Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài nghiến excentrodendron tonkinense gagnep chang miau 1978 tại vườn quốc gia ba bể tỉnh bắc kạn

Nghiên cứu đặc điểm lâm học loài Nghiến Excentrodendron Tonkinense tại Vườn Quốc Gia Ba Bể, Bắc Kạn, phân tích sinh thái, phân bố và bảo tồn loài quý hiếm.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2015

66
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. Phần 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2. Ý nghĩa khoa học của đề tài

2. Phần 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Trên thế giới

2.2. Nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài cây

2.3. Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học

2.4. Nghiên cứu về cây Nghiến

2.5. Nhận xét, đánh giá chung

2.6. Tổng quan khu vực nghiên cứu

2.6.1. Điều kiện tự nhiên

2.6.2. Đặc điểm kinh tế xã hội

2.6.3. Đặc điểm khu hệ thực vật

3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

3.2. Nội dung nghiên cứu

3.2.1. Nghiên cứu đặc điểm hình thái loài Nghiến trên địa bàn

3.2.2. Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của loài Nghiến tại VQG Ba Bể

3.2.3. Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của Nghiến tại VQG Ba Bể

3.2.4. Đề xuất một số các giải pháp bảo vệ và giải pháp phát triển loài cây

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.3.1. Phương pháp kế thừa các tài liệu có liên quan

3.3.2. Phương pháp thu thập số liệu

3.3.2.1. Điều tra cây tái sinh
3.3.2.2. Phương pháp phỏng vấn người dân

4. Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Đặc điểm hình thái loài cây Nghiến

4.1.1. Đặc điểm hình thái thân, lá, cành, hoa, quả, hạt

4.1.2. Kết quả nghiên cứu về vật hậu

4.2. Đặc điểm sinh thái học

4.2.1. Đặc điểm rừng nơi Nghiến phân bố

4.2.1.1. Cấu trúc mật độ
4.2.1.2. Cấu trúc tầng thứ, độ tàn che
4.2.1.3. Cấu trúc tổ thành rừng

4.2.2. Đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Nghiến tại VQG Ba Bể

4.2.2.1. Đặc điểm mật độ tầng cây tái sinh
4.2.2.2. Đặc điểm cấu trúc tổ thành tầng cây tái sinh

4.3. Đề xuất một số các giải pháp bảo vệ và giải pháp phát triển loài cây

5. Phần 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Giới thiệu về loài Nghiến Excentrodendron tonkinense

Loài Nghiến, có tên khoa học là Excentrodendron tonkinense (Gagnep) Chang & Miau, 1978, thuộc họ đay Tiliaceace, là một trong những loài cây quý hiếm tại Việt Nam. Loài này chủ yếu phân bố ở các vùng núi đá vôi phía Bắc, đặc biệt là tại Vườn Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Gỗ của Nghiến có màu nâu đỏ, cứng, ít co rút, thường được sử dụng trong xây dựng và sản xuất đồ mỹ nghệ. Tuy nhiên, do khai thác quá mức và thiếu thông tin nghiên cứu, loài này đang có nguy cơ suy giảm. Việc nghiên cứu đặc điểm lâm học của Nghiến không chỉ giúp bảo tồn loài mà còn góp phần vào việc phát triển bền vững tài nguyên rừng tại khu vực này.

1.1. Đặc điểm sinh học của Nghiến

Nghiến là cây gỗ lớn, có chiều cao trung bình từ 15 đến 20 mét. Lá của cây có hình trứng, dài từ 10 đến 12 cm, với mép nguyên hoặc có răng cưa. Hoa của Nghiến thường nở vào tháng 2-3 và quả chín vào tháng 6-7. Đặc điểm sinh trưởng của loài này có nhịp điệu rõ rệt theo mùa, với sự phát triển mạnh mẽ vào mùa xuân. Việc hiểu rõ về đặc điểm sinh học của Nghiến là cần thiết để xây dựng các biện pháp bảo tồn và phát triển loài này trong tương lai.

