mở đầu có nghiên cứu của Nguyễn Đức Thanh và Lê Thị Hải (1999) về giá trị của Vườn Quốc Gia Cúc Phương thông qua phương pháp TCM [4]. Năm 2008 một phương pháp đánh giá mới dựa trên thị trường giả định và lựa chọn hành vi cũng đã được thực hiện trong nghiên cứu của Đỗ Nam Thắng để xác định giá trị của bảo tồn ĐNN ở Vườn Quốc Gia Tràm Chim. Nhìn chung các nghiên cứu đều cho thấy tài nguyên ĐNN đang bị suy thoái, cần được bảo vệ và đã đưa ra các biện pháp quản lý phù hợp. Tuy nhiên, các nghiên cứu vẫn có một số mặt hạn chế: - Hầu hết các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào giá trị sử dụng trực tiếp của tài nguyên trong khi các giá trị sử dụng gián tiếp và phi sử dụng chưa được nghiên cứu kĩ càng.
- Kết quả nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở tính toán sơ bộ, chưa có sự thảo luận và liên hệ với các biện pháp quản lý ĐNN cụ thể. - Các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào các phương pháp truyền thống như giá thị trường, chi phí du lịch. Các phương pháp tiên tiến chưa được áp dụng nhiều trong nước vì đòi hỏi quy trình thu thập và xử lý thông tin phức tạp. Tình hình nghiên cứu tại vườn Quốc gia Xuân Thủy Vườn quốc gia Xuân Thủy là khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam.
Nơi đây có nguồn tài nguyên phong phú cũng như sự đa dạng về các nguồn gen sinh học. Nơi đây luôn được các nhà quản lý, nhà khoa học cũng như các nhà nghiên cứu quan tâm. Để bảo tồn VQG nói chung và tài nguyên ĐNN nói riêng, năm 2010 liên minh ĐNN được triển khia thực hiện tại 3 tỉnh của Việt Nam là Nam Định, Quảng Nam và Kiên Giang với mục tiêu chính là nâng cao năng lực của cán bộ và cộng đồng địa phương trong công tác bảo tồn tài nguyên. Tài nguyên ĐNN ở Vườn Quốc gia Xuân Trang 7 Thủy và các biện pháp bảo tồn tài nguyên cũng có nhiều các nghiên cứu của các cá nhân cũng như tập thể trong nước.
Như năm 2006 tác giả Lê Thu Hoa cũng đã sử dụng kỹ thuật đánh giá thị trường để tính toán giá trị nuôi tôm tại khu ĐNN tại vườn quốc gia Xuân Thủy, Nam Định [3]. Năm 2010 một nghiên cứu của tác giả Đinh Đức Trường về tài nguyên ĐNN tại cửa sông Ba Lạt cũng đã nêu khá khái quát về tình hình tài nguyên và nghiên cứu khá kĩ về các giá trị kinh tế, sinh thái của nguồn tài nguyên này[6]. Từ giá trị tính toán được, tác giả đã đưa ra các biện pháp quy hoạch, quản lý nguồn tài nguyên ĐNN cũng như quản lý môi trường tại khu vực VQG Xuân Thủy. Nghiên cứu đã góp phần đưa ra các hướng quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên một cách hợp lý và hiệu quả hơn.
Sản phẩm dự kiến đạt đƣợc Đánh giá được giá trị kinh tế của tài nguyên ĐNN tại vườn quốc gia Xuân Thủy thông qua đánh giá các giá trị sử dụng trực tiếp gián tiếp (giá trị nuôi trồng khai thác thủy sản, mật ong, giá trị tham quan, du lịch, bảo vệ đê điều) và các giá trị phi sử dụng (là giá trị bảo tồn đa dạng sinh học của VQG Xuân Thủy). Từ đó đề xuất đưa ra các phương hướng quản lý và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên này. Ý nghĩa của Luận văn 6. Ý nghĩa khoa học Luận văn là cơ sở lý thuyết giúp các nhà quản lý, đầu tư nghiên cứu xây dựng biện pháp sử dụng, quy hoạch hợp lý trong tương lai.
