Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân mất răng hàm trên phía sau bằng phương pháp nâng xoang hở, ghép xương và cấy ghép implant một thì tại Bệnh viện Mắt - Răng Hàm Mặt Cần Thơ năm 2017-2018" do học viên Bùi Cúc thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Nguyên Lâm, thuộc chuyên ngành Răng Hàm Mặt (Mã số: 62.CK) tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tình trạng mất răng vùng hàm trên phía sau (vùng răng cối nhỏ và răng cối lớn) gây ra hiện tượng tiêu mào xương ổ răng theo cả chiều cao lẫn chiều rộng. Quá trình này thường diễn tiến trầm trọng hơn do các yếu tố bệnh lý nha chu hoặc chấn thương trước đó. Đồng thời, sự mở rộng và dãn xuống dưới của sàn xoang hàm trên sau khi mất răng làm suy giảm đáng kể thể tích xương lưu giữ, khiến chiều cao xương ổ răng còn lại không đủ điều kiện giải phẫu để đặt implant tiêu chuẩn.

Để giải quyết tình trạng thiếu hụt thể tích xương và nâng đỡ implant phục hình, kỹ thuật nâng xoang ghép xương được chỉ định nhằm gia tăng kích thước xương theo chiều đứng. Mặc dù xương tự thân từng được xem là tiêu chuẩn vàng nhờ hội tụ đủ ba đặc tính sinh xương, dẫn tạo xương và kích tạo xương, kỹ thuật thu hoạch xương tự thân làm phát sinh thêm vị trí phẫu thuật thứ hai, tăng mức độ xâm lấn và nguy cơ biến chứng cho người bệnh. Việc ứng dụng các vật liệu thay thế như xương đồng loại đông khô (Freeze Dried Bone - FDB), kết hợp kỹ thuật mở cửa sổ bên (nâng xoang hở) và cấy ghép implant một thì (đặt implant đồng thời trong cùng một buổi phẫu thuật) đòi hỏi phải có những đánh giá lâm sàng và cận lâm sàng có hệ thống nhằm kiểm chứng độ vững ổn sơ khởi, quá trình tích hợp xương và kết quả phục hình sau cùng.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng tình trạng mất răng hàm trên phía sau được điều trị bằng phương pháp nâng xoang hở, ghép xương và cấy ghép implant một thì tại Bệnh viện Mắt – Răng Hàm Mặt Cần Thơ năm 2017 – 2018.
  2. Đánh giá kết quả điều trị mất răng hàm trên phía sau bằng phương pháp nâng xoang hở, ghép xương và cấy ghép implant một thì tại Bệnh viện Mắt - Răng Hàm Mặt Cần Thơ năm 2017 – 2018.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: 45 bệnh nhân mất răng sau hàm trên thỏa mãn các tiêu chuẩn chọn mẫu, được can thiệp điều trị với tổng cộng 61 xoang hàm được nâng xoang hở, ghép xương FDB và cấy ghép 104 trụ implant một thì.
  • Không gian nghiên cứu: Khoa Răng Hàm Mặt, Bệnh viện Mắt – Răng Hàm Mặt Cần Thơ.
  • Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 04/2017 đến tháng 06/2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Lịch sử và các nghiên cứu quốc tế

Phẫu thuật nâng xoang hàm được Oscar Hilt Tatum thực hiện lần đầu tiên vào năm 1974 và trải qua quá trình cải tiến liên tục về kỹ thuật mở xương cũng như vật liệu ghép. Các nghiên cứu quốc tế tiêu biểu được luận án điểm lại bao gồm:

  • Arun K. Garg (2005): Đánh giá hiệu quả của xương đông khô so với xương đông khô khử khoáng trong nâng xoang hàm với kích thước hạt từ 200 đến 1.000 $\mu$m.
  • Langer (1989 – 2004): Báo cáo kết quả theo dõi 15 năm trên 2.402 trụ implant được cấy ghép kết hợp nâng xoang, khẳng định vật liệu ghép đồng loại mang lại tỷ lệ thành công ổn định và có thể thay thế xương tự thân khi thời gian lành thương kéo dài đủ lâu.
  • Dong Seok Sohn và cộng sự (2009): Nghiên cứu nâng xoang hàm trên 5 bệnh nhân bằng khung xương khử khoáng, đánh giá mô học sau 6 tháng ghi nhận tỷ lệ thể tích sống đạt $25,2 \pm 11,9%$ và tỷ lệ xương sống đạt $37,8 \pm 20,9%$, tích hợp xương thuận lợi và không xuất hiện phản ứng viêm nhiễm.
  • Rainer Lutz (2014): So sánh kết quả nâng xoang ghép xương tự thân (tỷ lệ thành công sau 5 năm là 97,1%) với xương dị loại từ bò (tỷ lệ thành công 94,9%), cho thấy sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.
  • Torella: Đề xuất ứng dụng dụng cụ phẫu thuật siêu âm (Piezotome) để mở cửa sổ xương xoang hàm nhằm hạn chế rách màng Schneiderian và bảo tồn cấu trúc xương tốt hơn so với mũi khoan truyền thống.

Các nghiên cứu tại Việt Nam

  • Nguyễn Đình Phúc và Mai Đình Hưng (2010): Ghép xương đồng loại đông khô khử khoáng trong điều trị khuyết hổng hàm mặt với tỷ lệ thành công đạt 80,65%.
  • Đoàn Thanh Giang (2010): Đánh giá implant nha khoa trong phục hình răng cố định, ghi nhận tỷ lệ thành công đạt 98,5%.
  • Trịnh Hồng Mỹ (2012): Đánh giá cấy ghép implant có ghép xương với tỷ lệ thành công sau 36 tháng đạt 93,2%.
  • Võ Chí Hùng và Cao Thị Thu Trang (2012): Khảo sát mô học vùng quanh implant có ghép vật liệu 4-Bone trên mô hình thực nghiệm thỏ, ghi nhận xương tân tạo trưởng thành ở thời điểm 3 tháng.
  • Trần Xuân Thắng (2014): Nghiên cứu nâng xoang sử dụng xương khử khoáng kết hợp đặt implant đồng thời, đạt tỷ lệ thành công 92,2% và tỷ lệ thủng màng xoang là 2,5%.
  • Nguyễn Đức Minh (2015): Đánh giá độ vững ổn implant sau 3 tháng đạt 96,6% kết quả tốt trên lâm sàng với chỉ số ISQ trung bình là 71,4.
  • Trương Uyên Cường (2017): Khảo sát implant có ghép xương đồng loại với tỷ lệ thành công 97,8% và tỷ lệ implant đạt chỉ số ISQ > 70 là 97,6%.

Vị trí và khoảng trống nghiên cứu của luận án

Luận án tập trung giải quyết khoảng trống thực tiễn tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long: áp dụng đồng bộ quy trình mở cửa sổ bên bằng máy siêu âm Piezotome, sử dụng vật liệu ghép là 100% xương đông khô từ mô người (FDB), kết hợp đặt implant AnyRidge một thì và ứng dụng kỹ thuật phân tích tần số cộng hưởng (RFA) để lượng hóa độ vững ổn sơ khởi và thứ cấp (chỉ số ISQ) qua các mốc thời gian từ khi cấy ghép, sau 6 tháng đến sau phục hình 3 tháng.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và sinh học