II. Đặc điểm sinh thái của Nghiến tại VQG Ba Bể

Vườn Quốc gia Ba Bể có điều kiện tự nhiên phong phú, là nơi lý tưởng cho sự phát triển của loài Nghiến. Đặc điểm khí hậu nơi đây là nhiệt đới gió mùa, với lượng mưa trung bình hàng năm cao, tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng của cây. Nghiến thường phân bố ở những khu vực có độ cao từ 350 đến 560 mét, nơi có độ ẩm cao và ánh sáng đầy đủ. Cấu trúc rừng nơi Nghiến phân bố thường có sự đa dạng về loài, với mật độ cây tái sinh cao, cho thấy khả năng phục hồi tự nhiên của loài này. Việc nghiên cứu đặc điểm sinh thái không chỉ giúp hiểu rõ hơn về môi trường sống của Nghiến mà còn cung cấp thông tin quan trọng cho công tác bảo tồn.

2.1. Cấu trúc rừng và mật độ cây tái sinh

Cấu trúc rừng nơi Nghiến phân bố có sự đa dạng về tầng cây và độ tàn che. Mật độ cây tái sinh tại các tuyến điều tra cho thấy sự phân bố không đồng đều, với một số khu vực có mật độ cao, trong khi những khu vực khác lại thưa thớt. Điều này có thể do tác động của con người và các yếu tố môi trường. Việc theo dõi và đánh giá mật độ cây tái sinh là rất quan trọng để đảm bảo sự phát triển bền vững của loài Nghiến tại VQG Ba Bể.

III. Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển loài Nghiến

Để bảo tồn và phát triển loài Nghiến, cần thực hiện một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, cần tăng cường công tác quản lý và bảo vệ rừng tại VQG Ba Bể, hạn chế tình trạng khai thác trái phép. Thứ hai, cần thực hiện các chương trình trồng rừng và tái sinh tự nhiên, nhằm tăng cường mật độ cây Nghiến trong khu vực. Cuối cùng, việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của loài Nghiến và tầm quan trọng của việc bảo tồn rừng cũng rất cần thiết. Những giải pháp này không chỉ giúp bảo tồn loài Nghiến mà còn góp phần vào việc bảo vệ đa dạng sinh học tại khu vực.

3.1. Tăng cường quản lý và bảo vệ rừng

Cần thiết lập các biện pháp quản lý hiệu quả để bảo vệ rừng, bao gồm việc kiểm soát khai thác và giám sát tình hình phát triển của loài Nghiến. Các hoạt động bảo vệ rừng cần được thực hiện đồng bộ với các chương trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương, nhằm tạo ra sự đồng thuận và hỗ trợ từ cộng đồng. Việc này sẽ giúp duy trì và phát triển bền vững nguồn tài nguyên rừng, đồng thời bảo vệ loài Nghiến khỏi nguy cơ tuyệt chủng.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài nghiến excentrodendron tonkinense gagnep chang miau 1978 tại vườn quốc gia ba bể tỉnh bắc kạn

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể.I cho rằng “Chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao chùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có sự phân hóa mặt địa lý”. Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể.I đã đưa ra nhận định số loài ở hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1500 - 2000 loài. Về vật hậu học: Hoạt động sinh học có tính chất chu kì của các cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản. Chu kì vật hậu của cùng 1 loài phân bố ở các vùng sinh thái khác nhau thường có sự phân hóa rõ rệt.

Điều này có ý nghĩa cần thiết trong nghiên cứu sinh thái cá thể loài và công tác chọn tạo giống. e 5 Các công trình như nêu trên cũng đã ít nhiều nêu ra các đặc điểm về chu kì hoa, quả và các đặc trưng vật hậu của từng loài, nhóm loài. Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học Việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài cây làm đề xuất biện pháp kĩ thuật lâm sinh tác động phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong kinh doanh rừng rất được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Theo đó các lý thuyết về hệ sinh thái, cấu trúc, tái sinh rừng được vận dụng cụ thể trong nghiên cứu đặc điểm của 1 loài cụ thể nào đó.

