ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là thảm thực vật của những loài thực vật trên bề mặt trái đất, giữ vai trò to lớn đối với đời sống con ngƣời: cung cấp gỗ, thực phẩm, dƣợc liệu, nguyên liệu, điều hòa khí hậu, tạo oxy, điều hòa nƣớc, bảo vệ môi trƣờng, là nơi cƣ trú của các loài động vật và lƣu trữ các nguồn gen quý hiếm. Chức năng của rừng chỉ đƣợc phát huy khi rừng có kết cấu và tổ thành hợp lí. Trong tổ thành rừng mƣa nhiệt đới, Phần lớn các loài trong họ là cây thân gỗ sống lâu năm, nhƣng có một số loài là cây bụi thân gỗ hay cây gỗ nhỏ và thảm thực vật sống dƣới tán rừng đóng một vai trò quan trọng trong hệ sinh thái rừng, trong đó có họ Tai voi (Gesneriaceae). Nhóm thực vật này có kiểu sắp xếp lá trên thân cây thƣờng là mọc đối hay chéo chữ thập, nhƣng ở một vài nhóm thì kiểu so le hay xoắn ốc cũng tồn tại.
Trong thảm thực vật rừng, họ Tai voi có kiểu sống đa dạng trong hệ thảm thực vật rừng và thực vật ngoại tầng, phát triển mạnh mẽ trong rừng mƣa ẩm nhiệt đới. Trong đời sống hàng ngày, các loài trong họ này chủ yếu đƣợc nghiên và phát triển trong y học, sử dụng làm thuốc và làm cảnh, ngoài ra một số loài cây bụi đƣợc sử dung làm củi… phục vụ đời sống con ngƣời. Má đào nhọn là một trong những loài thuộc họ tai voi, chúng là một loài đa tác dụng (làm thuốc, cây cảnh, một số nơi còn sử dụng lá làm thực phẩm). Nhìn chung tới nay, ngoài một số tài liệu tổng quan thì trong cả nƣớc thì ít có công trình nghiên cứu sâu về loài Má đào nhọn cho một khu vực nghiên cứu nhỏ.
Vƣờn Quốc gia Ba Vì đƣợc coi là một “phòng tiêu bản sống’’ với nhiều mẫu chuẩn của hệ thực vật Việt Nam. Do hệ thực vật Ba Vì phân bố theo độ cao nên khá phong phú và đa dạng, với nhiều trạng thái rừng khác nhau đây là điều kiện thuận lợi cho các loài này sinh sống và phát triển. Vì vậy việc nghiên cứu về loài góp phần bổ sung cơ sở dữ liệu về tính chất của lòai cho nền thực vật của Việt Nam nói chung và của Vƣờn Quốc gia Ba Vì nói riêng. Các nghiên cứu đã đƣợc tiến hành từ lâu nhƣng diễn biến theo thời gian, số liệu ngày càng đƣợc bổ sung nhƣng chƣa có một công trình nghiên cứu tổng 1 thể và thống nhất về các công trình trƣớc đó nên số liệu về đang dạng hệ thực vật.
Trên cơ sở và quan điểm đó, việc xây dựng một bộ số liệu cập nhật trên pham vi nhỏ sẽ làm cơ sở cho việc đánh giá, rà soát tình trạng loài Má đào nhọn (Aeschynanthus acuminatus Wall. Chính vì vậy em đã chọn đề tài: Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học và giải pháp bảo tồn loài Má đào nhọn (Aeschynanthus acuminatus Wall.) tại vƣờn Quốc Ba Vì. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lƣợc sử nghiên cứu cây thuốc trên thế giới.
Ngay từ thời cổ xƣa, trong quá trình săn bắt và hái lƣợm con ngƣời đã biết lựa chọn những cái gì để ăn đƣuc, nuôi sống họ thì dần dần đƣợc coi là nguồn lƣơng thực, thực phẩm, những cái gì có độc thì tránh, loại cây cỏ nào sử dụng thấy có lợi cho sức khỏe, khỏi đƣợc bệnh tật đƣợc tích lũy làm kinh nghiệm và đƣuọc coi là cậy thuốc. Sự nhận biết vốn là kiến thức của nhân loại về cây thuốc ngày càng trở nên phong phú cùng với quá trình phát triển và tiến hóa của nhân loại. Từ nhứng kinh nghiệm dân gian, các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu đã có nhiều công trình về các loài cây, về các sản phẩm chiết từ cây cỏ dùng để chữa bệnh và đã kết thành những cuốn sách có giá trị. Cùng với phƣơng thức chữa bệnh theo kinh nghiệm Y học của truyền, các nhà khoa học trên thế giới còn đi sâu tìm hiểu nghiên cứu cơ chế và các hợp chất hóa học trong cây có tác dụng trị bệnh.
