Tổng quan nghiên cứu

Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông tại tỉnh Hòa Bình sở hữu tổng diện tích quy hoạch 19.254 ha, giữ vị trí then chốt trong hành lang sinh thái nối liền Vườn quốc gia Cúc Phương (22.220 ha) và Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (17.662 ha). Hệ sinh thái núi đá vôi đặc trưng nơi đây ghi nhận sự phong phú với 93 loài thú, 253 loài chim, 48 loài bò sát, 34 loài lưỡng cư và 27 loài cá. Dù đóng vai trò vùng đệm chuyển tiếp trọng yếu giữa miền núi Tây Bắc và đồng bằng châu thổ sông Hồng, khu vực trung tâm dãy núi đá vôi này từng đối mặt với tình trạng thiếu hụt dữ liệu điều tra chuyên sâu về thú ăn thịt (Carnivora) – nhóm sinh vật tiêu thụ bậc cao có ý nghĩa sống còn trong việc điều hòa chuỗi thức ăn và chỉ thị sức khỏe hệ sinh thái.

Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường của tác giả Nguyễn Bình Định được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống học thuật này. Mục tiêu nghiên cứu bao gồm: đánh giá toàn diện tính đa dạng thành phần loài, xác định đặc điểm phân bố và hiện trạng của các loài ưu tiên bảo tồn, nhận diện các mối đe dọa sinh thái, đồng thời đề xuất giải pháp quản lý bền vững.

Phạm vi nghiên cứu triển khai từ tháng 4 năm 2015 đến tháng 11 năm 2015 tại 7 xã thuộc hai huyện Lạc Sơn và Tân Lạc, tập trung khảo sát chuyên sâu tại xã Tự Do và xã Ngổ Luông. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng phục vụ trực tiếp công tác quản trị 16.833,1 ha rừng đặc dụng, bảo tồn các nguồn gen quý hiếm và duy trì tính kết nối sinh thái bền vững cho toàn bộ cảnh quan Tây Bắc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng nền tảng Thuyết sinh thái học cảnh quan và Thuyết cân bằng chuỗi thức ăn, kết hợp Mô hình Đánh giá Giảm thiểu Mối đe dọa (Threats Reduction Assessment - TRA) do Margoluis và Salafsky công bố năm 2001. Trong mạng lưới dinh dưỡng nhiệt đới, các loài thú ăn thịt thuộc bộ Carnivora đóng vai trò kiểm soát kích thước quần thể động vật ăn cỏ, điều tiết các loài gặm nhấm và hỗ trợ phát tán hạt giống tái sinh rừng tự nhiên.

Bên cạnh đó, đề tài xây dựng trên 4 khái niệm then chốt: sinh cảnh Karst nhiệt đới núi đá vôi, hành lang đa dạng sinh học liên kết vùng, loài nguy cấp ưu tiên bảo tồn và áp lực sinh thái nhân sinh. Mô hình TRA được sử dụng để lượng hóa các tác động tiêu cực đến khu hệ thú dựa trên 3 tiêu chí định lượng: phạm vi ảnh hưởng (tỷ lệ diện tích rừng bị tác động), cường độ tàn phá (mức độ suy thoái đa dạng sinh học) và tính cấp thiết thời gian (tính liên tục của mối nguy hại trong thực tế).

Phương pháp nghiên cứu

Để bảo đảm tính đại diện và độ tin cậy khoa học, nghiên cứu đã thiết lập 9 tuyến điều tra thực địa cố định với tổng chiều dài khảo sát hơn 16 km, chiều dài mỗi tuyến dao động từ 1.205 m đến 2.399 m trải đều qua 4 dạng sinh cảnh chính. Mỗi tuyến được điều tra lặp lại từ 5 đến 7 lần cả ban ngày lẫn ban đêm nhằm ghi nhận trực tiếp cá thể hoặc gián tiếp qua tiếng kêu, dấu chân, phân và vết cào bằng tọa độ định vị GPS. Phương pháp chọn mẫu tuyến có định hướng được ưu tiên nhờ khả năng tối ưu hóa việc phát hiện các loài thú ăn thịt có tập tính lẩn tránh và hoạt động đêm trong địa hình núi đá vôi chia cắt phức tạp.

Nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn bán định hướng trên 2.164 hộ dân, tập trung vào thợ săn kinh nghiệm và cán bộ kiểm lâm địa bàn tại các xóm Kháy, xóm Rì (xã Tự Do) và xóm Trẩm (xã Ngổ Luông). Quá trình điều tra sử dụng bộ tranh ảnh hình thái chuẩn hóa kết hợp phân tích trực tiếp các mẫu vật thực tế như hộp sọ, da lông, xương, đuôi thu thập tại bảo tàng và nhà dân. Toàn bộ dữ liệu được tổng hợp, xử lý trên phần mềm MapInfo 10 và Excel, đối chiếu phân loại học chuẩn xác theo các công trình của Wilson và Reeder (2005), Sách Đỏ IUCN (2014), Sách Đỏ Việt Nam (2007) cùng Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu đã ghi nhận 26 loài thú ăn thịt thuộc 6 họ, tất cả đều thuộc bộ Ăn thịt (Carnivora). Cấu trúc phân loại cho thấy họ Cầy (Viverridae) chiếm ưu thế lớn nhất với 8 loài (tỷ lệ 30,77%), họ Triết (Mustelidae) đứng thứ hai với 7 loài (tỷ lệ 26,92%), họ Mèo (Felidae) có 6 loài (tỷ lệ 23,08%), họ Gấu (Ursidae) có 2 loài (tỷ lệ 7,69%), họ Cầy lỏn (Herpestidae) có 2 loài (tỷ lệ 7,69%) và họ Chó (Canidae) ghi nhận 1 loài (tỷ lệ 3,85%).

Thứ hai, giá trị bảo tồn của khu hệ đạt mức đặc biệt cao với 18 loài nằm trong danh mục ưu tiên bảo tồn cấp thiết (chiếm 69,23% tổng số loài). Danh lục này bao gồm 9 loài ghi tên trong Sách Đỏ IUCN (2014) với 3 loài Nguy cấp (EN) gồm Sói đỏ, Hổ, Mèo cá; 14 loài thuộc Sách Đỏ Việt Nam (2007) với 2 loài Cực kỳ nguy cấp (CR) là Hổ, Báo hoa mai cùng 8 loài Nguy cấp (EN); 17 loài được pháp luật bảo vệ nghiêm ngặt theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP gồm 12 loài thuộc nhóm IB nghiêm cấm khai thác và 5 loài thuộc nhóm IIB hạn chế sử dụng.

Thứ ba, sự phân bố sinh cảnh có sự phân hóa rõ nét. Sinh cảnh rừng trên núi đá và rừng trên núi đất là hai môi trường cư trú quan trọng nhất, đều ghi nhận sự hiện diện của 24 loài (tương đương 92,31% tổng số loài). Sinh cảnh trảng cỏ, cây bụi là nơi sinh sống của 16 loài (tỷ lệ 61,54%), trong khi sinh cảnh đất nông nghiệp và khu dân cư chỉ ghi nhận duy nhất 1 loài (tỷ lệ 3,85%).

Thứ tư, nghiên cứu thu thập nhiều bằng chứng thực địa giá trị: phát hiện vết cào móng vuốt gấu còn mới trên thân cây tại tọa độ 427235/2263069 (xã Ngọc Sơn), mẫu lông Mèo rừng săn được năm 2007 và mẫu đuôi Cầy gấm tại nhà thợ săn. Tuy nhiên, các loài thú lớn như Hổ, Báo hoa mai, Beo lửa và Sói đỏ gần như đã tuyệt chủng cục bộ khi không còn bất kỳ ghi nhận trực tiếp nào trong nhiều năm qua.

Thảo luận kết quả

Khi so sánh tương quan, số lượng 26 loài thú ăn thịt tại Ngọc Sơn – Ngổ Luông tương đương với Vườn quốc gia Cúc Phương (28 loài trên diện tích 22.220 ha), cao hơn rõ rệt so với Khu bảo tồn Pù Luông (17 loài) và Khu bảo tồn Thượng Tiến (22 loài). Khu hệ này chiếm tới 66,67% tổng số 39 loài thú ăn thịt ghi nhận trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Kết quả này phản ánh tính toàn vẹn sinh thái của các dải rừng nguyên sinh và thứ sinh ít bị xáo trộn tại vùng lõi.