Ông đã phân chia ra sinh thái học quần thể và sinh thái học cá thể. Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài, trong đó chu kì sống, tập tính cũng như khả năng thích nghi với môi trường được đặc biệt chú ý. Tái sinh là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, đó là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những cây thân gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng. Hiệu quả của tái sinh rừng, được xác định bởi mật, độ tổ thành, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố.

Vansteenis (1956) [3] cho rằng, trong rừng nhiệt đới sự thiếu hụt ánh sáng đã làm ảnh hưởng đến phát triển cây con, còn đối với sự nảy mầm thì ảnh hưởng đó không rõ ràng. Đối với rừng nhiệt đới, số lượng đơn vị loài cây trên một đơn vị diện tích và mật độ tái sinh thường khá lớn. vì vậy khi nghiên cứu tái sinh rừng tự nhiên cần phải đánh giá chính xác tình hình tái sinh rừng và có biện pháp tác động phù hợp. Cấu trúc rừng là hình thức biểu hiện bên ngoài của những mối quan hệ qua lại bên trong giữa thực vật rừng với nhau và giữa chúng với môi trường e 6 sống.

Nghiên cứu cấu trúc rừng để biết được những mối quan hệ sinh thái bên trong của quần xã, từ đó có cơ sở đề xuất các biện pháp tác động phù hợp. Hiện tượng thành tầng là một trong những đặc trưng cơ bản về cấu trúc hình thái quần thể thực vật là cơ sở để tạo nên cấu trúc tầng thứ. Phương pháp vễ biểu đồ mặt cắt đứng của rừng do David và P.W Risa (1933-1934) đề xướng và sử dụng lần đầu tiên ở Guyan, đến nay phương pháp đó vẫn được sử dụng nhưng nhược điểm là chỉ minh họa được cách sắp xếp theo hướng thẳng đứng trong một diện tích có hạn. Cusen (1951) đã khắc phục bằng cách vẽ một số dải kề nhau và đưa lại một hình tượng bằng không gian 3 chiều.

Sampion Gripfit (1948) khi nghiên cứu rừng tự nhiên ở Ấn Độ và rừng ẩm nhiệt đới ở Tây Phi. Đã kiến nghị phân cấp cây rừng thành 5 cấp.W (1952) phân rừng ở Nigeria thành 6 tầng, tương ứng với chiều cao là 6- 12m, 12 - 18m, 18 - 24m, 24 - 30m, 30 - 36m, 36 - 42m, nhưng thực chất đây chỉ là các lớp chiều cao.P (1971) nghi ngờ sự phân tầng rừng rậm nơi có độ cao dưới 600m ở Puecto Rico và cho rằng không có sự tập chung khối tán ở một tầng riêng biệt nào cả.W (1968) [4] đã đi sâu vào nghiên cứu cấu trúc rừng mưa nhiệt đới về mặt hình thái. Theo tác giả, điểm đặc biệt của rừng mưa nhiệt đới là tuyệt đại bộ phận đều thuộc cây thân gỗ và có nhiều tầng. Ông nhận định: “Rừng mưa thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kì nhất vể mặt cấu tạo và phong phú nhất về mặt loài cây”.

