Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Chim nước và phân loại chim nước Chim nước là các loài chim có đời sống gắn liền với nước. Trong phân loại, chim nước gồm các loài trong Bộ Ngỗng (Anseriformes); Bộ Chim Lặn (Podicipediformes); Bộ Bồ Nông (Pelecaniformes); Bộ Hạc (Ciconiiformes); Bộ Sếu (Gruiformes) và Bộ Choi Choi (Charadriiformes). Nghiên cứu về Chim và Chim nước 1.
Sơ lược về lịch sử nghiên cứu chim ở Việt Nam Việt Nam là một trong các nước có khu hệ chim giàu có nhất ở lục địa Đông Nam Á. Tổng số loài chim được ghi nhận ở Việt Nam dao động từ 828 đến 888 loài. Tuy nhiên việc đưa ra một con số chính xác là không thể, do một số loài đã từng được ghi nhận trước đây nay đã tuyệt chủng, ví dụ Diệc (Sumatra Ardea sumatrana) hay Cò quăm lớn (Thaumantibis gigantea), trong khi đó, một số loài mới lại phát hiện bổ sung thêm cho danh sách các loài chim Việt Nam. Sự phong phú về các loài chim có thể do biên độ rộng về kinh độ và vĩ độ của Việt nam đã dẫn đến hình thành nhiều dạng sinh cảnh trải rộng trên đất nước [13].
Nghiên cứu chim ở Việt Nam có thể chia thành bốn giai đoạn sau: Giai đoạn thứ nhất: Có thể tính bắt đầu từ những năm 1870 đến 1920. Trong giai đoạn quan trọng này, đã có bộ sưu tập quan trọng đầu tiên về các loài chim ở Việt Nam của Tirant, người đã thu thập hơn 1.000 tiêu bản ở vùng Nam Bộ vào các năm từ 1875 đến 1878. Các bộ sưu tập quan trọng khác do Germain thu ở vùng Nam Bộ; Kuroda thu ở vùng Bắc Bộ và Kloss thu ở cao nguyên Đà Lạt. Trong số các loài chim do Kloss phát hiện có Khướu đầu đen má xám (Garralax yersini) và Khướu đầu đen (Garralax milleti).
Ngoài ra, 4 còn có một số sưu tập nhỏ hơn của Boutan và Vassal, trong đó có phát hiện về loài Khướu đầu xám (Garrulax vassali). Nghiên cứu học thuật quan trọng nhất về khu hệ chim Việt Nam được thực hiện trong giai đoạn này là Les Oiseaux du Cambodge, du Laos, de l Annam et du Tonkin của Oustales [13]. Giai đoạn thứ hai: Bắt đầu vào cuối năm 1920 đến Thế Chiến thứ II bùng nổ, những đóng góp chủ yếu cho việc nghiên cứu điểu học ở Việt Nam do các tác giả sau đây thực hiện: Delacour và các cộng sự của ông là Jabouille, Engelbach, David Beaulieu, Greenway và Lowe. Giữa các năm 1923 và 1939, Delacour và các cộng sự của ông đã tiến hành sáu đợt thám hiểm điểu học ở Đông Dương, trong thời gian này họ đã thu thập 50.000 tiêu bản chim cùng các số liệu về sinh thái và phân bố.
Những bộ sưu tập này cho đến ngay nay vẫn là bộ sưu tập lớn nhất về các loài chim ở Đông Dương và là cơ sở của công trình mang tên Les Oiseaux de l Indochine Francaise. Các bộ sưu tập quan trọng trong giai đoạn khác này là của H. Stevens thu ở Bắc Bộ, Kelley - Roosevelt cũng thu được ở Bắc Bộ và Bjorkegen là người đã phát hiện ra loài Mi núi Bà (Crosias langbianis) [13]. Giai đoạn thứ ba: Là từ sau Thế chiến thứ hai đến năm 1988.
