Đặt vấn đề Mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường, khí hậu và đa dạng sinh học từ lâu đã trở thành trọng tâm nghiên cứu của sinh thái học. Theo Florian và ctv (2015), lượng mưa thay đôi có thể thay đổi thành phần loài của quần xã thực vật và chức năng của hệ sinh thái, dẫn đến mối quan hệ chặt chẽ giữa đa dạng loài và đa chức năng của hệ sinh thái. Mellado và ctv (2016) cho rằng thành phần loài của quần xã cũng bị anh hưởng mạnh bởi các yếu tố môi trường. Bên cạnh đó, sự thay đổi của các yếu tố môi trường làm đa dạng hóa môi trường sống, dẫn đến sự khác biệt về thành phần loài giữa các vùng (Peringer và ctv, 2017).
Trong các kiểu HST trên cạn thì rừng có sự đa dang về thành phan loài cao nhất, đồng thời đây cũng là nơi cư trú của nhiều loài động, thực vật hoang da và vi sinh vật có giá trị kinh tế và khoa học. Sự phong phú về loài, mức độ phong phú và giá trị tầm quan trọng của các loài trong mỗi kiểu quần xã là khác nhau. Mức độ phong phú của các loài rụng lá trong hầu hết các kiểu quần xã cao hơn so với các loài thường xanh, trong khi mức độ phong phú và diện tích cơ bản của các loài rụng lá ở cấp đường kính trung bình (15 em < D¡ < 30 em) và cấp đường kính lớn (D¡; > 30 cm) thấp hon so với kiểu quần xã thường xanh (Qichi Yang và ctv, 2021). Sự phong phú của các loài trong các quan xã này có tương quan nghịch với độ dốc, vị trí độ dốc.
Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu tiếp cận gần với xích đạo. Chính những điều kiện địa hình, khí hau, thé nhưỡng đa dạng đã tạo ra các loại HST rừng trải dọc các vùng lãnh thổ. Theo World Bank (2005), Việt Nam có đa dạng sinh học đứng thứ 16 trên thế giới với nhiều kiểu HST, các loài sinh vật và nguồn gen phong phú và đặc hữu. Vienna (2012) cho rằng, đa dạng sinh học càng cao thì khả năng phát hiện ra nhiều loài được liệu quý, phát triển kinh tế, và ứng phó với những thách thức của biến đổi khí hậu càng cao.
Theo quyết định 1558/QD-BNN-TCLN ngày 13/4/2021 của Bộ NN và PTNN (2021), diện tích đất có rừng đủ tiêu chuẩn dé tinh tỷ lệ che phủ toàn quốc là 13.185 ha rừng tự nhiên, 4.030 ha rừng trồng: tỷ lệ che phủ là 42,01%. Trong đó, tỉnh Ninh Thuận, diện tích đất có rừng là 155.394 ha, rừng tự nhiên có 146.032 ha rừng trồng; tỷ lệ che phủ 45,66%. Huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo nhưng lại có những đặc điểm của khí hậu lục bán khô hạn; lượng mưa it; mùa khô rõ rệt, kéo dai từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Trên nền khí hậu khô hạn đã tạo nên một loại rừng hoàn toàn đặc trưng về cấu trúc và tính chất rất đặc biệt là rừng lá rộng rụng lá.
Theo thông tư số 33/2018/TT - BNNPTNT, rừng lá rộng rụng lá là rừng có các loài cây gỗ, rụng lá toàn bộ theo mùa chiếm trên 75% số cây; mùa khô hau hết các loài cây rừng đều rụng lá dé giảm thoát hơi nước; mùa mưa, sự cân bằng nước trở lại thuận lợi và cây ra lá mới. Phân chia rừng theo trữ lượng, rừng nghèo có trữ lượng cây đứng từ lớn hon 50 đến 100 m*/ha. Rừng lá rộng rụng lá, trong thời gian khô hạn cây rụng trụi lá mở ra tang tán, cho ánh sáng chiếu xuống tầng dưới tán rừng tạo điều kiện cho bụi rậm phát triển nên rừng lá rộng rụng lá theo mùa thường có hai tầng, tầng cây gỗ lớn và tầng cây bụi. Theo Nguyễn Xuân Đặng và Lương Văn Dũng (2012), rừng thưa cây họ Dầu (rừng rụng lá) thường chỉ có 3 tầng: 1 tầng cây gỗ, tang cây bụi va tầng thảm tươi.
Nguyễn Hoài Bính (2012), nghiên cứu đặc điểm lâm học của rừng khộp tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Sắt, tỉnh Ninh Thuận, cho thấy rừng rụng lá theo mùa có hệ thực vật tương đối phong phú và đa dạng, trong đó số loài cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) chiếm số lượng lớn. Ngoài ra còn có một số họ khác như họ Đậu (Fabaceae), họ Đào lộn hột (Annacardiaceae), họ Bàng (Combretaceae), họ Vú sữa (Sapotaceae). nhưng số lượng không nhiều. Vũ Anh Tài và Đinh Thị Hoa (2017), đánh giá đa dạng thảm thực vật ở khu bảo tôn thiên nhiên Mường Nhé, kết quả cho thấy mật độ cây gỗ khá cao vì có nhiều cây gỗ tái sinh, đạt 313 cây/ha; rừng nghèo, trữ lượng còn khoảng trên 60 m”/ha, không còn cây vượt tán và đa số cây có đường kính gốc dao động trong khoảng 15 đến 25 cm.
