CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG Vốn lưu động được ví như là máu và trung tâm thần kinh của một doanh nghiệp. Sự lưu thông máu là rất cần thiết để duy trì cuộc sống con người, và vốn lưu động cũng vậy, nó giúp cho quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện một cách trôi chảy. Chính vì vậy, tầm quan trọng của vốn lưu động là không thể phủ nhận.
Thực trạng vốn lưu động của doanh nghiệp không chỉ là vấn đề của riêng doanh nghiệp mà còn có thể gây ảnh hưởng đến các nhà đầu tư (Moyer, McGuigan và Kretlow – 1995). Vốn lưu động có tác động đến khả năng sinh lời và rủi ro của doanh nghiệp, do đó cũng ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp (Smith – 1980). Một số khái niệm a. Vốn lưu động Theo Weston và Brigham (1997): “Vốn lưu động là những khoản đầu tư của doanh nghiệp vào tài sản ngắn hạn”.
Như vậy, vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản ngắn hạn mà doanh nghiệp đã đầu tư, bao gồm: tiền và những khoản tương đương tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho và những tài sản có khả năng chuyển đổi thanh tiền trong vòng một năm. Vốn lưu động của doanh nghiệp thường xuyên vận động, chuyển hoá lần lượt qua nhiều hình thái khác nhau. Bắt đầu là tiền tệ, sau đó chuyển sang hình thái vật tư dự trữ, sản phẩm dở dang, thành phẩm hàng hoá và cuối cùng quay trở về hình thái tiền tệ ban đầu của nó. Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục không ngừng nên quá trình vận động của vốn lưu động 9 cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính tuần hoàn tạo thành một chu kỳ gọi là chu kỳ chu chuyển của vốn lưu động.
Chu kỳ chu chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào công tác quản trị đối với từng thành phần trong vốn lưu động. Quản trị tốt vốn lưu động sẽ tác động tích cực đến khả năng sinh lời và tính thanh khoản của doanh nghiệp (Raheman và Nasr – 2007). Chu kỳ kinh doanh Vốn bằng tiền Mua nguyên vật liệu Thu tiền Sản xuất hàng hoá Nổ lực Hàng tồn kho Khoản phải thu bán hàng Nguồn: Chương 15 – Quản trị vốn lưu động, giáo trình Tài chính, Ronald W. Melicher và Edgar A.
Norton, trang 415 Hình 1. Sơ đồ chu kỳ kinh doanh Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp chính là khoảng thời gian kể từ khi doanh nghiệp mua nguyên vật liệu sử dụng cho quá trình sản xuất đến khi thu được tiền từ việc bán hàng. Nguyên vật liệu được mua để sản xuất và chế tạo ra thành phẩm, cuối cùng là cung ứng sản phẩm ra thị trường và thu tiền. Trong trường hợp hàng hoá được bán chịu nghĩa là sẽ phát sinh các khoản phải thu.
Độ dài của chu kỳ kinh doanh tuỳ thuộc vào từng nhóm ngành mà sẽ có sự khác nhau. Các doanh nghiệp nhóm ngành dịch vụ có chu kỳ kinh doanh tương tự như nhóm ngành sản xuất ngoại trừ không có giai đoạn sản xuất. Chu kỳ kinh doanh của cả ngành dịch vụ hay sản xuất đều sẽ ngắn hơn 10 nếu hàng hoá hoặc dịch vụ được cung ứng và thu tiền ngay. Hầu hết các doanh nghiệp đều muốn chu kỳ kinh doanh là một năm hoặc ngắn hơn.
Chu kỳ chuyển hoá tiền mặt Hoạt động của doanh nghiệp hầu hết đều phải bắt đầu bằng tiền và cũng kết thúc bằng tiền. Sự luân chuyển của tiền được phân tích thành các chu kỳ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành chu kỳ chuyển đổi tiền mặt. Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt nằm trong chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, là khoảng thời gian tính từ lúc doanh nghiệp thực sự trả tiền cho nhà cung cấp đến khi thực sự thu hồi được tiền của khách hàng, nghĩa là khoản thời gian sau khi đã trừ đi kỳ thanh toán từ chu kỳ kinh doanh. Nếu doanh nghiệp không trì hoãn thanh toán cho nhà cung cấp, tức là kỳ thanh toán bằng không thì chu kỳ chuyển đổi tiền mặt cũng chính bằng chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.
Mua nguyên vật liệu Bán sản Nhận tiền Chu kỳ chuyển hoá phẩm Chu kỳ thu hàng tồn kho tiền bình quân Thời gian Chu kỳ thanh toán Chu kỳ chuyển đổi bình quân tiền mặt Chu kỳ kinh doanh Nguồn: Chương 15 – Quản trị vốn lưu động, giáo trình Tài chính, Ronald W. Melicher và Edgar A. Norton, trang 415 Hình 1. Sơ đồ chu kỳ chuyển hoá tiền mặt của doanh nghiệp Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt dài nghĩa là doanh nghiệp phải tài trợ nhu cầu hoạt động kinh doanh trong thời gian dài, doanh nghiệp phải tăng nhu cầu tài chính trong ngắn hạn và các chi phí cần thiết.
Vì vậy, các nhà quản trị đều mong muốn giám sát chặt chẽ chu kỳ chuyển đổi tiền mặt của doanh nghiệp mình và có những phản ứng kịp thời khi chu kỳ này có xu hướng kéo dài. Chu 11 kỳ chuyển đổi tiền mặt chịu ảnh hưởng của: chu kỳ chuyển hoá hàng tồn kho, kỳ thu tiền bình quân và kỳ thanh toán bình quân. - Chu kỳ chuyển hoá hàng tồn kho: là thời gian bình quân cần thiết để chuyển hoá nguyên vật liệu thành sản phẩm cuối cùng và bán cho người tiêu dùng. Đây là thước đo thể hiện tính thanh khoản của hàng tồn kho.