Phần đầu của giai đoạn này là thời gian chiến tranh liên miên nên nghiên cứu bị hạn chế. Tuy nhiên sau khi kết thúc chiến tranh chống Mỹ và thống nhất đất nước vào năm 1975, công tác nghiên cứu chim được tiếp tục trở lại do các nhà khoa học trong và ngoài nước thực hiện. Công trình nghiên cứu đáng chú ý ở trong giai đoạn này là của Stepanyan và các đồng nghiệp Việt Nam thực hiện ở trong chương trình nghiên cứu Việt - Xô ở Tây Nguyên, kết quả đã công bố trong Xuất bản Các loài chim Việt Nam, trên cơ sở được điều tra 1978 - 1990. Một công trình khác cũng được xuất bản trong giai đoạn này là Chim Việt Nam của Võ Quý, đây là cuốn sách hướng dẫn các loài chim Việt Nam đầu tiên bằng tiếng Việt [13].
5 Giai đoạn thứ tư: Bắt đầu từ năm 1988 với ba đợt khảo sát thực địa của tổ chức bảo tồn chim quốc tế - ICBP (Nay là Birdlife International) tại nhiều vùng trên cả nước, các đợt khảo sát thực địa này là lần khảo sát chim đầu tiên kể từ trước thế chiến thứ II, các chuyến khảo sát này đã rất thành công trong việc phát hiện nhiều loài chim đặc hữu đã không có ghi nhận nào sau hơn nửa thế kỉ. Tiếp theo đó, Birdlife International đã thành lập chương trình quốc gia cùng với đối tác Việt Nam đã tiến hành hàng loạt các đợt khảo sát trên khắp lãnh thổ, kết quả đáng kể nhất của đợt khảo sát này là phát hiện của Eames và các đồng nghiệp về ba loài chim mới cho khoa học là Khướu vằn đầu đen (Actinodura sodangorum), Khướu Ngọc Linh (Garrulax ngoclinhensis) và Khướu Kon Ka Kinh (Garrulax Konkakinhensis), điều đó cho thấy mặc dù công tác nghiên cứu chim đã tiến hành một thế kỉ nhưng vẫn còn các phát hiện mới về chim, khu hệ chim cần khám phá ở các vùng rừng Việt Nam. Trong giai đoạn này ra đời cuốn sách Chim Việt Nam, đây là cuốn sách hướng dẫn có hình vẽ minh hoạ về các loài chim Việt Nam do Nguyễn Cữ và Lê Trọng Trãi và Karen phillipps viết được xuất bản bởi Birdlife International [13]. * Nghiên cứu về các quần xã chim và phân loại các sinh cảnh chim ở Việt Nam: Do phần lớn các loài chim của Việt Nam, các loài chim đặc hữu đã được tìm thấy đều là những loài chim rừng.
Vì vậy, nếu xét trên mức độ liên quan về thành phần các quần xã chim thì rừng Việt Nam có thể chia thành các phân hạng chính như sau [13]: Sinh cảnh rừng thường xanh: Là sinh cảnh chiếm tỉ lệ lớn nhất với khoảng 64% diện tích rừng Việt Nam. Rừng thường xanh phân bố ở các vùng có mưa quanh năm xen lẫn với thời kì khô hạn ngắn, rừng ưu thế bởi các loài cây lá rộng thường xanh quanh năm. Kiểu rừng này có ở nhiều vùng đất thấp 6 ở phía Bắc và miền Trung Việt Nam và ở hầu hết các vùng núi. Các loài chim đặc trưng cho quần xã chim ở quần thể rừng thường xanh đất thấp là: Nhược nâu (Anorrhinus tickelli), Phướn đất (Carprococcyx renauld), Khách đuôi cờ (Temnurus temnurus) và các loài chim đặc hữu trong bộ Gà.
Ở đai cao khoảng 1.000m so với mặt nước biển, rừng thường xanh đất thấp trở thành dạng chuyển tiếp sang Rừng thường xanh trên núi. Rừng thường xanh trên núi có thể chia thành Rừng thường xanh núi thấp phân bố ở đai cao thấp hơn 1.700m so với mặt nước biển, và rừng thường xanh núi cao ở độ cao lớn hơn 1.700m so với mặt nước biển. Quần xã của các loài chim ở kiểu rừng thường xanh núi thấp và núi cao khá giống nhau với sự đa dạng của các loài thuộc nhóm Sáo, Trèo cây, các loài Khướu, và các loài Chim Chích, mặc dù rừng thường xanh núi cao thành phần chim không phong phú bằng rừng thường xanh đất thấp, nhưng có một số loài đặc trưng như Khướu lùn đuôi hung (Minla strigula), Lách tác ngực vàng (Alcippe chryotis) và Khướu mào họng đốm (Yuhina gularis)… Sinh cảnh rừng bán thường xanh: Là rừng hỗn giao giữa các loài cây có lá quanh năm với các loài cây rụng lá. Phân bố ở những vùng có tính thay đổi theo mùa lớn hơn và có phân bố hẹp.
