ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là di sản vô giá của loài ngƣời, là tài nguyên sống đặc biệt có tác dụng nhiều mặt. Rừng không những cung cấp các sản phẩm cho nền kinh tế quốc dân mà còn có tác dụng phòng hộ bảo vệ môi trƣờng sống, làm đẹp cảnh quan thiên nhiên. Hiện nay, trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng diện tích rừng đang bị thu hẹp dần do khai thác không hợp lý và nạn phá rừng bừa bãi. Rừng tự nhiên Việt Nam đã và đang bị tàn phá nặng nề, nhất là từ những năm 1980 cho đến nay.
Trong vòng hơn 50 năm qua chúng ta đã mất đi 5 triệu ha rừng (năm 1943 là 14,3 triệu ha nhƣng đến năm 1993 chỉ còn 9,5 triệu ha), tính trung bình mỗi năm mất 100 ngàn ha rừng. Những năm gần đây diện tích rừng có xu hƣớng tăng lên rõ rệt, tuy nhiên chất lƣợng rừng ngày càng giảm sút. Đối với rừng tự nhiên diện tích rừng giàu và trung bình chỉ còn 1.4 triệu ha (chiếm 13% so với diện tích có rừng), rừng gỗ tự nhiên chỉ còn lại rất ít, chủ yếu phân bố ở vùng sâu xa, vùng núi cao nơi có độ dốc lớn nên khả năng khai thác gỗ để phục vụ cho nhu cầu của xã hội bị hạn chế. Chính bởi tình trạng trên cũng đã ảnh hƣởng đến tác dụng bảo vệ của rừng tới môi trƣờng, hiện tƣợng biến đổi khí hậu cũng nhƣ thiên tai xảy ra bất ngờ và thƣờng xuyên không những đe dọa con ngƣời mà còn ảnh hƣởng đến diện tích rừng.
Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh đƣợc thành lập theo Quyết định số 1649/QĐ-UB, ngày 15/10/2001 của UBND tỉnh Hòa Bình. Khu bảo tồn ở cách thị trấn Đà Bắc khoảng 37 Km về phía Tây, cách thành phố Hòa Bình 50 km. Tổng diện tích tự nhiên là 5. Khu bảo tồn có tính đa dạng sinh học quan trọng nhờ có hệ sinh thái và thảm thực vật rừng kín lá rộng thƣờng xanh nhiệt đới và á nhiệt đới núi thấp, đặc trƣng cho khu vực Tây Bắc Việt Nam.
Ngoài ra, Khu bảo tồn còn có vị trí vô cùng quan trọng đối với phòng hộ đầu nguồn, cung 1 cấp nƣớc cho hồ Sông Đà, bảo vệ môi trƣờng và điều tiết khí hậu cho khu vực; bảo vệ tính đa dạng sinh học có tầm quan trọng cấp quốc gia. Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh đƣợc coi là Khu bảo tồn với hệ sinh thái và số lƣợng hệ động thực vật phong phú với các loài có giá trị cao. Khu bảo tồn cũng đã có nhiều nỗ lực trong công tác bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh vật nhƣ: điều tra lập danh lục các loài động, thực vật, côn trùng, bò sát, lƣỡng cƣ,. Hiện nay, trong Khu bảo tồn có một số loài lâm sản gỗ có giá trị kinh tế cao và đang bị khai thác quá mức, cần đƣợc bảo tồn, trong đó có loài Lát hoa.
Lát hoa (Chukrasia tabularis A.), đƣợc biết đến là một loài gỗ quý, có vân vòng năm rất đẹp (nhất là gốc và rễ), màu đỏ sáng, cứng trung bình, ít co giãn, không mối mọt, rất đƣợc ƣa chuộng trong kiến trúc và đóng đồ dùng gia đình nhƣ giƣờng, tủ, bàn ghế, đồ mỹ nghệ xuất khẩu. Do Lát hoa cho gỗ tốt và giá trị kinh tế cao nên hiện nay loài Lát hoa đang bị khai thác cạn kiệt, đã đƣợc cảnh báo trong sách đỏ Việt Nam 2007 (phần thực vật) ở cấp VU. Tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, số lƣợng cá thể loài Lát hoa trong tự nhiên còn rất ít, và theo thông tin cán bộ kỹ thuật Khu bảo tồn cung cấp, hiện nay chƣa có những nghiên cứu để bảo tồn và phát triển loài cây này tại đây. Do vậy, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm phân bố của loài Lát hoa (Chukrasia tabularis A.) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh huyện Đà Bắc- tỉnh Hòa Bình”, với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình cho công tác bảo tồn loài thực vật quý hiếm Lát hoa của Việt Nam.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Các nhà lâm sinh quan niệm rằng, cấu trúc rừng (forest structure) là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc tính sinh thái học khác nhau có thể chung sống hài hòa và đạt tới sự ổn định tƣơng đối trong một giai đoạn nhất định của tự nhiên. Cũng theo quan điểm này, Phùng Ngọc Lan (1986) cho rằng: cấu trúc rừng là một khái niệm dùng để chỉ quy luật sắp xếp tổ hợp các thành phần cấu tạo nên quần thể thực vật rừng theo không gian và thời gian. Còn trên quan điểm sản lƣợng, Husch,B.(1982), cấu trúc là sự phân bố kích thƣớc của loài và cá thể trên diện tích rừng. Nhƣ vậy, có thể thấy cấu trúc lớp thảm thực vật là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên, là sản phẩm của quá trình đấu tranh sinh tồn giữa thực vật với thực vật, giữa thực vật và môi trƣờng sống.
