ĐẶT VẤN ĐỀ Trong hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học, khi một loài thực vật nào đó có nguy cơ bị tuyệt chủng được xem là dấu hiệu xác đáng cho sự tổn thất về mặt đa dạng thực vật nói chung và đa dạng sinh học nói riêng. Vì vậy ngăn ngừa sự tuyệt chủng của một loài trước khi nó xảy ra là nhiệm vụ hàng đầu của công tác bảo tồn đa dạng sinh học. Nằm trong hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam , Vườn Quốc gia Cát Tiên là một hệ sinh thái vô cùng đặc biệt và quan trọng, chứa đựng một nguồn tài nguyên sinh học rất lớn. Đây là nơi có vị trí nằm giữa hai vùng sinh học địa lý chuyển tiếp từ cao nguyên Trường Sơn xuống vùng đồng bằng Nam Bộ, VQG Cát Tiên hội tụ các luồng hệ thực vật và thảm thực vật đa dạng, đặc trưng cho hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới thường xanh của các tỉnh Đông Nam Bộ, Việt Nam.
Nhiều loài động - thực vật quý hiếm đã được tìm thấy và bảo vệ ở nơi đây trong đó có loài Gõ mật. Rừng nơi đây tuy được bảo vệ nghiêm ngặt nhưng số lượng một số loài cây gỗ quý hiếm, đặc hữu và có giá trị kinh tế cao đang dần bị suy giảm nghiêm trọng như: Gõ mật (Sindora siamensis Teysm. Đây là mối nguy hại lớn nhất mà Vườn quốc gia Cát Tiên đang đối mặt với mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và bảo tồn các loài cây quý hiếm như loài Gõ mật nói riêng. Hiện nay, Gõ mật chỉ còn rải rác trong các khu rừng tự nhiên ở các tỉnh thuộc các tỉnh Kon Tum (Kon Plong, SaThầy), Gia Lai (Chư Păh, An Khê), Đắk Lắk, Lâm Đồng, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh, Đồng Nai, chủ yếu ở các khu rừng được bảo vệ nghiêm ngặt.
Trên thế giới, Gõ mật được xếp vào nhóm có nguy cấp (Lower risk) trong danh lục sách đỏ của IUCN-2009. Ở Việt Nam, Gõ mật được xếp vào mức độ nguy cấp (EN) trong sách đỏ Việt Nam và nằm trong nhóm IIa [9]. Với đặc điểm gỗ màu hồng có vân nâu, rất cứng, nặng, ròn, nhưng rất bền, kể cả khi để ở ngoài trời nắng hay ẩm, không bị mối mọt. Gỗ mịn, dễ cưa, dễ chế biến, sử dụng lâu thì lên nước bóng rất đẹp và được ưa chuộng trong xây dựng nhà cửa, 1 đóng đồ mộc dân dụng, làm đồ trạm trổ.
Do đó , trong rừng tự nhiên , nó luôn là đối tượng bị khai thác triệt để. Đứng trước những đe dọa trên nhưng hiện nay các nghiên cứu trước đây về loài còn mang tính khái quát vẫn chưa có những nghiên cứu sâu và chi tiết, thông tin còn tản mạn. Vì vậy , nghiên cứu một số đặc điểm lâm học làm cơ sở đề xuất những giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây này là việc làm cần thiết để bảo vệ đa dạng sinh học, góp phần phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm học làm cơ sở bảo tồn cây Gõ mật (Sindora siamensis Teysm.
ex Miq) tại khu vực phía Nam VQG Cát Tiên, tỉnh Đồng Nai”. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số nghiên cứu trên thế giới 1. Nghiên cứu đặc điểm lâm học Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học của cây rừng có ý nghĩa rất lớn trong sản xuất lâm nghiệp.
Dựa vào đặc điểm sinh thái cây rừng, chúng ta có thể đưa cây rừng đến trồng đúng vùng sinh thái của chúng, như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển cây rừng. Không những thế, khi biết được đặc điểm sinh thái của loài cây, các nhà lâm học sẽ xác định được các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý tác động nhằm tạo ra những quần thể rừng phù hợp với mục đích kinh doanh. Baur (1976)[2] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái nói chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng nói riêng, trong đó đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên. Từ đó tác giả đưa ra các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh và các phương thức cải thiện rừng.
Plaudy (1987) [32] đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến. Khái niệm sinh thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học. Hiện tượng thành tầng là sự sắp xếp không gian phân bố của các thành phần sinh vật rừng trên cả mặt bằng và theo chiều thẳng đứng. Công trình nghiên cứu của R.