Ở Việt Nam, tập trung nhiều ở vùng Tây Nguyên và vùng đất thấp Việt Nam. Thành phần loài chim của rừng bán thường xanh tương tự với rừng thường xanh trên đất thấp. Sinh cảnh rừng rụng lá: Thường được gọi là rừng khộp, sinh trưởng chậm, rừng thưa, thảm thực bì ưu thế là cỏ và tầng tán ưu thế bởi các loài cây rụng lá trong họ Dầu. Rừng rụng lá phân bố tập trung trên diện tích lớn, mùa khô thể hiện rõ rệt.
Ở Việt Nam rừng khô cây họ Dầu tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên và phân bố thành vạt nhỏ ở vùng ven biển Nam Trung Bộ. Thành phần loài chim không phong phú bằng rừng thường xanh và rừng bán thường xanh do mang nặng tính chất theo mùa và lớp thảm thực bì kém phát triển. 7 Quần xã chim đa dạng bởi các loài Gõ kiến và các loài Vẹt, Diều xám (Butartus liventer), Cắt nhỏ hông trắng (Polihierax insignis), Dẻ quạt mày trắng (Rhipidura aureola), Phường chèo nhỏ (Pericrocotus cinamomeus) và Phường chèo nâu mày trắng (Tephrodornis pondircerianus)… Sinh cảnh rừng trên núi đá vôi: Là Rừng thường xanh phát triển trên nền thổ nhưỡng đá vôi. Trong khi thành phần của quần xã thực vật Rừng trên núi đá vôi không giống với Rừng thường xanh thì thành phần các loài chim ở đây lại tương tự như Rừng thường xanh.
Tuy nhiên, có một số loài chim chỉ phân bố trong kiểu rừng trên núi đá vôi là Khướu đá hoa (Napothera crispifrons), Khướu đá đuôi ngắn (N. brevicaudata), Khướu đá mun (Stachyris herbeti) và một loài Chích chưa mô tả (Phylloscopus). Vùng phân bố toàn cầu của hai loài Khướu đá mun và loài Chích mới ở vùng núi đá vôi thuộc miền Trung Việt Nam và Lào. Sinh cảnh rừng lá kim ưu thế: Là rừng ưu thế bởi các loài cây hạt trần.
Có rất nhiều dạng rừng hỗn giao giữa cây lá kim và cây lá rộng ở Việt Nam, nhưng quần xã chim của các kiểu rừng này tương tự như nhau và cũng không có gì khác biệt lớn so với quần xã chim của kiểu rừng thường xanh. Ở Việt Nam rừng lá kim tự nhiên hầu như chỉ còn phân bố ở cao nguyên Đà Lạt. Kiểu rừng này ưu thế bởi loài Thông ba lá (Pinus kesiya). Ngoài ra còn có những diện tích Thông trồng đáng kể ở khắp cả nước, tuy vậy kiểu rừng này không có tầm quan trọng trong công tác bảo tồn chim.
Quần xã chim rừng lá kim không đa dạng so với các kiểu rừng tự nhiên khác do cấu trúc rừng đơn giản. Tuy nhiên sinh cảnh rừng thông có một số loài không có ở các kiểu rừng khác như: Vàng anh mỏ nhỏ (Oriolus tenuirostris), Mỏ chéo (Loxia curvirostra), và loài đặc hữu của Việt Nam là Sẻ thông họng vàng (Carduelis monguilloti). Sinh cảnh Trảng cỏ tự nhiên, Trảng cỏ và cây bụi thứ sinh, đất nông nghiệp và đất thổ cư: Ngoài những sinh cảnh chính trên, ở Việt Nam còn có 8 những sinh cảnh Trảng cỏ tự nhiên, Trảng cỏ và cây bụi thứ sinh, đất nông nghiệp và đất thổ cư. Trong các sinh cảnh này, Trảng cỏ tự nhiên có ý nghĩa quan trọng nhất đối với các loài chim.