chương 1 trình bày lý do chọn đề tài nghiên cứu của luận văn, giới thiệu tổng quan các vấn đề liên quan đến mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và bố cục của luận văn. Qua, đó thấy được ý nghĩa của đề tài và làm nền tảng cho các chương tiếp theo. 123doc 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2. Cơ sở lýthuyết về vốn luân chuyển vàkhả năng sinh lợi của doanh nghiệp 2.
Vốn luân chuyển Vốn luân chuyển là chênh lệch giữa tài sản lưu động và nợ ngắn hạn. Trong mỗi chu kỳ kinh doanh, vốn luân chuyển chuyển hóa qua tất cả các dạng – từ tiền mặt đến hàng tồn kho, khoản phải thu và quay trở về hình thái cơ bản ban đầu là tiền mặt. Vốn luân chuyển thường được kết hợp với việc ra quyết định tài chính ngắn hạn, có vai trò quan trọng trong việc tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp. Vốn luân chuyển với tên gọi khác là vốn luân chuyển ròng.
Vốn luân chuyển ròng = tài sản ngắn hạn – nợ ngắn hạn Tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn là các khoản mục trên bảng cân đối kế toán. Tài sản ngắn hạn là tài sản có thể tạo ra tiền mặt trong khoảng thời gian một năm, bao gồm các khoản: vốn bằng tiền, đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác. Nợ ngắn hạn là các khoản nợ còn phải trả có thời hạn thanh toán trong vòng một năm, bao gồm các khoản: nợ phải trả cho nhà cung cấp, vay ngắn hạn, ký quỹ, thuế và khoản phải trả cho người lao động. Đối với những công ty có tài sản ngắn hạn lớn hơn nợ ngắn hạn tức là vốn luân chuyển dương.
Công ty có thể sử dụng phần thặng dư từ tài sản ngắn hạn để thực hiện được cam kết về tài chính và nghĩa vụ đối với cổ đông. Phần chênh lệch dương này là một yếu tố quan trọng đến việc duy trì sự phát triển của công ty. Tuy nhiên, một công ty có lượng vốn luân chuyển cao cũng cần xem xét lại khi mà số vốn này nằm ở những tài sản ngắn hạn, số vốn này không thể giúp công ty gia tăng giátrị cũng như thực hiện những dự án mới tiềm năng để mang lại lợi nhuận cao hơn cho công ty. Đối với những công ty có tài sản ngắn hạn nhỏ hơn nợ ngắn hạn, lúc này vốn luân chuyển bị âm tức là công ty gặp trở ngại về khả năng thanh toán, không có đủ 123doc 6 vốn để thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn.
Đa số các công ty sẽ rơi vào tình trạng khó khăn khi vốn luân chuyển bị âm và đây là lúc mà những công ty buộc phải vay nợ hay bán tài sản để trang trải các khoản nợ ngắn hạn đến hạn thanh toán, dễ dẫn đến tình trạng phá sản nếu họ không tích cực quản lý vốn luân chuyển một cách hiệu quả. Thành phần quản trị vốn luân chuyển: gồm quản trị bốn thành phần nh làSố ngày khoản phải thu, số ngày luân chuyển hàng tồn kho, số ngày khoản chí phải trả và chu kỳ tiền mặt. - Chu kỳ tiền mặt: Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (hay còn gọi là chu kỳ tiền mặt - cash conversion cycle – CCC) là số ngày giữa chi tiêu tiền mặt của công ty để mua nguyên liệu thô dùng sản xuất hàng hóa (sản phẩm) để bán và thu tiền mặt từ việc bán thành phẩm (Sathyamoorthi và Wally-Dima, 2008). Quản lý tiền mặt hiệu quả của công ty có thể làm tăng giá trị hiện tại ròng của dòng tiền và cuối cùng là chu kỳ tiền mặt ngắn hơn có thể dẫn đến mức lợi nhuận cao hơn.
Nói cách khác, chu kỳ tiền mặt ngắn hơn tức là giảm ngày tồn kho, giảm ngày phải thu và giảm ngày phải trả. Chu kỳ tiền mặt gồm số ngày thu tiền khoản phải thu, số ngày luân chuyển hàng tồn kho và số ngày thanh toán khoản phải trả (Richards & Laughlin, 1980) Số ngày luân Số ngày Chu kỳ tiền Số ngày khoản = + chuyển hàng - khoản phải mặt phải thu tồn kho trả Gentry, Vaidyanathan và Lee (1990) đã phát triển một chu kỳ tiền mặt bổ sung thêm trọng số, trong đó chia tỷ lệ thời gian theo tổng số tiền từng giai đoạn trong chu kỳ tiền mặt. Tuy nhiên, trong khi thực hiện theo cách bổ sung thêm trọng số lại không tính toán được đầy đủ các thông tin cần thiết nên khó áp dụng cho chu kỳ tiền mặt. - Số ngày khoản phải thu: 123doc 7 Số ngày thu tiền khoản phải thu được tính từ khi sản phẩm hàng hóa của công ty được bán cho đến khi thu được tiền từ khách hàng.
