Tổng quan nghiên cứu

Kiểu rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đới tại Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn, điều hòa khí hậu và bảo tồn nguồn gen sinh vật quý hiếm cho toàn vùng Đông Nam Bộ. Hiện nay, diện tích rừng tự nhiên tại khu vực xã Mã Đà đạt khoảng 21.528 ha trên tổng diện tích tự nhiên 27.497 ha, duy trì tỷ lệ che phủ cao tới 83,4%. Nơi đây quy tụ hệ thực vật rừng phong phú với khoảng 900 loài cây gỗ phân bố trong 77 họ thực vật nhiệt đới. Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng từ các hoạt động khai thác trong quá khứ, cấu trúc rừng đã bị phân hóa thành nhiều trạng thái thứ sinh phục hồi khác nhau. Trong đó, hai trạng thái rừng phục hồi IIA và IIB theo thang phân loại Loeschau là những đối tượng lâm sinh trọng điểm cần được đánh giá định lượng để áp dụng các biện pháp nuôi dưỡng phù hợp.

Luận văn thạc sĩ lâm nghiệp của tác giả Phạm Ngọc Hiệp tập trung nghiên cứu đặc điểm lâm học của trạng thái rừng IIA và IIB tại tiểu khu 111 và tiểu khu 121 thuộc phân khu phục hồi sinh thái. Mục tiêu cụ thể của công trình là phân tích tổ thành loài cây gỗ, cấu trúc tầng tán, quy luật tái sinh tự nhiên và so sánh mức độ đa dạng loài cây gỗ giữa hai trạng thái rừng phục hồi. Nghiên cứu được triển khai thực địa từ tháng 5 đến tháng 10 năm 2016 thông qua hệ thống 6 ô tiêu chuẩn định lượng có diện tích 2.500 m2 mỗi ô và 100 ô dạng bản diện tích 16 m2. Kết quả từ nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học tin cậy, giúp các nhà quản lý nâng cao hiệu quả điều tra lâm phần, xác lập phương thức nuôi dưỡng rừng tối ưu và thúc đẩy tốc độ phục hồi sinh thái cho hơn 27.000 ha rừng nhiệt đới tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hệ thống lý thuyết phân loại trạng thái rừng thứ sinh nhiệt đới của Loeschau năm 1966 và quan điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng nhiệt đới. Hai đối tượng nghiên cứu chính bao gồm: trạng thái IIA (rừng phục hồi sau nương rẫy hoặc khai thác kiệt, cây gỗ mọc rải rác) và trạng thái IIB (rừng phục hồi có tầng cây gỗ liên tục). Nghiên cứu kế thừa phương pháp phân tích tổ thành lâm phần của Thái Văn Trừng năm 1999 thông qua chỉ số giá trị quan trọng (IVI%), được xác định bằng trung bình cộng của mật độ tương đối (N%), tiết diện ngang tương đối (G%) và thể tích thân cây tương đối (V%).

Cơ sở lý thuyết về đa dạng sinh học hệ sinh thái được tiếp cận toàn diện qua các chỉ số đo lường sinh thái chuẩn quốc tế. Cụ thể, mức độ giàu có loài được định lượng bằng chỉ số Margalef (d), mức độ đa dạng loài đo lường qua chỉ số Shannon-Weiner (H'), mức độ ưu thế loài tính theo chỉ số Gini-Simpson (1 - λ) và mức độ đồng đều quần thể theo chỉ số Pielou (J'). Đa dạng Beta giữa các điều kiện lập địa được xác định qua công thức Whittaker và hệ số tương đồng Sorensen. Khung lý thuyết này bảo đảm phản ánh chính xác quy luật phân bố không gian và động thái phục hồi của thảm thực vật rừng tự nhiên.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp sinh thái học thực nghiệm kết hợp điều tra điển hình tạm thời trên thực địa. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 6 ô tiêu chuẩn định lượng diện tích 2.500 m2 mỗi ô (kích thước 50 m x 50 m), tương đương tổng diện tích điều tra tầng cây cao đạt 1,5 ha. Phương pháp chọn mẫu điển hình được thiết lập trên các tuyến song song cách nhau 200 đến 300 m tại tiểu khu 111 và tiểu khu 121. Tầng cây gỗ lớn được đo đếm toàn bộ với tiêu chuẩn đường kính ngang ngực D từ 6,0 cm trở lên. Chiều cao vút ngọn và chiều cao dưới cành được đo đạc chuẩn xác bằng sào tiêu chuẩn kết hợp thước đo chuyên dụng. Thể tích thân cây gỗ đứng được tính toán dựa trên công thức V = g x H x F với hình số F cố định bằng 0,45.