Hầu hết, cây cỏ đều có tính kháng sinh, đó là một trong những các yếu tố miễn dịch tự nhiên. Theo báo cáo của tổ chức Y tế thế giới (WTO), ngày nay có khoảng 80% dân số các nƣớc đang phát triển với dân số khoảng 3,5 đến 4 tỉ ngƣời trên thế giới có nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu vào nền y học của truyền. Phần lớn trong số đó phụ thuộc vào nguồn dƣợc liệu hoặc chiết suất từ dƣợc liệu. Các hoạt động mƣa cầu sống của ngƣời dân ngày nay đã và đang gây sức ép lên sinh tồn của cá loài cây thuốc trên thế giới.
Nhiều loài cây thuốc quý hiếm bị khai thác bừa bãi nên đang đứng trƣớc nguy cơ tuyệt chủng, theo Raven (1987) và Ole Harmann (1988) trong vòng hơn 100 năm trở lại đây, có khoảng hơn 1000 loài thực vật bị tuyệt chủng, khoảng 60.000 loài bị gặp rủi ro hoặc sự sinh tồn bị đe dọa vào thế kỷ sau. Trong những loài thực vật bị đe dọa có một tỷ lệ không nhỏ loài thực có khả năng làm thuốc. 3 Trên thế giới có khoảng 1000 loài cây thuốc đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng. Trong đó có khaongr 120 loài ở Ấn Độ, 77 loài ở Trung Quốc, 75 loài ở Maroco, 61 loài ở Thái Lan, 35 ở Băng la đét,… Trƣớc tình hình suy thoái các nguồn gen động thực vật nói chung, trên thế giới đã quan tâm tới vấn đề ngăn chặn sự tuyệt chủng, bảo vệ các nguồn gen từ rất sớm.
Công ƣớc CITES (ngày 03 tháng 03 năm 1973 tại Washington) với mục tiêu về buôn bán Quốc tế các loài động thực vật hoang dã nguy cấp. Đây chính là công cụ hỗ trợ các quốc qia năn chặn buôn bán Quốc tế bất hợp pháp không bền vững động thực vật hoang dã, nâng cao nhận thức về bảo tồn loài. Tại hội nghị Quốc tế về bảo tồn quỹ gen cây thuốc họp từ 21-27 tháng 03 năm 1983 tại Chiềng Mai – Thái Lan, hàng loạt các công trình nghiên cứu về tính đa dạng và bảo tồn cây thuốc đã đƣợc đặt ra. Công ƣớc Quốc tế của hội nghị thƣợng đỉnh về môi trƣờng tại Rio de Janiero năm 1992 có các mục tiêu về bảo tồn đa dạng sinh học, chia sẻ công bằng lợi ích thu đƣợc từ việc sử dụng nguồn gen.
Công ƣớc nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn trong điều kiện tự nhiên với các hoạt động hỗ trợ cho bảo tồn các khu tự nhiên, giải quyết các nhu cầu xác định và giám sát các thành phần đa dạng sinh học. Công ƣớc là chìa khóa quan trọng để ngăn cản sự tuyệt chủng các loài động thực vật hoang dã nói chung và thảm thực vật làm thuốc nói riêng. Trên cơ sở công ƣớc, một số hoạt động bảo tồn tài nguyên cây thuốc trên thế giới đã đƣợc quan tâm khá nhiều nƣớc. Tại Sri Lanka là nƣớc có hoạt động bảo tồn tài nguyên cây thuốc rất mạnh mẽ.