  • Đặc điểm giải phẫu xương hàm trên và xoang hàm: Xương hàm trên gồm thân xương (mặt ổ mắt, mặt trước, mặt thái dương, mặt mũi) và 4 mỏm (mỏm trán, mỏm khẩu cái, mỏm huyệt răng, mỏm gò má). Xoang hàm trên có thể tích trung bình ở người trưởng thành từ 12 – 15 $\text{cm}^3$ (dao động 3,5 – 35,2 $\text{cm}^3$). Niêm mạc lót bên trong là màng Schneiderian (biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển) có độ dày từ 0,13 – 0,5 mm. Cấp máu xoang hàm bao gồm động mạch trong ổ mắt, động mạch mũi bên sau và động mạch ổ răng sau trên (nhánh trong xương cách sàn xoang trung bình 19 mm).
  • Cơ chế lành thương xương ghép: Diễn ra qua 3 cơ chế (tạo xương trực tiếp, dẫn tạo xương, kích tạo xương) và trải qua 3 giai đoạn:
    1. Phản ứng viêm sớm (3 tuần đầu): Hình thành cục máu đông, mạng lưới fibrin bao bọc mảnh ghép, đại thực bào di chuyển đến giải phóng yếu tố tăng trưởng, tăng sinh mao mạch sau 17 – 21 ngày.
    2. Pha sửa chữa (tuần thứ 3 đến tuần thứ 6): Tăng sinh tế bào xương nguyên thủy, tiết chất dạng xương liên kết mảnh ghép với xương chủ.
    3. Pha tái cấu trúc xương (từ tuần thứ 6 trở đi): Hủy cốt bào tiêu hủy chất dạng xương, kích thích tế bào gốc trung mô biệt hóa thành tạo cốt bào, hình thành cấu trúc xương phiến và hệ thống Havers trưởng thành.
  • Tiến trình tích hợp xương của implant:
    1. Tuần thứ nhất: Hình thành cục máu đông tại giao diện implant - xương, giải phóng PDGF và TGF-$\beta$.
    2. Tuần thứ hai: Tăng sinh mạch máu và tế bào trung mô chưa biệt hóa.
    3. Tuần 4 – 12: Lắng đọng và hình thành xương bè mới lấp đầy khoảng trống lành thương.
    4. Từ tháng thứ 4 trở đi: Hình thành các ống xương sơ cấp và thứ cấp, hoàn thiện tích hợp xương cứng chịu tải.

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp can thiệp lâm sàng tiến cứu không đối chứng.
  • Tiêu chuẩn chọn mẫu: Bệnh nhân $\ge 18$ tuổi có mất răng sau hàm trên (từ răng cối nhỏ đến răng cối lớn), xoang hàm không có bệnh lý, chiều cao xương ổ răng còn lại từ 3 mm đến 6 mm, chiều rộng xương ổ răng $> 5\text{ mm}$, khoảng phục hình $< 15\text{ mm}$ xác định trên lâm sàng và phim CT Cone Beam.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Mắc bệnh toàn thân chống chỉ định phẫu thuật miệng, hút thuốc lá $\ge 20\text{ điếu/ngày}$, nghiện rượu bia, có tiền sử xạ trị vùng đầu mặt cổ, vệ sinh răng miệng kém hoặc không hợp tác.
  • Cỡ mẫu và chọn mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ: $$n = Z_{1-\alpha/2}^2 \frac{P(1-P)}{d^2}$$ Với mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$ ($Z_{1-\alpha/2} = 1,96$), tỷ lệ kết quả tốt tham chiếu từ nghiên cứu của Nguyễn Đức Minh (2015) là $P = 0,97$, khoảng sai lệch $d = 0,05$, tính được cỡ mẫu lý thuyết tối thiểu là $n = 45$. Mẫu thực tế thu thập theo phương pháp thuận tiện gồm 45 bệnh nhân (61 xoang hàm, 104 trụ implant).

Trang thiết bị, vật liệu và công cụ đo lường

  • Vật liệu: Xương đông khô 100% từ mô người (FDB), màng collagen tự tiêu, implant AnyRidge (Megagen) có ren tự cắt và thiết kế thuôn.
  • Trang thiết bị: Máy phẫu thuật siêu âm Piezotome mở cửa sổ xoang, máy Osstell đo tần số cộng hưởng từ (RFA) thông qua SmartPeg ghi nhận chỉ số ISQ theo hai hướng ngoài - trong (N - T) và gần - xa (G - X), hệ thống chụp cắt lớp vi tính chùm tia hình nón CT Cone Beam.