Đánh giá theo phương pháp TRA xác định săn bắn trái phép là mối đe dọa nghiêm trọng nhất, diễn ra mạnh mẽ từ tháng 3 đến tháng 9 bằng các công cụ hủy diệt như bẫy kiềng, súng kíp và bẫy chuồng. Mối đe dọa thứ hai là suy thoái sinh cảnh do khai thác gỗ quý (như gỗ Mun tại Thung La Bán, xóm Đèn) và phá rừng làm nương rẫy với 901 ha đất canh tác xâm lấn. Nguyên nhân gốc rễ bắt nguồn từ khó khăn kinh tế khi tỷ lệ hộ nghèo tại 7 xã dao động từ 56% đến 62,5% (bình quân toàn vùng đạt 58,5%), khiến 48,7% lực lượng lao động địa phương phụ thuộc nặng nề vào việc khai thác lâm sản và động vật hoang dã. Trong báo cáo, các dữ liệu này được trực quan hóa sinh động qua biểu đồ cấu trúc 6 họ thú, biểu đồ cột so sánh mật độ loài theo 4 sinh cảnh và bản đồ phân vùng đe dọa trên nền tảng MapInfo.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tăng cường công tác tuần tra và kiểm soát bẫy bắt: Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông cần phối hợp chặt chẽ với Hạt Kiểm lâm liên huyện Lạc Sơn – Tân Lạc thiết lập 12 tuyến tuần tra định kỳ tại các điểm nóng xã Tự Do và Ngổ Luông; đặt mục tiêu tháo gỡ 100% bẫy thú cơ học và giảm tối thiểu 85% các vụ xâm nhập rừng trái phép trong giai đoạn 2016 – 2020.

Thứ hai, quy hoạch khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt sinh cảnh lõi: Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình và Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn cần hoàn thành cắm mốc ranh giới cho 11.000 ha phân khu bảo vệ nghiêm ngặt trên núi đá vôi; ban hành lệnh đóng cửa rừng tuyệt đối, ngăn chặn triệt để hoạt động khai thác gỗ Mun tại Thung La Bán và xóm Đèn trong vòng 12 tháng kể từ khi đề án được phê duyệt.

Thứ ba, hỗ trợ sinh kế và chuyển đổi cơ cấu kinh tế: Ủy ban nhân dân hai huyện Tân Lạc và Lạc Sơn cần phân bổ nguồn vốn ngân sách triển khai các mô hình nông lâm kết hợp, chăn nuôi gia súc nhốt chuồng và du lịch sinh thái cộng đồng cho 2.164 hộ dân bản địa; phấn đấu hạ tỷ lệ hộ nghèo tại 7 xã vùng đệm xuống dưới 30% vào năm 2025 nhằm giải tỏa áp lực sinh kế đè nặng lên tài nguyên rừng.

Thứ tư, nâng cao nhận thức cộng đồng và thực thi mô hình đồng quản lý: Tổ chức 30 đợt tập huấn tuyên truyền các quy định xử phạt vi phạm động vật hoang dã theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP cho 100% các thôn bản; thành lập 7 tổ bảo vệ rừng tự quản cộng đồng người Mường tại các xóm vùng lõi, gắn kết quyền lợi giao khoán bảo vệ rừng với mức phụ cấp chi trả dịch vụ môi trường rừng định kỳ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất, Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia: Tài liệu cung cấp bộ dữ liệu thực chứng và bản đồ số hóa phân bố loài giúp nhà quản lý xây dựng phương án bảo vệ đa dạng sinh học, điều chỉnh ranh giới phân khu chức năng và tối ưu hóa nguồn lực tuần tra bảo vệ rừng trên diện tích 19.254 ha.

Nhóm thứ hai, Cơ quan quản lý nhà nước và Chi cục Kiểm lâm: Các báo cáo đánh giá mức độ vi phạm và phân tích nguyên nhân kinh tế xã hội là căn cứ khoa học trực tiếp để tham mưu chính sách lâm nghiệp, xây dựng kế hoạch hành động khẩn cấp bảo tồn thú ăn thịt quý hiếm cấp tỉnh.

Nhóm thứ ba, Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Lâm nghiệp, Sinh thái học: Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp điều tra thực địa thú nhỏ, kỹ thuật ứng dụng mô hình TRA định lượng áp lực sinh thái và kỹ năng phỏng vấn dân sinh học trong môi trường rừng Karst nhiệt đới.

Nhóm thứ tư, Các tổ chức bảo tồn phi chính phủ và dự án quốc tế (như FFI, IUCN, WWF): Dữ liệu phân bố của 18 loài ưu tiên bảo tồn là luận cứ then chốt phục vụ công tác thiết kế các dự án viện trợ, thúc đẩy liên kết hành lang xanh Cúc Phương – Ngọc Sơn – Ngổ Luông – Pù Luông với quy mô bảo tồn hơn 50.000 ha.