Đối với tầng cây tái sinh, nghiên cứu thu thập dữ liệu trên 100 ô dạng bản diện tích 16 m2 (kích thước 4 m x 4 m), phân bố 50 ô cho trạng thái IIA và 50 ô cho trạng thái IIB. Việc lựa chọn phương pháp ô dạng bản phân bố đều đặn dọc theo các tuyến đo giúp thu thập chính xác các chỉ tiêu về mật độ, nguồn gốc tái sinh (hạt hoặc chồi), phân cấp chiều cao từ 10 cm đến dưới 6 cm đường kính và phân loại chất lượng sức sống (tốt, trung bình, xấu). Toàn bộ dữ liệu lâm học được xử lý và kiểm định phân bố toán học bằng các phần mềm thống kê chuyên ngành gồm Statgraphics Plus 4.0, SPSS 10.0 và Primer 6.0 nhằm bảo đảm độ tin cậy thống kê cao nhất.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về thành phần loài và tổ thành tầng cây cao, trạng thái IIA ghi nhận 60 loài cây gỗ thuộc 42 chi và 27 họ, trong đó 7 loài cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế chiếm 50,1% tổ thành. Thành ngạnh là loài chiếm ưu thế lớn nhất với chỉ số IVI đạt 15,5%, theo sau là Chò chai (10,3%), Dầu song nàng (6,8%) và Vừng (5,8%). Ở trạng thái IIB, nghiên cứu ghi nhận 48 loài thuộc 38 chi và 27 họ, với 8 loài ưu thế và đồng ưu thế chiếm 52,1% tổ thành. Loài ưu thế tuyệt đối là Dầu song nàng với IVI đạt 14,5% đến 14,7%, cùng các loài đồng ưu thế như Trường (6,7%), Bình linh (5,9%) và Chò chai (5,9%).

Thứ hai, về mật độ cá thể và trữ lượng gỗ, mật độ tầng cây cao ở trạng thái IIA đạt 694 cây/ha, tổng tiết diện ngang đạt 7,0 m2/ha và trữ lượng gỗ bình quân đạt 49,6 m3/ha. Trong khi đó, trạng thái IIB có mật độ 688 cây/ha nhưng sở hữu tổng tiết diện ngang lên tới 17,3 m2/ha (cao gấp 2,47 lần so với IIA) và trữ lượng gỗ đạt 155,7 m3/ha (cao gấp 3,14 lần so với trạng thái IIA).

Thứ ba, về cấu trúc đường kính (N/D) và chiều cao (N/H), quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính của cả hai trạng thái đều tuân theo dạng đường cong một đỉnh bất đối xứng lệch trái. Đỉnh phân bố số cây của trạng thái IIA rơi vào cấp đường kính 10 cm, còn trạng thái IIB rơi vào cấp đường kính 12 cm. Tiết diện ngang và trữ lượng gỗ của trạng thái IIA tập trung chủ yếu ở nhóm đường kính từ 10 đến 20 cm, trong khi trạng thái IIB tập trung đậm đặc ở nhóm đường kính từ 20 đến 30 cm.

Thứ tư, về hiện trạng tái sinh tự nhiên, quá trình tái sinh diễn ra liên tục dưới tán rừng ở cả hai trạng thái với mật độ cao. Tỷ lệ cây con có nguồn gốc từ hạt chiếm ưu thế vượt trội trên 80%, đại đa số có phẩm chất tốt và phân bố tập trung chủ yếu ở cấp chiều cao dưới 100 cm.

Thảo luận kết quả

Sự khác biệt rõ rệt về cấu trúc và trữ lượng lâm phần giữa hai trạng thái bắt nguồn từ cường độ tác động khai thác trong quá khứ và thời gian phục hồi tự nhiên. Trạng thái IIA được hình thành sau các đợt khai thác mạnh vào đầu những năm 1990 nên lâm phần có độ tàn che bình quân 0,7, ưu thế bởi các loài cây tiên phong ưa sáng sinh trưởng nhanh như Thành ngạnh. Ngược lại, trạng thái IIB phục hồi từ cuối những năm 1980 với thời gian tích lũy sinh khối dài hơn, tạo nên độ tàn che 0,8 và sự phục hồi vững chắc của các loài cây bản địa họ Dầu có giá trị sinh thái cao.