Như vậy, nghiên cứu về tầng cây thứ theo chiều cao còn mang tính cơ giới, nên chưa phản ánh được sự phân tầng phức tạp của rừng tự nhiên nhiêt đới. Việc nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên đã và đang chuyển từ mô tả định tính sang định lượng với sự hỗ trợ của thống kê toán học và tin học.L (1971) đã biểu diễn mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính bằng các hàm hồi quy, phân bố các đường kính ngang ngực, đường kính tán bằng các dạng phân bố xác suất. e 7 Balley (1972) [5] sử dụng hàm weibull để mô hình hóa cấu trúc đường kính thân cây loài thông,… Tuy nhiên, việc sử dụng các hàm toán học cũng không phản ánh hết được mối quan hệ sinh thái giữa các cây rừng với nhau và giữa chúng với các hoàn cảnh xung quanh, nên các phương pháp nghiên cứu cấu trúc này không được vận dụng trong đề tài. Các nghiên cứu ở Thái Lan, Philipin và Malaisia cho thấy nhiều giống cây trồng địa phương đã và đang bị thay thế bằng những giống cây khác, cây nhập nội.

Báo cáo của FAO (1996) trích dẫn nghiên cứu ở Hàn Quốc cho thấy 74% giống của 14 loài cây trồng phổ biến trên trang trại 1985 thì đã bị thay thế vào năm 1993. Tại Châu Phi thì việc suy thoái và phá hủy rừng là những nguyên nhân chính của việc suy thoái nguồn gen. Báo cáo từ hầu hết các nước Mỹ La tinh cũng cho thấy sự suy giảm nguồn gen của những loài cây lâm nghiệp có giá trị kinh tế. Cấu trúc rừng là hình thức biểu hiện bên ngoài của những mối quan hệ qua lại bên trong giữa thực vật rừng với nhau và giữa chúng với môi trường sống.

Nghiên cứu cấu trúc rừng để biết được những mối quan hệ sinh thái bên trong của quần xã, từ đó có cơ sở đề xuất các biện pháp tác động phù hợp vào rừng là rất cần thiết. Trong một thời gian dài, vấn đề duy trì và điều tiết rừng đã được bàn luận và có rất nhiều quan điểm khác nhau, đặc biệt là việc đề xuất các tác động xử lý đối với rừng tự nhiên nhiệt đới. Nhiều phương thức lâm sinh ra đời và được thử nghiệm ở nhiều nơi trên thế giới như phương thức chặt cải thiện (RIF, 1927).N(1962) [6] đã nghiên cứu về vấn đề cơ sở sinh thái học kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong đó đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên. Theo tác giả, các phương thức sử lý đều có hai mục tiêu rõ rệt: “Mục tiêu thứ nhất làm cải thiện rừng nguyên sinh vốn thường hỗn loài và không đồng tuổi bằng cách e 8 đào thải những cây quá thành thục và vô dụng để tạo không gian thích hợp cho các loài cây còn lại sinh trưởng.

Mục tiêu thứ hai là tạo lập tái sinh bằng cách xúc tiến tái sinh, thực hiện tái sinh nhân tạo hoặc giải phóng lớp cây tái sinh sẵn có đang ở trạng thái ngủ để thay thế cho những cây đã lấy ra khỏi rừng trong khai thác hoặc trong chăm sóc nuôi dưỡng rừng sau đó”. Từ đó, tác giả này đưa ra những tổng kết hết sức phong phú về các tác động xử lý lâm sinh nhằm đem lại rừng cơ bản là đều tuổi, rừng không đều tuổi và các phương thức xử lý rừng mưa. Từ việc vận dụng các lí luận về sinh thái, tái sinh, cấu trúc rừng trên, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã vận dụng vào nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái cho từng cây. Một vài công trình nghiên cứu có thể kể tới như : Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới (World Agroforestry centre, 2006), Anon (1996), Keble và Sidiyasa (1994) đã nghiên cứu đặc điểm của loài Vối thuốc (Schima Wallichii) và đã mô tả chi tiết về đặc điểm hình thái thân, lá, hoa, quả, hạt của cây này, góp phần cung cấp cơ sở cho việc gây trồng và nhân giống loài Vối thuốc trong các dự án trồng rừng ( dẫn theo Hoàng Văn Chúc, 2009) [7].