Trên quan điểm sinh thái thì cấu trúc là hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh thái. Trên quan điểm sản lƣợng thì cấu trúc rừng phản ánh sức sản xuất của rừng theo điều kiện lập địa. Cấu trúc quần xã thực vật rừng bao gồm cấu trúc tổ thành, cấu trúc tầng thứ, cấu trúc tuổi, cấu trúc mật độ, cấu trúc theo mặt phẳng nằm ngang…. Nhìn chung, nghiên cứu cấu trúc đã chuyển từ mô tả định tính sang phân tích đinh lƣợng dƣới dạng mô hình hóa toán học nhằm khái quát hóa các quy luật của tự nhiên.
Trong đó, các quy luật phân bố, tƣơng quan của một số nhân tố điều tra đƣợc quan tâm nghiên cứu. Thế giới Những nghiên cứu về phân bố của cây rừng + Khái niệm khu phân bố Khu phân bố của mỗi taxon thực vật là khu vực sống của taxon đó trên mặt đất. Phạm vi cƣ trú của các cá thể trong một loài là khu phân bố của loài thực vật đó. 3 Khu phân bố của một loài cây đƣợc hình thành nhờ khả năng sinh trƣởng phát triển và khả năng thích ứng lâu dài của loài với hoàn cảnh sống.
Nhiệt độ, lƣợng mƣa là 2 nhân tố chủ yếu quyết định sự phân bố của chúng. Lịch sử phát triển tự nhiên đƣợc hình thành qua quá trình tiến hóa và chọn lọc tự nhiên, không có sự tác động của con ngƣời. Khu phân bố đặc hữu là khu phân bố hẹp của một taxon nào đó, chỉ tồn tại ở một nơi nhất định. Khu phân bố tàn di là khu phân bố của một taxon thực vật cổ xƣa còn sót lại đã và đang suy giảm không thích ứng kịp với điều kiện sống mới.
+ Các dạng khu phân bố Trong tự nhiên, dựa vào hình thái và cấu trúc của khu phân bố ngƣời ta chia ra các dạng khu phân bố sau: - Khu phân bố liên tục: Các cá thể hay thành viên của taxon phan bố liền thành một dải. - Khu phân bố phân tán: Các cá thể hay thành viên của taxon phân bố thành nhiều khu vực nhỏ và cách xa nhau. - Khu phân bố thẳng đứng: Ở vùng núi cao thực vật phân bố từ thấp lên một đọ cao nhất định so với độ cao mặt biển hình thành khu phân bố thẳng đứng. - Khu phân bố ngang: Thực vật từ trung tâm phát ra xung quanh hình thành khu phân bố ngang.
Cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng + Cấu trúc rừng: Là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật trong hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có thể cùng sinh sống hòa thuận trong một khoảng không gian nhất định trong một giai đoạn phát triển của rừng, Cáu trúc rừng vừa là kết quả vừa là sự thể hiện các mối quan hệ đấu tranh sinh tồn và thích ứng lẫn nhau giữa các thành phần trong 4 hệ sinh thái với nhau và với môi trƣờng sinh thái. Cấu trúc rừng bao gồm cấu trúc sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc tuổi. Quy luật về cấu trúc rừng là cơ sở quan trọng để nghiên cứu sinh thái học, sinh thái rừng và đặc biệt là để xây dựng những mô hình lâm sinh cho hiệu quả sản xuất cao. Trong nghiên cứu cấu trúc rừng ngƣời ta chia ra làm 3 dạng cấu trúc là: cấu trúc sinh thái, cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian.
Cấu trúc của thảm thực vật là kết quả của quá trình đấu tranh sinh tồn giữa thực vật với thực vật và giữa thực vật với hoàn cảnh sống. Trên quan điểm sinh thái thì cấu trúc rừng chính là hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh thái rừng, thực tế cấu trúc rừng nó có tính quy luật và theo trật tự của quần xã. Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mƣa nhiệt đới đã đƣợc P.Odum (1971)… tiến hành. Những nghiên cứu này đã nêu lên quan điểm, các khái niệm và mô tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng.
Từ đó tác giả đƣa ra các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh cải thiện rừng. Khái niệm sinh thái đƣợc làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học. Công trình nghiên cứu của R.Plaudy (1987) đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến. Mô tả về hình thái cấu trúc rừng Hiện tƣợng thành tầng là sự sắp xếp không gian phân bố của các thành phần sinh vật rừng trên cả mặt bằng và theo chiều thẳng đứng.
Phƣơng pháp vẽ biểu đồ mặt cắt đứng của rừng do P.Richards (1952) đề xƣớng và sử dụng lần đầu tiên ở Guam đến nay vẫn là phƣơng pháp có hiệu quả để nghiên cứu cấu trúc tầng thứ của rừng. Tuy nhiên phƣơng pháp này có nhƣợc điểm là chỉ minh họa 5 đƣợc cách sắp xếp theo chiều thẳng đứng của các loài cây gỗ trong diện tích có hạn. Cusen (1953) đã khắc phục bằng cách vẽ một số giải kề bên nhau và đƣa lại một hình tƣợng về không gian ba chiều.Richards (1959, 1968, 1970) đã phân biệt tổ thành rừng mƣa nhiệt đới làm hai loại là rừng mƣa hỗn hợp và rừng mƣa đơn ƣu có tổ thành loài cây đơn giản. Cũng theo tác giả thì rừng mƣa thƣờng có nhiều tầng (thƣờng có 3 tầng, trừ tầng cây bụi và tầng cây cỏ).