Khi phân tích dữ liệu, các quy luật cấu trúc lâm phần được mô tả trực quan thông qua đồ thị đường cong phân bố khoảng cách thực nghiệm và bảng phân tổ trữ lượng theo nhóm đường kính. Đồ thị phân bố N/D thể hiện rõ số lượng cá thể giảm dần ở các cấp đường kính lớn, phản ánh cấu trúc rừng tự nhiên nhiều tầng tuổi ổn định. Đa dạng loài Alpha ở trạng thái IIA cao hơn IIB do môi trường nhiều ánh sáng tạo điều kiện cho nhiều loài cây tiên phong cùng chung sống. Tuy nhiên, chỉ số đa dạng Beta ở trạng thái IIB lại cao hơn đáng kể, minh chứng cho sự phân hóa sâu sắc về thành phần loài cây gỗ theo từng dạng lập địa cụ thể, từ đất đỏ feralit đồi dốc đến đất bồi tụ chân đồi và đất đỏ bazan màu mỡ.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả định lượng lâm học, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý cụ thể nhằm phục hồi và bảo tồn bền vững vốn rừng:

Thực hiện kỹ thuật nuôi dưỡng rừng và tỉa thưa chọn lọc: Cơ quan quản lý rừng cần áp dụng biện pháp phát dọn dây leo, chặt tỉa cây cong queo, sâu bệnh và cây tái sinh chèn ép ở trạng thái IIA. Mục tiêu duy trì mật độ lâm phần ổn định ở mức 500 đến 550 cây/ha, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng trữ lượng gỗ thêm 15% đến 20% trong chu kỳ nuôi dưỡng 5 năm. Đơn vị thực hiện là Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai.

Xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp trồng dặm cây bản địa: Tại các khu vực có mật độ cây tái sinh mục đích còn thưa thớt, cần tiến hành xới đất cục bộ xung quanh gốc cây mẹ vào đầu mùa mưa (khoảng tháng 5 hàng năm) nhằm nâng cao tỷ lệ nảy mầm tự nhiên lên trên 85%. Tiến hành trồng bổ sung các loài cây bản địa có giá trị cao như Dầu song nàng, Gõ mật, Chò chai với mật độ từ 200 đến 300 cây/ha tại trạng thái IIA.

Xây dựng mạng lưới ô tiêu chuẩn định vị giám sát sinh thái: Thiết lập 20 ô tiêu chuẩn định vị cố định trên toàn bộ 27.497 ha rừng tự nhiên của xã Mã Đà để theo dõi định kỳ động thái tăng trưởng đường kính, chiều cao và quy luật biến đổi cấu trúc lâm phần theo chu kỳ 3 năm một lần. Đơn vị chủ trì là phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế của Khu bảo tồn.

Tăng cường năng lực quản lý và tuần tra bảo vệ rừng: Tổ chức các khóa tập huấn kỹ thuật nhận biết loài cây gỗ và nghiệp vụ lâm sinh cho 100% lực lượng kiểm lâm và tổ bảo vệ rừng cộng đồng trong thời gian 6 đến 12 tháng. Thực hiện tuần tra nghiêm ngặt nhằm phòng ngừa triệt để tình trạng cháy rừng trong 6 tháng mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau).

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn thạc sĩ này là tài liệu khoa học và thực tiễn giá trị cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia: Cung cấp cơ sở khoa học vững chắc để xây dựng phương án quản lý rừng bền vững, quy hoạch phân khu phục hồi sinh thái trên diện tích hơn 21.528 ha rừng tự nhiên tại vùng Đông Nam Bộ.

Giảng viên và nhà nghiên cứu lâm nghiệp: Cung cấp nguồn số liệu thực nghiệm phong phú về động thái cấu trúc lâm phần, phương pháp tính toán chỉ số IVI% và mô hình hóa toán học sinh thái rừng nhiệt đới phục vụ đào tạo sau đại học.

Học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng: Cung cấp quy trình phương pháp luận điều tra thực địa chuẩn mực, kỹ năng phân tích dữ liệu đa biến qua các phần mềm SPSS, Statgraphics và Primer dựa trên hệ thống dữ liệu thực tế gồm 60 loài cây gỗ.

Các tổ chức phi chính phủ và dự án phát triển bảo tồn: Tham khảo các thông số định lượng về đa dạng sinh học Alpha, Beta và khả năng tái sinh tự nhiên để thiết kế các chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng, dự án hấp thụ carbon và phục hồi thảm thực vật bản địa.