Câu hỏi thường gặp

Khu hệ thú ăn thịt tại Ngọc Sơn – Ngổ Luông có mức độ đa dạng ra sao so với cả nước? Khu hệ ghi nhận 26 loài thuộc 6 họ thuộc bộ Carnivora, chiếm 66,67% tổng số 39 loài thú ăn thịt toàn quốc. Mức độ đa dạng này tương đương Vườn quốc gia Cúc Phương (28 loài) và vượt trội so với Khu bảo tồn Pù Luông (17 loài), khẳng định vị trí trung tâm đa dạng sinh học của dãy núi đá vôi Tây Bắc.

Tại sao phần lớn các loài thú ăn thịt chỉ tập trung ở sinh cảnh rừng núi đá và rừng núi đất? Rừng trên núi đá và núi đất chiếm hơn 13.942 ha diện tích khu bảo tồn với cấu trúc thảm thực vật nhiều tầng tán, độ che phủ cao và nguồn thức ăn dồi dào. Nghiên cứu ghi nhận 24 trên 26 loài phân bố tại đây nhờ địa hình Karst hiểm trở tạo nơi trú ẩn an toàn, tránh xa sự quấy nhiễu từ con người.

Hiện trạng của các loài thú ăn thịt lớn như Hổ, Báo và Gấu tại khu bảo tồn hiện nay như thế nào? Các loài thú lớn suy giảm nghiêm trọng do áp lực săn bắn kéo dài. Hổ, Báo hoa mai và Beo lửa gần như đã tuyệt chủng cục bộ khi không ghi nhận dấu vết thực địa. Riêng quần thể Gấu ngựa và Gấu chó ước tính chỉ còn từ 1 đến 2 cá thể, minh chứng qua vết cào móng vuốt mới tại xã Ngọc Sơn.

Mô hình Đánh giá Giảm thiểu Mối đe dọa (TRA) được ứng dụng trong nghiên cứu ra sao? Phương pháp TRA định lượng các mối đe dọa sinh thái dựa trên phạm vi, cường độ và tính cấp thiết thời gian. Kết quả chỉ ra hoạt động săn bắt bằng súng tự chế, bẫy cơ học và khai thác gỗ Mun thương mại tại Thung La Bán là những mối nguy hại nghiêm trọng nhất, đòi hỏi phải ưu tiên xử lý khẩn cấp.

Yếu tố đói nghèo của cộng đồng dân cư tác động như thế nào đến tài nguyên thú ăn thịt? Tỷ lệ hộ nghèo tại 7 xã chiếm từ 56% đến 62,5%, trong khi 48,7% dân số trong độ tuổi lao động thiếu việc làm ổn định. Điều kiện kinh tế thuần nông khó khăn khiến người dân phải dựa vào việc vào rừng bẫy bắt thú và khai thác lâm sản trái phép để kiếm thêm thu nhập trang trải sinh hoạt.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập danh lục chuẩn hóa gồm 26 loài thú ăn thịt thuộc 6 họ thuộc bộ Carnivora tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông, tỉnh Hòa Bình.
  • Xác định 18 loài có giá trị bảo tồn cấp thiết, trong đó có 9 loài thuộc Sách Đỏ IUCN (2014), 14 loài thuộc Sách Đỏ Việt Nam (2007) và 17 loài thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP.
  • Chứng minh rừng trên núi đá và rừng trên núi đất là hai sinh cảnh trọng yếu nhất khi cùng nâng đỡ sự sinh tồn của 24 loài thú ăn thịt (chiếm 92,31%).
  • Ứng dụng thành công phương pháp TRA để lượng hóa 2 nhóm áp lực sinh thái cốt lõi: săn bắn trái phép và suy thoái sinh cảnh gắn liền với tỷ lệ nghèo đói 58,5% của cư dân bản địa.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp kỹ thuật, quản lý và sinh kế đồng bộ nhằm bảo vệ toàn diện 19.254 ha diện tích khu bảo tồn trong giai đoạn 2016 – 2025.

Đóng góp của luận văn là tiền đề khoa học vững chắc giúp các cơ quan quản lý và các tổ chức bảo tồn triển khai ngay những hành động thực địa cấp bách, ngăn chặn nguy cơ tuyệt chủng cục bộ và gìn giữ vẹn nguyên nguồn tài nguyên đa dạng sinh học vô giá của quốc gia.