Đề đánh giá mức độ đa dạng sinh học của kiểu rừng tự nhiên lá rộng rụng lá tại khu vực Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận và có biện pháp lâm sinh phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh rừng, cần có những cơ sở khoa học về đặc điểm cấu trúc, thành phần loài và các chỉ số thể hiện sự đa dạng sinh học của kiểu rừng này. Trong khuôn khô của luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Lâm học, tác giả tiến hành nghiên cứu “Đặc điểm cấu trúc và da dạng loài cây gỗ ở rừng tự nhiên lá rộng rụng lá nghèo tại khu vực Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận” nhằm cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc bảo tồn đa dang sinh học và làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hướng tới mục tiêu nâng cao năng suất và chất lượng vốn rừng tại khu vực nghiên cứu nói riêng và địa bàn tỉnh Ninh Thuận nói chung. Mục tiêu nghiên cứu Xác định đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ lớn, tầng cây tái sinh và tính đa dạng loài cây gỗ ở kiểu rừng tự nhiên lá rộng rụng lá nghèo tại khu vực Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận làm cơ sở khoa học cho quản lý rừng và bảo tồn đa dạng sinh học. Mục tiêu cụ thể Xác định kết cấu loài cây gỗ, cau trúc quan thụ và tình hình tái sinh tự nhiên dưới tán rừng của kiểu rừng tự nhiên lá rộng rụng lá nghẻo tại khu vực nghiên cứu.
Phân tích đa dạng loài cây gỗ đối với những quan xã thực vật của kiểu rừng tự nhiên lá rộng rụng lá nghèo tại khu vực nghiên cứu. Đề xuất các biện pháp kỹ thuật trong quản lý rừng và bảo tồn đa dạng thực vật tại khu vực nghiên cứu. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu là những loài thực vật thân gỗ và các quần xã thực vật của kiểu rừng tự nhiên lá rộng rụng lá nghèo tại khu vực Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận. - Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được thực hiện trên những diện tích rừng lá rộng rụng lá nghèo thuộc lô 2, khoảnh 3, tiêu khu 29b với điện tích 108,28 ha, ở độ cao khoảng 300 — 500 m, độ dốc 15 — 20° tại lâm phận huyện Bác Ai, tinh Ninh Thuận.
(Nguồn: Ban quản lý rừng Công ty lâm nghiệp Tân Tiến) Ý nghĩa của đề tài Về lý luận, đề tài cung cấp những thông tin về đặc điểm cấu trúc của tầng cây gỗ lớn và tầng cây tái sinh và tính đa dạng loài cây gỗ ở kiểu rừng tự nhiên lá rộng rụng lá nghẻo tại khu vực Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận. Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp những thông tin làm cơ sở khoa học cho quản lý rừng và bảo tồn đa dạng loài cây gỗ tại khu vực nghiên cứu. Chương Ï TÔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu về cấu trúc rừng 1.
Những nghiên cứu về cấu trúc rừng trên thế giới Trên thế giới, nghiên cứu cấu trúc rừng đã được các nhà khoa học Lâm nghiệp đề cập vào thập niên 50 va 60 của thế kỷ XX, một số nha lâm học như: Maurand (1952); Rollet (1952); Vidal (1958) và Schmid (1962) đã có những khảo sát về hệ thực vật rừng Đông Dương. Baur (1979), nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học nói chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong đó có nghiên cứu các nhân tô cau trúc rừng, các kiểu xử lý lâm sinh áp dụng cho rừng mưa nhiệt đới. Trong nghiên cứu cấu trúc rừng, những vấn đề đặt ra không chỉ bao gồm thành phần loài cây gỗ và trữ lượng rừng mà còn hiểu rõ hơn về kết cấu loài cây gỗ, cau trúc quan thụ, tái sinh tự nhiên và diễn thé rừng. Những thông tin về kết cau loài cây gỗ và cấu trúc quần thụ là cơ sở khoa học để phân chia các kiểu rừng thành những kiểu QXTV.
Phương pháp đánh giá vai trò của những loài cây gỗ trong các QXTV là nhiệm vụ quan trọng trong nghiên cứu về cau trúc rừng. Kết cau loài cây gỗ trong QXTV đã được các tác giả mô tả và phân tích không chỉ theo không gian và thời gian mà còn theo những điều kiện sinh thái khác nhau. Điển hình như các nghiên cứu của Baur (1964), Mellado và ctv (2016), Peringer và ctv (2017). Về cấu trúc tổ thành Cấu trúc rừng đóng vai trò rất quan trọng trong quản lý bền vững tài nguyên rừng.
Trong đó, cấu trúc tổ thành là nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến cấu trúc sinh thái và hình thái của rừng; cấu trúc tô thành khác nhau sẽ dẫn đến sự khác nhau tương ứng về các đặc trưng cấu trúc khác của rừng. Tổ thành rừng là chỉ tiêu quan trọng dé đánh giá mức độ đa dạng sinh học, tính ôn định, tính bền vững của hệ sinh thái rừng. Vì vậy, nghiên cứu cấu trúc tô thành được xem như công việc đầu tiên và quan trọng trong nghiên cứu cấu trúc rừng. Richards (1952), cho rằng trong rừng mưa nhiệt đới, trên mỗi ha có hơn 40 loài cây gỗ, có trường hợp còn trên 100 loài.
Nhiều loài cây gỗ lớn sinh trưởng hỗn giao với nhau theo tỷ lệ khá đồng đều, nhưng cũng có khi có một hoặc hai loài chiếm ưu thế. Rừng mưa thường có nhiều tang (thường có 3 tang, ngoại trừ tang cây bụi và tầng cây thân cỏ). Trong rừng mưa nhiệt đới ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và các loài thân cỏ còn có nhiều loài cây leo đủ hình dang và kích thước, cùng nhiều thực vật phụ sinh trên thân cây, cành cây. “Rừng mưa thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt cấu tạo và cũng phong phú nhất về mặt loài cây”.