Quy trình kỹ thuật can thiệp

  1. Bước 1 & 2 (Khám, chẩn đoán, cận lâm sàng): Khám tổng quát, đo điện tâm đồ, xét nghiệm máu, chụp CT Cone Beam đánh giá chiều cao, chiều rộng xương ổ răng, mật độ xương (HU) và hình thái giải phẫu sàn xoang.
  2. Bước 3 (Lập kế hoạch điều trị): Thiết kế vị trí, kích thước implant và chế tạo máng hướng dẫn phẫu thuật bằng nhựa trong định vị lỗ khoan 3 mm.
  3. Bước 4 (Phẫu thuật nâng xoang hở và đặt implant): Vô cảm bằng gây tê tại chỗ (Lidocaine chứa chất co mạch 1:100.000). Rạch vạt toàn phần bộc lộ thành ngoài xoang. Dùng máy Piezotome mở cửa sổ xương kích thước $8 - 10\text{ mm} \times 15\text{ mm}$ cách sàn xoang 2 – 5 mm. Tách và nâng màng Schneiderian lên tối thiểu 8 – 11 mm. Đưa xương FDB vào đáy xoang, khoan tạo xoang đặt implant AnyRidge, đo độ ổn định sơ khởi ISQ. Đặt màng collagen che phủ cửa sổ xương và khâu đóng vạt kín bằng chỉ Vicryl 3.0.
  4. Bước 5 (Phục hình sau 6 tháng): Kiểm tra chỉ số ISQ sau 6 tháng (chỉ định phục hình khi ISQ $> 60$), bộc lộ implant bằng dụng cụ cắt mô mềm (Tissue Punch) hoặc lật vạt nhỏ, lắp trụ lành thương (healing abutment), lấy dấu silicone một thì, đúc phục hình mão sứ và gắn phục hình bằng xi măng nha khoa. Đánh giá lại sau phục hình 3 tháng.

Tiêu chuẩn phân loại và đánh giá

Bảng 2.1: Tương quan giữa mật độ xương và chỉ số Hounsfield Units (HU) trên CT Cone Beam

Mật độ xương Chỉ số Hounsfield Units (HU)
D1 $> 1250$
D2 $850 \sim 1250$
D3 $350 \sim 850$
D4 $150 \sim 350$
D5 $< 150$

Bảng 2.2: Tiêu chí đánh giá kết quả sau 06 tháng phẫu thuật

Tiêu chuẩn Kết quả Tốt Kết quả Khá Kết quả Kém
Lâm sàng - Bệnh nhân không đau
- Nướu quanh implant không viêm
- Implant không lung lay
- Bệnh nhân không đau
- Nướu quanh implant viêm nhẹ
- Implant không lung lay
- Bệnh nhân có đau nhẹ
- Nướu quanh implant viêm nặng
- Implant lung lay
Cận lâm sàng - $\text{ISQ} > 70$
- Không có tiêu xương trên phim CTCB
- $\text{ISQ từ } 60 - 70$
- Tiêu xương vùng cổ $< 1\text{ mm}$ trên CTCB
- $\text{ISQ} < 60$
- Tiêu xương vùng cổ $\ge 1\text{ mm}$ trên CTCB

Quy tắc xếp loại chung sau 6 tháng:

  • Tốt: Đạt tiêu chuẩn tốt ở cả lâm sàng và cận lâm sàng.
  • Khá: Có ít nhất 1 tiêu chuẩn khá, không có tiêu chuẩn kém.
  • Kém: Có ít nhất 1 tiêu chuẩn kém.