Khi công ty áp dụng biện pháp thắt chặt tín dụng bằng cách thu hẹp số ngày thu tiền trung bình sẽ giúp công ty hạn chế rủi ro, thu được tiền nhanh chóng, cải thiện được tính thanh khoản. Nhưng nếu công ty thực hiện nới lỏng chính sách tín dụng tức kéo dài số ngày thu tiền thì sẽ làm cho doanh thu và khả năng sinh lời của công ty tăng, thu hút thêm lượng đông đảo khách hàng, có thêm nhiều đơn hàng mới, giúp công ty tiếp tục giữ mối quan hệ lâu dài với khách hàng. Bên cạnh đó, có khả năng xảy ra trường hợp không thu hồi được nợ, các khoản nợ xấu tăng lên, công ty gặp phải khó khăn về dòng tiền và khả năng thanh khoản làm tăng rủi ro trong kinh doanh. Theo lý thuyết quản trị dòng tiền, kỳ thu tiền của khách hàng càng ngắn, hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty sẽ tốt hơn (Churchill and Mullins, 2001; Farris and Hutchison, 2002, 2003; Stewart, 1995).
Do đó việc cần thiết đối với nhà quản trị doanh nghiệp là duy trì khoản phải thu ở mức tối ưu. - Số ngày tồn kho: Hàng tồn kho dùng để dự trữ các sản phẩm mà một công ty đang chào bán và gồm cả các thành phần khác nhau dùng để tạo nên các sản phẩm này. Theo chuẩn mực kế toán việt Nam, hàng tồn kho là những tài sản: (a) Được giữ để bán trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường; (b) Đang trong quá trình sản xuất, kinh doanh dở dang; (c) Nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ để sử dụng trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ. Do đó, hàng tồn kho bao gồm nguyên vật liệu, phụ tùng, hàng hóa đang trong quá trình sản xuất, hàng hóa thành phẩm.
Số ngày tồn kho là khoảng thời gian cần thiết để chuyển hóa nguyên vật liệu sang thành phẩm và bán những thành phẩm này. Hàng tồn kho thiết lập một mối liên kết giữa sản xuất và bán hàng. Mọi nhu cầu kinh doanh đều yêu cầu phải có một lượng hàng tồn kho dữ trữ nhất định để kịp thời cung cấp cho khách hàng. Tuy nhiên, hàng tồn kho là một tài sản nhàn rỗi và phát sinh các chi phí như chi phí bảo quản, chi phí lưu kho; Doanh nghiệp luôn 123doc 8 mong muốn đầu tư vào tài sản này ở mức tối thiểu có thể.
Hàng tồn kho chỉ cần có đủ số lượng khi có đơn hàng phát sinh, không cần nhiều hơn hoặc ít hơn. Hàng tồn kho dự trữ không đủ sẽ làm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị gián đoạn, trong khi hàng tồn kho dự trữ quá nhiều sẽ lại phát sinh thêm các chi phí cho việc bảo quản, lưu trữ dẫn đến giảm lợi nhuận. Mục tiêu chính của quản lý hàng tồn kho làtránh quá nhiều và quá ít để đáp ứng nhu cầu sản xuất và bán hàng không bị gián đoạn với chi phí nắm giữ tối thiểu và đáp ứng dịch vụ của khách hàng ngày càng tốt hơn (Ashok Kumar Panigrahi, 2013). - Số ngày khoản phải trả: Số ngày khoản phải trả (kỳ trả tiền) là khoảng thời gian từ khi mua nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ cho đến khi doanh nghiệp thanh toán cho nhà cung cấp.
Việc trì hoãn thanh toán cho các nhà cung cấp cho phép một công ty có thời gian đánh giá chất lượng của các sản phẩm đã mua, với chi phí không quá đắt và là nguồn tài chính linh hoạt cho công ty. Tuy nhiên, nếu các nhà cung cấp có chính sách giảm giá cho người mua hàng thực hiện thanh toán sớm thì công ty có thể phải chịu một khoản chi phí tốn kém hơn, vì vậy công ty nên cân nhắc thanh toán sớm các hóa đơn mua hàng để được hưởng các khoản chiết khấu trên số tiền thực tế phải trả nếu trả đúng hạn, dẫn đến tăng lợi nhuận. Trong một cuộc khảo sát năm 1996 về nh sách tín dụng thương mại ở châu Âu, Svensson (1997) cho thấy 75% các công chí ty tại Bỉ cung cấp chiết khấu thanh toán (trong vòng 10 ngày), vàchiết khấu trung bình được cung cấp là 3%. Trung bì nh thời hạn tín dụng hợp đồng là 41 ngày, nhưng thực tế trung bình hời hạn thanh toán là 61 ngày: 49% của tất cả tín dụng thương mại làthanh toán trễ hạn.
Một công ty được mở rộng chu kỳ thanh toán, công ty sẽ không nhận được khoản chiết khấu thanh toán sớm ảnh hưởng đến vị thế và uy tín của công ty (Fawcett và cộng sự, 2010). Theo Deloof (2003) cho rằng kỳ phải trả người bán càng ngắn thì hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty càng cao. Vì thế, công ty 123doc 9 phải lựa chọn các hình thức thanh toán thích hợp an toàn, hiệu quả, đạt được sự chí n của doanh nghiệp đối với khách hàng nh xác cao vànâng cao uy tí Hàng tồn kho Hàng tồn kho được mua được bán Thời gian Số ngày khoản tồn kho phải thu Thời gian Số ngày Vòng quay khoản phải trả tiền mặt Thanh toán tiền hàng tồn kho Thu tiền bán hàng Chu kỳ hoạt động kinh doanh nh 2.1: Đường biểu diễn thời gian của dòng tiền vàhoạt động kinh doanh Hì ngắn hạn của một doanh nghiệp (Nguồn: Tài chính doanh nghiệp, Vũ Việt Quảng, 2017, Trang 884) 2. Khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Khả năng sinh lợi hay tỷ suất lợi nhuận (profitability) là kết quả thu được khi so sánh giữa lợi nhuận và quy mô doanh nghiệp.