Đặt vấn đề Bảo tồn đa dạng sinh học được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng và là trọng tâm đối với sự phát triển trên toàn thế giới. Với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế xã hội cùng với sự quản lý tài nguyên sinh học còn yếu kém đã làm cho đa dạng sinh học (ĐDSH) bị suy thoái ngày càng nghiêm trọng. Sự mất mát về ĐDSH hiện nay là đáng lo ngại, nhiều loài động thực vật bị đe dọa và bị tuyệt chủng mà nguyên nhân chủ yếu là do con người sử dụng tài nguyên không hợp lý. Do đó, việc quản lý tài nguyên và bảo tồn ĐDSH là thực sự cần thiết và cấp bách.
Loài Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) là một trong số 33 loài cây lá kim bản địa ở Việt Nam, có phân bố tự nhiên hiện còn sót lại ở vùng núi cao thuộc các tỉnh phía bắc Việt Nam. Đây là loại cây gỗ lớn, gỗ lá kim, thớ gỗ đẹp và đặc biệt là có chứa tinh dầu trong các thành phần của cây, thường mọc trên các đỉnh núi đá có độ cao từ 500 – 1500m so với mặt nước biển như Hà Giang, Sơn La, Nghệ An, Thanh Hóa. Loài này mang nhiều ý nghĩa về sinh thái, giá trị thương mại, giá trị sử dụng, giá trị văn hóa cảnh quan. Hiện nay vùng phân bố tự nhiên bị thu hẹp nhanh chóng và một số cá thể trưởng thành của loài bị giảm sút nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do khai thác gỗ vì mục đích thương mại và xây dựng, làm hàng mỹ nghệ, điều kiện hoàn cảnh sống thay đổi, quần thể bị chia cắt, khả năng tái sinh kém.
Vì vậy, loài này đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Cần phải có ngay biện pháp kịp thời để bảo tồn và hướng tới phát triển nhân rộng loài cây gỗ quý, hiếm ở vùng núi đá vôi. Hiện trạng quốc gia đề xuất qua đánh giá đang bị tuyệt chủng A2c, B2ab (I - V). Ở trên thế giới Sa mộc dầu được đánh giá ở mức Sắp bị tuyệt chủng A1c, tuy nhiên hiện trạng quốc tế này được NCG đánh giá lại trong tài liệu này là Đang bị tuyệt chủng A1c.
Ở Việt Nam do kích thước các quần thể nhỏ, phân bố hạn chế ở một số địa điểm tại ba tỉnh và và các khu rừng này bị phá do phát nương làm rẫy nên loài này đáp ứng tiêu chuẩn IUCN 2001 ở mức sắp bị tuyệt chủng [18]. n 2 Những nghiên cứu về Sa mộc dầu ở nước ta còn nhiều hạn chế,chủ yếu tập trung ở các tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An, nơi con nhiều cá thể Sa mộc dầu lớn tập trung. Các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào việc sơ bộ mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái, những thông tin về khả năng tái sinh ngoài tự nhiên còn rất ít. Để bảo tồn loài quý hiếm này cần thiết phải có những nghiên cứu sâu về đặc điểm hình thái, sinh thái học và vật hậu.
Vì vậy việc nghiên cứu hiện trạng phân bố, đặc điểm lâm học và khả năng tái sinh tự nhiên là điều cần thiết, góp phần giải quyết các các vấn đề đang đặt ra cho công tác bảo tồn một loài quý hiếm, đặc hữu, có giá trị về nhiều mặt nhưng đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Xuất phát từ những nguy cơ trên cần thiết phải tìm hiểu nhằm tìm ra các biện pháp có hiệu quả để bảo vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và phân bố của loài Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata ) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha,huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La”.Mục đích nghiên cứu Dựa trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm lâm học loài Sa mộc dầu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, tỉnh Sơn La nhằm cung cấp thêm thông tin, cơ sở khoa học để phát triển và bảo tồn loài cây quý này. Mục tiêu nghiên cứu 1.Về lý luận Xác định được một số đặc điểm lâm học như: sinh thái, phân bố, hình thái, vật hậu, cấu trúc, tái sinh của Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, tỉnh Sơn La. Về thực tiễn - Nâng cao được nhận thức của các nhà quản lý có cái nhìn tổng thể hơn về công tác quản lý bảo vệ rừng tại khu vực nghiên cứu, từ đó có những điều chỉnh hợp lý nhằm đem lại hiệu quả cao trong quản lý bảo vệ tài nguyên rừng.
n 3 - Xây dựng cơ sở khoa học đưa ra giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata), nâng cao tính đa dạng sinh học. - Cung cấp những thông tin nghiên cứu giúp mọi người hiểu biết thêm về loài cây này. - Có được một tài liệu tham khảo cho một số công tác nghiên cứu về cây Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata).Ý Nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập Giúp trau dồi, củng cố thêm kiến thức về các loài thực vật, đưa kiến thức đã học vào thực tiễn để tiến hành thu thập thông tin, phân tích xử lý số liệu ở ngoài thực tiễn.