Câu hỏi thường gặp

Trạng thái rừng IIA và IIB khác biệt căn bản nhất ở những chỉ tiêu nào? Điểm khác biệt lớn nhất nằm ở trữ lượng gỗ và độ tàn che tầng tán. Trạng thái IIB có trữ lượng gỗ bình quân 155,7 m3/ha và tiết diện ngang 17,3 m2/ha, cao gấp hơn 3 lần so với trạng thái IIA (49,6 m3/ha và 7,0 m2/ha). Ngoài ra, IIA ưu thế bởi cây ưa sáng Thành ngạnh, còn IIB chiếm ưu thế bởi cây họ Dầu bản địa.

Tại sao chỉ số đa dạng loài Alpha của trạng thái IIA lại cao hơn trạng thái IIB? Trạng thái IIA có độ tàn che 0,7 và môi trường tán hở nhiều ánh sáng, tạo điều kiện thuận lợi cho 60 loài cây gỗ cùng xuất hiện, bao gồm cả loài ưa sáng và chịu bóng. Ngược lại, trạng thái IIB có độ tàn che 0,8, các loài cây họ Dầu chiếm lĩnh tầng tán trên khiến số lượng loài ghi nhận giảm xuống còn 48 loài.

Khả năng tái sinh tự nhiên dưới tán của hai trạng thái rừng có bảo đảm khả năng phục hồi không? Quá trình tái sinh tự nhiên diễn ra rất thuận lợi và liên tục dưới tán rừng. Hơn 80% cây tái sinh có nguồn gốc từ hạt với chất lượng sinh trưởng tốt, hoàn toàn đủ điều kiện thay thế tầng cây mẹ. Tuy nhiên, do cây con tập trung chủ yếu ở chiều cao dưới 100 cm nên cần có giải pháp mở tán hợp lý để cây vươn lên tầng cao.

Phương pháp xác định tổ thành loài cây gỗ trong luận văn được tính toán như thế nào? Tác giả áp dụng công thức chỉ số giá trị quan trọng IVI% của Thái Văn Trừng, được tính bằng giá trị trung bình cộng của 3 tham số tương đối gồm mật độ N%, tiết diện ngang G% và thể tích thân cây V%. Cách tính này phản ánh đầy đủ số lượng cá thể, không gian chiếm lĩnh và sinh khối thực tế của từng loài cây gỗ.

Dạng đường cong phân bố số cây theo cấp đường kính N/D phản ánh quy luật gì? Phân bố N/D của cả hai trạng thái đều có dạng một đỉnh bất đối xứng lệch trái, đạt đỉnh ở cấp đường kính 10 cm đối với IIA và 12 cm đối với IIB. Quy luật này phản ánh quần xã rừng đang trong giai đoạn phục hồi sinh thái tích cực, số lượng cây gỗ non chiếm tỷ lệ lớn và luôn sẵn sàng bổ sung cho tầng cây cao.

Kết luận

  • Luận văn đã xác định rõ đặc điểm lâm học của hai trạng thái rừng phục hồi IIA và IIB tại Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai, ghi nhận sự hiện diện của 60 loài ở trạng thái IIA và 48 loài ở trạng thái IIB.
  • Trạng thái IIB có sự vượt trội rõ nét về mặt tích lũy sinh khối với trữ lượng gỗ đạt 155,7 m3/ha và tiết diện ngang 17,3 m2/ha, cao gấp hơn 3 lần so với trạng thái IIA (49,6 m3/ha và 7,0 m2/ha).
  • Tổ thành rừng thể hiện quy luật diễn thế phục hồi rõ ràng, chuyển dịch từ ưu thế cây tiên phong Thành ngạnh (IVI = 15,5%) ở trạng thái IIA sang ưu thế loài bản địa Dầu song nàng (IVI = 14,5%) ở trạng thái IIB.
  • Tiềm năng tái sinh tự nhiên đạt mức rất khả quan với trên 80% cây con có nguồn gốc từ hạt và phẩm chất sinh trưởng tốt, bảo đảm khả năng thay thế bền vững cho tầng cây gỗ lớn.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật nuôi dưỡng rừng, xúc tiến tái sinh tự nhiên và thiết lập 20 ô tiêu chuẩn giám sát cấu trúc định kỳ 3 năm một lần trên 27.497 ha rừng.

Các phát hiện lâm học định lượng từ công trình nghiên cứu là cơ sở khoa học thiết thực cho công tác bảo tồn hệ sinh thái rừng nhiệt đới Đông Nam Bộ. Các cơ quan quản lý và đơn vị chủ rừng cần khẩn trương áp dụng các hướng dẫn kỹ thuật lâm sinh trên vào thực tế để phục hồi tối ưu cấu trúc rừng và bảo tồn trọn vẹn tài nguyên đa dạng sinh học trong giai đoạn tới.