Trên cơ sở ứng dụng một số phương pháp đánh giá tiên tiến để đánh giá giá trị kinh tế của ĐNN tại vườn quốc gia Xuân Thủy cũng góp phần khuyến nghị về khả năng áp dụng một số phương pháp đánh giá cũng như qui trình đánh giá giá trị kinh tế tài nguyên ĐNN. Ý nghĩa thực tiễn Dựa trên các kết quả nghiên cứu được về giá trị toàn phần và từng phần của tài nguyên ĐNN tại VQG Xuân Thủy, luận án đưa ra các đề xuất ứng dụng thông tin về giá trị kinh tế, phục vụ cho việc quản lý hiệu quả và sử dụng bền vững tài nguyên ĐNN tại khu vực nghiên cứu Trang 8 CHƢƠNG I TÀI NGUYÊN ĐNN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN ĐNN DỰA VÀO ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ KINH Tế CỦA TÀI NGUYÊN 1. Tài nguyên đât ngập nƣớc 1. Khái niệm đất ngập nước Thuật ngữ “Đất ngập nước” có nội hàm khá rộng và tùy theo hoàn cảnh, mục đích sử dụng mà có những cách hiểu khác nhau.
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về ĐNN đang được sử dụng. Theo công ước Ramsar (1971) , ĐNN được định nghĩa như sau: “ĐNN được coi là các vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước dù là tự nhiên hay nhân tạo, ngập nước thường xuyên hoặc từng thời kì, là nước tĩnh, nước chảy, nước ngọt, nước lợ hay nước mặn bao gồm cả những vùng biển mà độ sâu mực nước khi thủy triều ở mức thấp nhất không vượt quá 6m”.1) Ngoài ra điều 2.1 của công ước Ramsar còn quy định “các vùng ĐNN có thể bao gồm các vùng ven sông và ven biển nằm kề các vùng đất ngập nước, cũng như các đảo hoặc các thuỷ vực biển sâu hơn 6m khi triều thấp, nằm trong các vùng đất ngập nước”. Theo chương trình quốc gia về ĐNN của Hoa Kỳ (2004) thì “Về vị trí phân bố, ĐNN là những vùng đất chuyển tiếp giữa hệ dsinh thái trên cạn và hệ sinh thái thủy vực, những nơi này mực nước ngầm thường nằm sát mặt đất hoặc thường xuyên được bao phủ bởi lớp nước nông”. Theo Cowardin và cộng sự (1979), ĐNN phải có ba thuộc tính sau: - Có thời kì nào đó, đất thích hợp cho phần lớn các loài thực vật thủy sinh.
- Nền đất hầu như không bị khô - Nền đất không có cấu trúc không rõ rệt hoặc bão hòa nước, bị ngập nước ở mức cạn tại một số thời điểm nào đó trong mùa sinh trưởng hàng năm. Trang 9 Theo các nhà khoa học Canada: “ĐNN là đất bão hòa nước trong thời gian dài, đủ để hỗ trợ cho các quá trình thủy sinh. Đó là những nơi khó tiêu hóa nước, có thực vật thủy sinh và các hoạt động sinh học thích hợp với môi trường ẩm ướt”. Còn theo tác giả Lê Văn Khoa định nghĩa trong tác phẩm “Đất ngập nước” xuất bảm năm 2007 thì “ĐNN là đất bão hòa nước trong thời gian dài đủ để hỗ trợ cho các quá trình thủy sinh.
Đó là những nơi khó tiêu thoát nước, có thực vật thủy sinh và các hoạt động sinh học thích hợp với môi trường ẩm ướt”. Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng nhìn chung các yếu tố về địa mạo, thủy văn, thổ nhưỡng, động vật, thực vật, hiện trạng sử dụng đất đai là những tiêu chí quan trọng để xác định các vùng ĐNN. Hiện nay, định nghĩa về ĐNN của Công ước Ramsar là định nghĩa được nhiều quốc gia, tổ chức sử dụng và là cơ sở cho các hoạt động quản lý, nghiên cứu về ĐNN. Ở Việt Nam, định nghĩa về ĐNN của Công ước Ramsar cũng được sử dụng là định nghĩa chính thức về ĐNN theo nghị định 109/2003/NĐ-CP của Chính phủ về “Bảo tồn và PTBV các vùng ĐNN”.