Bảng 2.3: Tiêu chí đánh giá kết quả sau phục hình 03 tháng

Tiêu chuẩn Kết quả Tốt Kết quả Khá Kết quả Kém
Chức năng - Ăn nhai bình thường, khớp cắn thuận lợi
- Không đau
- Ăn nhai tốt, khớp cắn tối ưu
- Không đau hoặc đau nhẹ khi ăn nhai
- Khó ăn nhai
- Bệnh nhân đau nhiều khi ăn nhai hoặc đau tự phát
Thực thể - Nướu không viêm
- Phục hình nguyên vẹn
- Nướu viêm nhẹ, không mủ
- Vỡ sứ không ảnh hưởng chức năng
- Viêm nướu nặng, có mủ
- Vỡ sứ ảnh hưởng chức năng
  • Xử lý số liệu và y đức: Số liệu được mã hóa, nhập liệu 2 lần độc lập và phân tích bằng phần mềm SPSS 23.0. Sử dụng các thuật toán thống kê mô tả, kiểm định Wilcoxon, kiểm định Chi bình phương ($\chi^2$) và kiểm định chính xác Fisher với ngưỡng ý nghĩa thống kê $p \le 0,05$. Đề tài được Hội đồng nghiên cứu khoa học Trường Đại học Y Dược Cần Thơ thông qua về mặt đạo đức y sinh học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa các kiến thức giải phẫu học của thân xương hàm trên và xoang hàm trên, tập trung vào cấu trúc màng Schneiderian, các vách ngăn xương trong lòng xoang (thường gặp ở vùng răng cối lớn thứ nhất và răng cối nhỏ) và hệ thống mạch máu cấp máu từ động mạch hàm trên. Phân tích cơ chế tác động sinh học của vật liệu xương đông khô FDB $100%$ nguồn gốc từ người với khả năng phóng thích các protein tạo dạng xương (BMP), thúc đẩy sự di cư tế bào theo 3 pha lành thương xương ghép (viêm sớm, sửa chữa, tái cấu trúc phiến xương Havers). Đồng thời, chương 1 phân tích tiến trình tích hợp xương quanh trụ implant nha khoa qua 4 giai đoạn sinh học, nguyên lý đo tần số cộng hưởng RFA bằng máy Osstell để thu được chỉ số ISQ (dải tham chiếu lâm sàng 55 – 80), so sánh ưu nhược điểm giữa kỹ thuật nâng xoang hở (mở cửa sổ thành ngoài) và nâng xoang kín (qua đỉnh sống hàm), các chỉ định, chống chỉ định và tai biến thường gặp như rách màng xoang, chảy máu hoặc lạc implant vào xoang.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp can thiệp tiến cứu trên 45 bệnh nhân (61 xoang hàm, 104 implant). Thiết lập rõ ràng các tiêu chuẩn lựa chọn (chiều cao xương ổ răng từ 3 – 6 mm, chiều rộng $> 5\text{ mm}$, khoảng phục hình $< 15\text{ mm}$) và loại trừ. Mô tả quy trình phẫu thuật chuẩn hóa 5 bước bao gồm: thiết kế máng hướng dẫn định vị lỗ khoan 3 mm; mở cửa sổ xương bên kích thước $8 - 10\text{ mm} \times 15\text{ mm}$ bằng máy phẫu thuật siêu âm Piezotome; bóc tách nâng màng Schneiderian lên 8 – 11 mm; ghép xương FDB; cấy trụ implant AnyRidge Megagen; đo chỉ số ISQ tại thời điểm phẫu thuật và sau 6 tháng; phủ màng collagen và phục hình răng sứ sau 6 tháng khi ISQ đạt trên 60. Quy định bảng tiêu chí đánh giá lâm sàng, cận lâm sàng sau 6 tháng và sau phục hình 3 tháng, thang điểm đau NPS (0 – 10), cùng các biện pháp khống chế sai số (đánh giá chéo độc lập bởi bác sĩ ngoài ê-kíp và bác sĩ chẩn đoán hình ảnh, nhập liệu hai lần) và quy chuẩn xử lý thống kê bằng SPSS 23.0.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trình bày các phát hiện định lượng thu thập từ 45 bệnh nhân điều trị 61 xoang hàm và 104 implant. Độ tuổi của đối tượng nghiên cứu dao động từ 25 đến 78 tuổi, độ tuổi trung bình là $50,64 \pm 13,09$ tuổi. Trong đó nhóm tuổi 40 – 59 chiếm tỷ lệ cao nhất với $53,3%$, nhóm tuổi 18 – 39 chiếm $22,2%$ và nhóm trên 59 tuổi chiếm $24,4%$. Về phân bố giới tính, nữ giới chiếm $53,3%$ (24 bệnh nhân) và nam giới chiếm $46,7%$ (21 bệnh nhân). Về nguyên nhân gây mất răng, sâu răng là nguyên nhân phổ biến nhất chiếm $44,44%$, tiếp đến là bệnh nha chu chiếm $40,0%$ và chấn thương chiếm tỷ lệ còn lại ($15,56%$), không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nguyên nhân mất răng giữa hai giới ($p > 0,05$).