Tian – XiaoRui trong công trình nghiên cứu về khả năng chống chịu lửa của một số loài cây trồng rừng đã rút ra kết luận, Vối thuốc (S Wallichii), Castanopsis hystrix và Myrica Rubra có sức chống lửa tốt nhất trong tổng số 12 loài cây nghiên cứu. Vối thuốc là loài cây ưa sáng, biên độ sinh thái rộng, phân bố rải rác ở phía Đông Nam Châu Á. Vối thuốc xuất hiện ở nhiều vùng rừng thấp ( phía nam Thái Lan) và cả ở các vùng cao hơn (Nepal) cũng như các vùng có khí hậu lạnh. Là cây bản địa của Trung Quốc, Lào, Myanma, Nepal, Ấn Độ, Brunei, Papua New Guinea, Thái Lan, Phillipines, và cả Việt Nam (World Agoforestry Centre, 2006).

Vối thuốc thường mọc thành quần thụ từ nơi đất thấp đến núi cao, phân bố ở rừng thứ sinh, nơi đồng cỏ, cây bụi, và ngay cả e 9 nơi ngập nước có độ mặn nhẹ. Vối thuốc có thể mọc trên nhiều loại đất với thành thành phần cơ giới và độ phì khác nhau. Từ đất cằn cỗi xương xẩu khô cằn đến đất phì nhiêu, tươi tốt, có thể thấy Vối thuốc xuất hiện nơi đầm lầy. Vối thuốc là loài cây tiên phong sau nương rẫy (Laos Tree Seed project, 2006) (dẫn theo Hoàng Văn Chúc, 2009).

Theo Khamleck (2004) Họ Dẻ có phân bố khá rộng với khoảng 900 loài chúng tìm thấy được ở Đông Bắc bán cầu, cận nhiệt đới và nhiệt đới xong chưa có tài liệu nào công bố chúng ở vùng nhiệt đới Châu Phi. Hầu hết các loài phân bố tập chung ở Châu Á, đặc biệt ở Việt Nam vởi 216 loài và ít nhất Châu Phi và Địa Trung Hải chỉ có 2 loài ( Dẫn theo Trần Hợp, 2002) [8]. Như vậy với các công trình nghiên cứu về lí thuyết sinh thái tái sinh cấu trúc rừng tự nhiên cũng như đặc điểm sinh học, sinh thái đối với một số loài cây như trên đã làm sáng tỏ những đặc điểm cấu trúc, tái sinh của rừng nhiệt đới nói chung. Đó là cơ sở để lựa chọn cho hướng nghiên cứu của luận văn.

Nghiên cứu về cây Nghiến • Tên gọi, phân loại Nghiến có tên khoa học ( Excentrodendron tonkinense (Gagnep) chang & Miau, 1978) họ đay Tiliaceace, bộ bông Malvales.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu đặc điểm lâm học loài Nghiến Excentrodendron Tonkinense tại Vườn Quốc Gia Ba Bể, Bắc Kạn" tập trung vào việc phân tích các đặc điểm sinh thái, cấu trúc quần thể và điều kiện môi trường sống của loài Nghiến, một loài cây quý hiếm tại khu vực này. Nghiên cứu cung cấp thông tin chi tiết về sự phân bố, tình trạng bảo tồn và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của loài, giúp các nhà quản lý và nhà khoa học đưa ra các biện pháp bảo tồn hiệu quả. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến lĩnh vực lâm nghiệp và bảo tồn đa dạng sinh học.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu tương tự, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp nghiên cứu lượng vật rơi rụng ở một số kiểu rừng tự nhiên và rừng trồng tại vườn quốc gia cúc phương ninh bình, Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp nghiên cứu bảo tồn các loài cây họ ngọc lan magnoliaceae tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên thanh hóa, và Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên rừng nghiên cứu bảo tồn loài xá xị cinnamomum parthenoxylonjack meisn tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên tỉnh thanh hóa. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về các phương pháp bảo tồn và quản lý tài nguyên rừng tại Việt Nam.