Mối quan hệ giữa hệ sinh thái ĐNN và hệ thống kinh tế Để đánh giá được giá trị kinh tế của Tài nguyên ĐNN thì trước hết ta phải xác định được mối quan hệ giữa tài nguyên này với hệ thống kinh tế. Bởi vì, các hoạt động kinh tế của con người phụ thuộc vào các điều kiện hệ sinh thái. Hệ sinh thái nói chung và hệ sinh thái ĐNN nói riêng luôn có sự tác động qua lại giữa cấu trúc, quy trình và chức năng của hệ thống. Cấu trúc bao gồm các thành phần vô cơ và hữu cơ, quy trình bao gồm sự chuyển hóa vật chất và năng lượng.
Sự tác độngq ua lại giữa cấu trúc và quá trình hình thành nên chức năng của hệ sinh thái. Chức năng này cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho con người, việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ đó mang lại lợi ích cho con người. Các lợi ích này có giá trị kinh tế khi con người ưa thích nó và sẵn sàng bỏ ra một khoản chi phí nhất định để thụ hưởng và có thêm nhiều lợi ích từ hệ sinh thái đó. Vì vậy, các thuộc tính của hệ sinh thái ĐNN chỉ có giá trị kinh tế khi nó xuất hiện trong hàm lợi ích của một cá nhân hoặc hàm chi phí của một tổ chức, doanh nghiệp.
Có thể nói các chức năng của hệ sinh thái ĐNN tự nó không mang lại giá trị kinh tế, các chức năng cung cấp hàng hóa, dịch vụ và việc Trang 10 sử dụng hàng hóa dịch vụ đó mới mang lại giá trị kinh tế cho con người. Về cơ bản chức năng sinh thái của ĐNN là sự tương tác giữa cấu trúc và quá trình sinh thái. Các mối tương tác giữa thành phần lý, sinh và hóa của vùng ĐNN giúp vùng ĐNN đo thực hiện các chức năng nhất định, như: - Điều tiết không khí, điều hòa khí hậu - Lưu giữ nước, chống bão và giảm lụt - Phòng ngừa các tác động, ổn định đường bờ, chống xói mòn - Kiểm soát sinh thái, hấp thụCO2 - Là nới cư trú và sinh sản của các loài động thực vật - Cung cấp thực phẩm, nguồn nguyên liệu cho xã hội - Tạo ra các giá trị du lịch, văn hóa… Có thể khái quát mối quan hệ giữa hệ sinh thái ĐNN và hệ thống kinh tế thông qua sơ đồ sau: Quá trình Cấu trúc Chức năng HST ĐNN Hàng hóa, dịch vụ sinh thái cung cấp cho con người Giá trị sử dụng Giá trị phi sử dụng Tổng giá trị kinh tế Hình 1.1: Mối quan hệ giữa hệ sinh thái ĐNN và hệ thống kinh tế Trang 11 1. Giá trị kinh tế của tài nguyên đất ngập nước Hiện nay, có nhiều quan điểm về các nhóm giá trị trong tổng giá trị kinh tế của tài nguyên ĐNN.
Tuy nhiên, các quan điểm này đều có điểm chung là chia các nhóm giá trị này thành giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng. - Giá trị sử dụng: giá trị trực tiếp, giá trị gián tiếp, giá trị lựa chọn - Giá trị phi sử dụng: giá trị tồn tại, giá trị lưu truyền Theo Turner (2003), giá trị sử dụng là những hàng hóa và dịch vụ sinh thái mà ĐNN cung cấp cho con người và các hệ thống kinh tế được chia thành 3 nhóm là giá trị sử dụng trực tiếp, giá trị sử dụng gián tiếp và giá trị lựa chọn.