10 + Đối với ngân hàng và các tổ chức tài chính khác: Thông tin kế toán giúp đánh giá thực trạng tài chính, hiệu quả hoạt động cũng như khả năng thanh toán các khoản nợ vay của các tổ chức kinh tế. Qua đó, có thể đưa ra những quyết định tài trợ thích hợp đối với từng tổ chức kinh tế.
+ Đối với nhà đầu tư: Thông tin kế toán giúp nhà đầu tư đánh giá tình hình sử dụng và khả năng sinh lời từ vốn đầu tư của mình, kiểm soát các hoạt động của nhà quản lý nhằm bảo vệ tài sản, qua đó có những quyết định phù hợp nhằm tối đa hóa lợi ích của mình. + Đối với các nhà đầu tư tiềm tàng, nhà cung cấp, khách hàng và các cá nhân, tổ chức khác: Thông tin kế toán là cơ sở để các đối tượng trên có những quyết định nhằm bảo vệ quyền lợi kinh tế của mình hay phát triển các giao dịch kinh tế trong tương lai. Mặc dù vai trò của thông tin kế toán đối với mỗi đối tượng là khác nhau, nhưng thực chất thông tin kế toán thường liên quan đến các vấn đề về tình hình tài chính của doanh nghiệp. Vì thế, thông tin kế toán cung cấp cho các đối tượng này thường gọi là báo cáo tài chính theo những mục đích chung vì nó cung cấp những thông tin tổng quát cho việc sử dụng của nhiều đối tượng.
Những phân tích trên cho thấy thông tin kế toán có vai trò không chỉ trong quản lý nội bộ doanh nghiệp mà còn phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước, phục vụ cho các đối tượng bên ngoài trong việc ra quyết định có liên quan đến doanh nghiệp. Nó như một bộ phận gắn liền, không thể thiếu được trong hệ thống quản lý. Trong điều kiện kinh tế thị trường, nhận thức đúng đắn vai trò này là rất cần thiết để thiết kế hệ thống báo cáo kế toán và hệ thống CBTT kế toán ở mỗi doanh nghiệp vừa đảm bảo nhu cầu thông tin cho quản lý nội bộ, vừa đảm bảo nhu cầu thông tin cho các đối tượng bên ngoài. Yêu cầu của thông tin kế toán Trong giai đoạn hiện nay, khi mà toàn cầu hóa kinh tế phát huy tác dụng của nó thì thông tin kế toán ngày càng trở nên quan trọng.