Chỉ số này ở mức thấp nghĩa là doanh nghiệp hoạt động khá tốt và ngược lại. ( ) - Kỳ thu tiền bình quân: là khoản thời gian để chuyển khoản phải thu thành tiền mặt, nghĩa là thời gian cần thiết để thu tiền từ khách hàng kể từ thời điểm ghi hoá đơn. Chu kỳ này phụ thuộc chủ yếu vào chính sách bán chịu và việc tổ chức thanh toán của doanh nghiệp. Do vậy, nó thường được sử dụng để đánh giá tính hiệu quả của các khoản tín dụng và chính sách thu tiền của doanh nghiệp.
Chu kỳ này quá dài thì dễ dẫn đến tình trạng nợ khó đòi, gây nguy hiểm cho tính an toàn tài chính của doanh nghiệp. ( ) ( ) - Kỳ thanh toán bình quân: là độ dài thời gian từ khi mua nguyên vật liệu đến khi thanh toán cho nhà cung cấp. Chỉ số này thể hiện mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người bán, chu kỳ này dài nghĩa là doanh nghiệp có quan hệ tốt với nhà cung cấp và có khả năng kéo giãn thời gian phải trả tiền và ngược lại. Tuy nhiên chu kỳ này quá dài cũng là dấu hiệu của sự thiếu hụt vốn đầu tư dài hạn hoặc khả năng quản lý tài sản lưu động kém, làm gia tăng khoản phải trả cho nhà cung cấp, gia tăng hạn mức thấu chi tại ngân hàng.
Nguyên tắc chung là kỳ thanh toán bình quân phải ngắn hơn kỳ thu tiền bình quân. 12 ( ) Về nguyên tắc, cơ sở số liệu chuẩn để xác định kỳ thanh toán bình quân là tổng tiền hàng mua chịu trong kỳ mà không phải giá vốn hàng bán. Tuy nhiên số liệu về tổng tiền hàng mua chịu không có trên các báo cáo tài chính mà chỉ trong nội bộ doanh nghiệp mới xác định được, nên đối với các đối tượng bên ngoài có thể sử dụng số liệu giá vốn hàng bán trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Hoặc cũng có thể sử dụng giá trị hàng mua trong kỳ (giá vốn hàng bán + hàng tồn kho cuối kỳ - hàng tồn kho đầu kỳ).
Doanh nghiệp có thể rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt bằng cách rút ngắn chu kỳ chuyển hoá hàng tồn kho và chu kỳ thanh toán bình quân hoặc kéo dài chu kỳ thanh toán bình quân. Ở đây ta thấy có một kẽ hở giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra, chính kẽ hở này là nguyên nhân có thể khiến doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Như vậy, doanh nghiệp cần đảm bảo nhu cầu vốn tối ưu và phù hợp nhất để cân bằng tốt kẽ hở dòng vốn này. Đảm bảo được điều này chính là đảm bảo được khả năng thanh khoản, hạn chế rủi ro phá sản cho chính doanh nghiệp mình.
Vốn lưu động ròng Vốn lưu động ròng là thước đo tài chính đại diện cho tính thanh khoản trong ngắn hạn của doanh nghiệp. Đây là phần chênh lệch giữa tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn với nguồn vốn tạm thời. Có 2 phương pháp tính vốn lưu động ròng: Vốn lưu động ròng = Nguồn vốn thường xuyên – Tài sản dài hạn (1) Nguồn vốn thường xuyên là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng thường xuyên, lâu dài vào hoạt động kinh doanh, có thời gian sử dụng trên 13 một năm. Nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp tại một thời điểm bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và các khoản nợ vay trung và dài hạn.
Khoản nợ vay đến hạn trả không được xem là nguồn vốn thường xuyên. Vốn lưu động ròng = Tài sản ngắn hạn – Nguồn vốn tạm thời (2) Nguồn vốn tạm thời là nguồn vốn mà doanh nghiệp tạm thời sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong một khoản thời gian ngắn, thường là trong một năm hoặc trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn tạm thời bao gồm: - Các khoản phải trả tạm thời như nợ lương, nợ thuế, nợ bảo hiểm xã hội… Các khoản nợ này có đặc điểm là thường biến đổi theo quy mô hoạt động của doanh nghiệp và chi phí sử dụng vốn coi nhu không phát sinh. Nguồn tài trợ của các khoản nợ này có quy mô nhỏ và thời gian sử dụng ngắn, do vậy không đủ để tài trợ cho các nhu cầu lớn về vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Các khoản nợ và tín dụng thương mại do người bán chấp thuận. Khoản tài trợ này biến đổi cùng với quy mô hoạt động của doanh nghiệp nhưng có chi phí sử dụng vốn đi kèm, thời hạn sử dụng gắn liền với chính sách tín dụng từ nhà cung cấp. - Các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và nợ khác: nguồn vốn này luôn có chi phí sử dụng vốn đi kèm, thời hạn sử dụng gắn liền với hợp đồng tín dụng từ ngân hàng và đối tượng khác. Nguồn vốn này thường sử dụng để tài trợ nhu cầu về tài sản lưu động.
Nguyên tắc cơ bản của tài chính là tài sản nên được hình thành từ nguồn vốn có thời hạn tương ứng. Cách tài trợ này giúp doanh nghiệp có được sự ổn định, an toàn hơn về mặt tài chính.