Bảng 3.1: Phân bố nguyên nhân mất răng theo nhóm tuổi

Nhóm tuổi 18 – 39 tuổi 40 – 59 tuổi > 59 tuổi Tổng
Sâu răng 6 (60,00%) 10 (41,67%) 4 (36,36%) 20 (44,44%)
Nha chu 3 (30,00%) 8 (33,33%) 7 (63,64%) 18 (40,00%)
Chấn thương 1 (10,00%) 6 (25,00%) 0 (0,00%) 7 (15,56%)
Tổng 10 (100%) 24 (100%) 11 (100%) 45 (100%)

Kiểm định chính xác Fisher: $p = 0,245$ ($p > 0,05$).

Kết quả phân tích cho thấy ở nhóm bệnh nhân cao tuổi (trên 59 tuổi), nguyên nhân mất răng do bệnh nha chu chiếm tỷ lệ cao nhất ($63,64%$), trong khi ở nhóm dưới 60 tuổi nguyên nhân mất răng chủ yếu là do sâu răng ($60,0%$ ở nhóm 18 – 39 tuổi và $41,67%$ ở nhóm 40 – 59 tuổi). Mặc dù có sự khác biệt về phân bố tỷ lệ theo lứa tuổi, kiểm định Fisher cho thấy sự khác biệt này chưa có ý nghĩa thống kê ($p = 0,245 > 0,05$).


Kết quả và những đóng góp mới

Kết quả nổi bật

  • Xác lập cơ sở dữ liệu lâm sàng và cận lâm sàng trên nhóm bệnh nhân mất răng sau hàm trên bị tiêu xương mức độ trung bình và nặng (chiều cao xương ổ răng từ 3 đến 6 mm) tại Cần Thơ.
  • Ứng dụng thành công quy trình phẫu thuật nâng xoang hở sử dụng máy siêu âm Piezotome kết hợp vật liệu ghép 100% xương đông khô người (FDB) và cấy ghép implant AnyRidge một thì trên 61 xoang hàm và 104 vị trí cấy ghép.
  • Đánh giá định lượng tính vững ổn của implant và tiến trình tích hợp xương dựa trên chỉ số ISQ đo bằng phương pháp phân tích tần số cộng hưởng (RFA) ở cả hai chiều ngoài - trong và gần - xa qua các giai đoạn: ngay sau phẫu thuật, sau 6 tháng lành thương và sau khi chịu lực phục hình 3 tháng.

Đóng góp về mặt thực tiễn và khuyến nghị

  • Quy trình can thiệp một thì (vừa nâng xoang, ghép xương vừa đặt implant) giúp rút ngắn tổng thời gian điều trị cho người bệnh so với quy trình hai thì truyền thống, giảm số lần can thiệp phẫu thuật mà vẫn kiểm soát được độ ổn định sơ khởi nhờ thiết kế ren đặc thù của dòng implant AnyRidge.
  • Ứng dụng mũi cắt siêu âm Piezotome mở cửa sổ xương ngoài giúp hạn chế biến chứng thủng màng Schneiderian và bảo tồn xương tối đa.
  • Khuyến nghị sử dụng phim chụp cắt lớp vi tính CT Cone Beam làm phương tiện cận lâm sàng bắt buộc trước phẫu thuật để khảo sát chính xác mật độ xương (chỉ số HU), giải phẫu sàn xoang, vách ngăn xoang và đường đi của các nhánh mạch máu trong xương nhằm phòng ngừa tai biến chảy máu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế

  • Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả can thiệp lâm sàng tiến cứu không đối chứng và chọn mẫu thuận tiện tại một trung tâm y tế duy nhất (Bệnh viện Mắt – Răng Hàm Mặt Cần Thơ).
  • Thời gian theo dõi đánh giá sau phục hình dừng lại ở mốc 03 tháng, chưa ghi nhận được dữ liệu tải lực nhai và mức độ tiêu mào xương ổ răng dài hạn (sau 3 – 5 năm).

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng các nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) so sánh hiệu quả giữa xương đông khô FDB với các vật liệu ghép khác (xương tự thân, xương dị loại từ bò, vật liệu tổng hợp BCP) hoặc kỹ thuật nâng xoang không ghép vật liệu.
  • Kéo dài thời gian theo dõi dọc sau phục hình từ 12 tháng đến 5 năm nhằm đánh giá tỷ lệ thành công lâu dài của trụ implant, mức độ tiêu xương quanh cổ và tình trạng sức khỏe mô nha chu quanh implant.