Nƣớc này cso khoảng 400 khu bảo tồn về cây thuốc. Ở Ấn Độ quỹ khôi phục các nền y học đại phƣơng đã thiết lập một mạng mạng lƣới công tác giữa 30 trung tâm bảo tồn nguyên vị cây thuốc. Mạng lƣới phân phối cơ sở dữ liệu cây thuốc đã thu thập, bảo tồn, nhân giống và sử dụng hơn 8000 loài cây thuốc trong 48 cơ sở bảo tồn nguyên vị chuyển vị. Tại Trung Quốc có khoảng 700 khu bảo tồn thiên nhiên, 480 khu phong cảnh và 510 khu công viên đƣợc thành lập.
Một số khu địa lý đã đƣợc công bố là 4 các khu bảo vệ cho sựu sống của các loài cây có nguy cơ bị đe dọa, có 50 loài cây thuốc quý đƣợc thu thập va trồng tại các vƣờn cây thuốc. Vƣờn cây thuốc Bắc Kinh (Viện phát triển cây thuốc) có trồng 1300 loài cây thuốc, vƣờn thực vật Nam Ninh có trồng 800 loài cây thuốc. Tai các khu vực khác trên thế giới nhu Vƣờn thuốc Tokyo Nhật Bản (thành lập năm 1945) có trồng 1600 loài cây thuốc, Vƣờn dân tộc Mexico thàng lập 1979 với diện tích 4ha, vƣờn cây thuốc có ở các nới có truyên thống sử dụng cây thuốc nhu Liên Xô cũ, Bungari, Hungari, Sec, Ba Lan… Tổ chứ bảo tồn các Vƣờn thực vật Quốc tế (BGCI) đã phối hợp với IUCN và WWF xây dựng ‘‘Chiến lƣợc bảo tồn ở các vƣờn thực vật’’, tôt chức nãy đã ƣu tiên bảo tồn các loài thực vật tƣơng lai. Trên thế giới có khoảng 1500 vƣờn thực vật đã đƣợc xây dựng, trong đó 152 vƣờn của 23 quốc qia chuyên trồng cây thuốc hay trồng cây thuốc kết hợp với các cây kinh tế khác.
Với nền khoa học ngày càng phát triển, ngày càng nhiều loài thuốc đƣợc tìm ra và đƣợc sử dụng làm thuốc, ứng dụng trong y học và thực tiễn. Loài Má đào (Aeschynanthus acuminatu Wall.) nhọn là một trong số đó, là loài thuốc đƣợc đƣa vào sử dụng gần đây là một ví dụ điển hình với các công dụng nhƣ an thần, chữa viêm gan. Hiện nay, loài đã, đang đƣợc nghiên cứu và đƣa vào sử dụng tại Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan. Là loài đang đƣợc quan tâm phát triển tại các Quốc giai có loài phân bố.
Lƣợc sử nghiên cứu cây thuốc ở Việt Nam. Việt Nam đƣợc đánh giá là nƣớc đứng thứ 16 trên thế giới về sự phong phú và đa dạng tài nguyên sinh vật. Hiện nay ở Việt Nam đã biết 10386 loài thực vật bậc cao có mạch. Ƣớc tính con số này có thể lên tới 12000 loài, trong đó số loài lam thuốc chiếm khoảng 30%.
Cùng với sự phong phong phú và đang dạng về tài nguyên cây thuốc, Việt Nam còn là nƣớc có nền y học cổ truyền lâu đời với những kinh nghiệm quý báu về các bài thuốc dân gian áp dụng rất hiệu quả, lịch sử nghiên cứu về cây thuốc gắn liền với lịch sử phát triển y học cổ truyền Việt Nam. Sự phát triển của dân tộc Việt Nam trai qua hàng nghìn năm dựng nƣớc và giữ nƣớc, trong quá trình 5 đó các kinh nghiệm dân gian quý báu dần đƣợc đúc kết thành sách có giá trị và lƣu truyền rộng rãi trong dân tộc từ đời này sang đời khác. Sau cách mạng tháng 8, Y học cổ truyền đƣợc đặt dƣới sự lãnh đạo cảu Bộ y tế, cùng với Y học hiện đại chăm sóc cho ngƣời dân. Kế thừa và phát huy nền y học cổ truyền lâu đời của dân tộc, nhiều công trình nghiên cứu về cây thuốc và bài thuốc gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của các nahf khoa học nổi tiếng trong thời đại mới.