Plaudy (1987) [32] đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến. Phương pháp vẽ biểu đồ mặt cắt đứng của rừng do P. Richards (1959) [33] đề xướng và sử dụng lần đầu tiên ở Guam đến nay vẫn là phương pháp có hiệu quả để nghiên cứu cấu trúc tầngthứ của rừng. Tuy nhiên phương pháp này có nhược điểm là chỉ minh họa được cách sắp xếp theo chiều thẳng đứng của các loài cây gỗ trong diện tích có hạn.
Cusen (1953) 3 đã khắc phục bằng cách vẽ một số giải kề bên nhau và đưa lại một hình tượng về không gian ba chiều. Richards (1959, 1968, 1970) [33] đã phân biệt tổ thành rừng mưa nhiệt đới làm hai loại là rừng mưa hỗn hợp và rừng mưa đơn ưu có tổ thành loài cây đơn giản. Cũng theo tác giả thì rừng mưa thường có nhiều tầng (thường có 3 tầng, trừ tầng cây bụi và tầng cây cỏ). Trong rừng mưa nhiệt đới, ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và các loài thân thảo còn có nhiều loại dây leo cùng nhiều loài thực vật phụ sinh trên thân hoặc cành cây.
Khi nghiên cứu về rừng, thành phần loài cây và vai trò của chúng trong quần xã là những vấn đề đáng quan tâm. Nhiều nhà lâm học (Richards, 1968[33]; Baur, 1976 [2]) cho rằng, rừng được hình thành bởi những loài cây khác nhau. Vì thế, khi phân tích kết cấu loài cây gỗ (tổ thành cây gỗ), nhà lâm học cần phải xác định chính xác tên loài cây và tỷ trọng của mỗi loài. Curtis và McIntosh (1951)(Dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 2010[43]) đã sử dụng thuật ngữ giá trị quan trọng của loài (IV) để biểu thị cho vai trò của loài trong quần xã.
Chỉ số IV được tính bằng tổng độ thường gặp tương đối (F%), mật độ tương đối (N%) và tiết diện ngang thân cây tương đối (G%). Phương pháp của Curtis và McIntosh (1951) có một số nhược điểm: (a) chỉ số IV thay đổi tùy theo kích thước và số lượng ô mẫu; (b) F% chỉ có ý nghĩa khi phân bố của loài là ngẫu nhiên. Đối với cây bụi, chỉ tiêu đo đếm là thành phần loài và độ phong phú của loài. Độ phong phú của loài được đánh giá dựa theo chiều cao và độ che phủ của tán lá trên mặt đất.
Độ phong phú của thảm cỏ được đánh giá theo phần trăm độ che phủ của thảm cỏ trên mặt đất. Trong tính toán, bảy cấp độ phong phú của Druze được mã hóa theo thứ tự từ 0 – 6. Tóm lại,trên thế giới các công trình nghiên cứu về đặc điểm lâm học của rừng nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng rất phong phú, có nhiều công trình nghiên cứu công phu đã đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh rừng. Những nghiên cứu về tái sinh rừng Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng.
Biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng: dưới tán rừng, lỗ trống trong rừng, rừng sau khai thác, đất rừng sau nương rẫy. Cây con đóng vai trò trong việc thay thế thế hệ cây già cỗi. Vì vậy tái sinh rừng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ. Sự xuất hiện lớp cây con là nhân tố mới làm phong phú thêm số lượng và thành phần loài trong quần xã sinh vật.
Theo nghĩa rộng là sự tái sinh của một hệ sinh thái rừng. Tái sinh rừng thúc đẩy việc hình thành cân bằng sinh học trong rừng, đảm bảo cho rừng tồn tại liên tục. Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài cây tái sinh, điều kiện địa lý và tiểu hoàn cảnh rừng là cơ sở tự nhiên quan trọng có tác dụng quyết định, chi phối hình thành nên những quy luật tái sinh rừng. Ở các vùng tự nhiên khác nhau tái sinh diễn ra theo các quy luật khác nhau.
Tái sinh rừng diễn ra dưới ba hình thức: tái sinh hạt, tái sinh chồi, tái sinh thân ngầm (các loài tre nứa). Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố. Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây con và tầng cây gỗ đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbre-ad, 1930; Richards, 1959; Baur G. Do tính phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài cây có giá trị nên trong thực tiễn người ta chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định.
Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới vô cùng phức tạp và còn ít được quan tâm nghiên cứu. Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mưa chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng ít nhiều đã bị biến đổi. Van Steenis (1956) [52] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng. 5 Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu quả các cách xử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng.
Từ đó các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh. Công trình của Walton, A. C - Wyatt Smith (1950) với phương thức rừng đồng tuổi ở Mã Lai; Taylor (1954), Jones (1960) với phương thức chặt dần tái sinh dưới tán rừng ở Nigeria và Gana. Nội dung hiệu quả của từng phương thức đối với tái sinh đã được G.