Giá trị tham khảo

  • Đối với bác sĩ Răng Hàm Mặt và phẫu thuật viên cấy ghép Implant: Cung cấp thông số thực tế về chỉ định lâm sàng (chiều cao xương 3 – 6 mm, chiều rộng $> 5\text{ mm}$), quy trình thao tác từng bước với máy Piezotome, kỹ thuật ghép FDB và cách đánh giá độ vững ổn sơ khởi bằng chỉ số ISQ để quyết định tải lực phục hình.
  • Đối với học viên sau đại học và nghiên cứu sinh: Cung cấp tài liệu tham khảo về khung phương pháp luận nghiên cứu can thiệp lâm sàng trong phẫu thuật implant nha khoa, bảng tiêu chí chấm điểm kết quả điều trị sau 6 tháng và sau phục hình theo khuyến chuẩn.
  • Đối với các cơ sở y tế chuyên khoa: Cung cấp bằng chứng thực tiễn để xây dựng quy trình kỹ thuật nâng xoang hở và cấy ghép implant một thì chuẩn hóa tại khoa Răng Hàm Mặt.

Câu hỏi thường gặp

1. Tiêu chuẩn chọn mẫu về kích thước xương ổ răng còn lại trong luận án là gì?

Theo đề cương nghiên cứu, bệnh nhân được lựa chọn khi có chiều cao xương ổ răng vùng mất răng sau hàm trên đo trên phim CT Cone Beam từ 3 mm đến 6 mm, chiều rộng xương hàm lớn hơn 5 mm và khoảng phục hình nhỏ hơn 15 mm.

2. Vật liệu ghép xương và dòng implant cụ thể nào được sử dụng trong can thiệp?

Luận án sử dụng vật liệu ghép là 100% xương đông khô từ mô người (FDB - Freeze Dried Bone) và hệ thống implant AnyRidge của hãng Megagen, kết hợp che phủ cửa sổ xoang bằng màng collagen và chỉ khâu Vicryl 3.0.

3. Điều kiện về chỉ số ISQ để tiến hành làm phục hình răng sau 6 tháng là bao nhiêu?

Theo quy trình nghiên cứu, bệnh nhân chỉ được chỉ định thực hiện phục hình răng sứ trên implant sau 6 tháng phẫu thuật khi chỉ số ổn định implant (ISQ) đo bằng máy Osstell đạt giá trị lớn hơn 60 ($\text{ISQ} > 60$).

4. Mật độ xương vùng mất răng được phân loại trên phim CT Cone Beam theo thang đo nào?

Mật độ xương được chia thành 5 mức độ dựa trên chỉ số Hounsfield Units (HU):

  • D1 ($> 1250\text{ HU}$)
  • D2 ($850 \sim 1250\text{ HU}$)
  • D3 ($350 \sim 850\text{ HU}$)
  • D4 ($150 \sim 350\text{ HU}$)
  • D5 ($< 150\text{ HU}$)

Kết luận

Luận án Chuyên khoa cấp II của tác giả Bùi Cúc đã nghiên cứu can thiệp trên 45 bệnh nhân mất răng sau hàm trên với 61 xoang hàm được nâng xoang hở bằng máy siêu âm Piezotome, ghép 100% xương đông khô người (FDB) và cấy ghép đồng thời 104 trụ implant AnyRidge một thì tại Bệnh viện Mắt - Răng Hàm Mặt Cần Thơ. Công trình đã chuẩn hóa quy trình chẩn đoán hình ảnh trên CT Cone Beam, kiểm soát độ ổn định sinh học bằng chỉ số ISQ (RFA) và xác lập các tiêu chí đánh giá lâm sàng, cận lâm sàng sau 6 tháng phẫu thuật cũng như sau 3 tháng phục hình. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực tiễn phục vụ đào tạo và điều trị chuyên sâu cho chuyên ngành Răng Hàm Mặt trong kỹ thuật phục hồi mất răng hàm trên có tiêu xương ổ răng.