Ý nghĩa ngoài thực tiễn Biết được đặc điểm phân bố, đặc điểm sinh thái, đặc điểm cấu trúc, tình trạng và vai trò của loài Sa mộc dầu; Từ nghiên cứu đưa ra các biện pháp bảo tồn loài một cách tốt nhất. Giới hạn nghiên cứu - Về đối tượng: Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) phân bố ở rừng tự nhiên. - Về phạm vi và địa điểm nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, tỉnh Sơn La. - Về nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu một số đặc điểm cơ bản của loài Sa mộc dầu gồm: Đặc điểm hình thái và vật hậu; phân bố và sinh thái; cấu trúc lâm phần; tái sinh tự nhiên và đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong gây trồng.
n 4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của nghiên cứu Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho nguồn tài nguyên ĐDSH của Việt Nam đã và đang bị suy giảm. Nhiều hệ sinh thái và môi trường sống bị thu hẹp diện tích và nhiều Taxon loài và dưới loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng trong một tương lai gần. Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN 1978[18], Việt Nam cũng công bố trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007 [3] phần II Thực vật để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên phân chia ra các thứ hạng sau: + Bị tuyệt chủng (EX) + Tuyệt chủng trong tự nhiên(EW) Nhóm các loài nguy cấp được chú trọng bảo vệ hàng đầu gồm các phân hạng chính sau: + Cực kì nguy cấp(CR) + Nguy cấp (EN) + Sắp nguy cấp (VU) Nhóm các loài ít nguy cấp: + Ít nguy cấp: (LR) - Phụ thuộc bảo tồn: (LR/cd) - Sắp bị đe dọa: (LR/nt) - Ít quan tâm: Least Concern (LR/lc) + Thiếu dẫn liệu: Data Deficient (DD) + Không đánh giá: Not Evaluated (NE) Để bảo vệ và phát triển các loài Động thực vật quý hiếm Chính phủ đã ban hành Nghị định số 32/2006/NĐ-CP[6].
Nghị định quy định các loài động, thực vật quý, hiếm gồm hai nhóm chính: + IA,B Thực vật rừng, động vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại (IA đối với thực vật rừng). n 5 + IIA,B Thực vật rừng, động vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại (IIA đối với thực vật rừng). Căn cứ vào phân cấp bảo tồn loài và ĐDSH tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, tỉnh Sơn La có rất nhiều loài động thực vật được xếp vào cấp bảo tồn CR, EN và VU cần được bảo tồn, nhằm gìn giữ nguồn gen quý giá cho thành phần đa dạng sinh học ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, một trong những loài thực vật cần được bảo tồn đó chính là Sa mộc dầu tại Khu bảo tồn, đây là cơ sở khoa học đầu tiên giúp tôi tiến đến nghiên cứu và thực hiện đề tài. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 2.Thế giới Sa mộc dầu ( Cunninghamia konishii Hayata) thuộc họ Hoàng Đàn – Cupressaceae, thuộc Bộ Thông – Coniferales.
Tên khác: Cunninghamia kawakami Hayata; Cunninghamia lanceolata (Lamb. konishii; Cunninghamia lanceolata auct. Sa mộc dầu (danh pháp khoa học là Cunninghamia konishii Hayata), là một loài thực vật Hạt trần, thuộc họ Hoàng Đàn, Bộ Thông. Họ Hoàng Đàn bao gồm các loài cây thân gỗ hay cây bụi, có cơ quan sinh dục hoặc là đơn tính cùng gốc, hoặc là đơn tính cận khác gốc, đôi khi là đơn tính khác gốc, cao từ 1–116 m.
Vỏ cây của các cây trưởng thành nói chung có màu từ nâu da cam tới nâu đỏ với kết cấu có thớ, thường bong ra hay dễ lột theo chiều dọc, nhưng lại trơn, xếp vảy hoặc cứng và dễ vỡ thành miếng hình vuông ở một số loài. Lá của chúng hoặc là mọc thành vòng xoắn ốc, theo các cặp chéo chữ thập (các cặp đối, mỗi cặp cách cặp trước 90°) hoặc thành vòng xoắn chữ thập gồm 3 hay 4 lá, phụ thuộc vào từng chi. Trên các cây non các lá có hình kim, trở thành các lá giống như vảy nhỏ trên các cây trưởng thành của nhiều chi (nhưng không phải tất cả); một số chi và loài duy trì các lá hình kim trong suốt cuộc đời chúng. Các lá già phần lớn không rụng riêng lẻ, mà thường rụng dưới dạng các cành lá nhỏ (cladoptosis); các ngoại lệ là các lá trên các cành non đã phát triển thành cành lớn, chúng cuối cùng rụng một cách riêng rẽ khi n 6 vỏ cây bắt đầu bong ra.
Phần lớn là cây thường xanh với các lá tồn tại từ 2-10 năm, nhưng có 3 chi (Glyptostrobus, Metasequoia, Taxodium) là các loài cây sớm rụng lá hoặc bao gồm các loài có lá sớm rụng. Quả nón của chúng hoặc là dạng gỗ, dai như da, hoặc (chi Juniperus) là dạng giống như quả mọng và nhiều thịt, với một hoặc nhiều noãn trên một vảy. Các lá bắc (vảy bắc) và lá noãn (vảy noãn) hợp nhất cùng nhau, ngoại trừ ở phần đỉnh, tại đó các lá bắc thường được nhìn thấy như là một gai ngắn (mấu lồi) trên lá noãn. Giống như cách sắp xếp của bộ lá, các vảy của nón hoặc là sắp xếp thành vòng xoắn ốc chữ thập (đối) hoặc thành vòng xoắn, phụ thuộc vào từng chi.