Đặc điểm CLVT đa dãy hệ TMC và vòng nối ở bệnh nhân xơ gan can thiệp TIPS

Nghiên cứu về đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính đa dãy của hệ tĩnh mạch cửa và các vòng nối ở bệnh nhân xơ gan có chỉ định can thiệp TIPS, nhằm đánh giá giải

Trường đại học

Viện Nghiên cứu Khoa học Y dược Lâm sàng 108

Chuyên ngành

Chẩn đoán hình ảnh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ Y học

2021

168
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về xơ gan và tăng áp lực tĩnh mạch cửa

Xơ gan là bệnh lý mạn tính của gan, đặc trưng bởi sự thay thế mô gan khỏe mạnh bằng các mô xơ và nốt tái tạo. Bệnh gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng, trong đó tăng áp lực tĩnh mạch cửa (TMC) là biến chứng quan trọng nhất. Tăng áp lực TMC dẫn đến hình thành các vòng nối bàng hệ, bao gồm giãn tĩnh mạch thực quản trên (TMTQ) và tĩnh mạch dạ dày dưới (TMDD). Các búi giãn này có nguy cơ vỡ gây xuất huyết tiêu hóa (CMTH) nặng, đe dọa tính mạng bệnh nhân. Theo phân loại Child-Pugh, mức độ xơ gan được đánh giá dựa trên nhiều chỉ tiêu lâm sàng và cận lâm sàng. Việc chẩn đoán sớm và đánh giá chính xác hệ TMC và các vòng nối bàng hệ đóng vai trò quyết định trong chiến lược điều trị. Chụp cắt lớp vi tính đa dãy (CLVT đa dãy) hiện là phương pháp hình ảnh không xâm nhập được sử dụng rộng rãi để khảo sát hệ TMC.

1.1. Giải phẫu hệ tĩnh mạch cửa và cơ chế tăng áp lực

Hệ tĩnh mạch cửa bao gồm tĩnh mạch cửa chính, tĩnh mạch lách, tĩnh mạch mạc treo tràng trên và dưới. Ở người bình thường, áp lực TMC dao động từ 5 đến 10 mmHg. Khi áp lực TMC vượt quá 10 mmHg, tình trạng tăng áp lực TMC được xác lập. Cơ chế bao gồm tăng sức cản dòng chảy tại gan do mô xơ và tăng dòng máu đến tĩnh mạch cửa. Áp lực cao buộc dòng máu phải tìm đường thoát qua các vòng nối bàng hệ, hình thành các búi giãn có nguy cơ vỡ.

1.2. Các vòng nối bàng hệ thường gặp ở bệnh nhân xơ gan

Các vòng nối bàng hệ hình thành do tăng áp lực TMC, bao gồm hệ thống nối giữa tĩnh mạch cửa và tĩnh mạch hệ thống. Quan trọng nhất là vòng nối tại vùng tâm vị, tạo thành búi giãn TMTQ và TMDD. Ngoài ra còn có các vòng nối khác như tĩnh mạch rốn (đầu Medusa), tĩnh mạch thận trái, tĩnh mạch sau phúc mạc và các vòng nối vùng chậu. Việc đánh giá toàn diện các vòng nối này trên CLVT đa dãy giúp bác sĩ lập kế hoạch can thiệp TIPS chính xác và an toàn.

II. Phân tích đặc điểm hình ảnh CLVT đa dãy hệ tĩnh mạch cửa và vòng nối

Chụp CLVT đa dãy là kỹ thuật hình ảnh tiên tiến, cho phép khảo sát chi tiết hệ TMC và các vòng nối bàng hệ ở bệnh nhân xơ gan. Phương pháp này cung cấp hình ảnh ba chiều với độ phân giải cao, giúp đánh giá đường kính tĩnh mạch cửa, hướng dòng chảy, tình trạng huyết khối và đặc điểm các búi giãn. Nghiên cứu trên bệnh nhân xơ gan có chỉ định can thiệp TIPS cho thấy CLVT đa dãy phát hiện chính xác vị trí, kích thước búi giãn TMTQ và TMDD. Đồng thời, phương pháp này đánh giá được các vòng nối bàng hệ khác như nối tĩnh mạch thận trái, nối sau phúc mạc. Độ tương đồng giữa chẩn đoán CLVT đa dãy và chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) đạt tỷ lệ cao, khẳng định giá trị của CLVT đa dãy trong chẩn đoán hình ảnh trước can thiệp.

2.1. Đặc điểm hình ảnh tĩnh mạch cửa trên CLVT đa dãy

Trên CLVT đa dãy, tĩnh mạch cửa được đánh giá qua các pha chụp động mạch và pha tĩnh mạch cửa. Các chỉ tiêu bao gồm đường kính tĩnh mạch cửa chính, tĩnh mạch lách, tĩnh mạch mạc treo tràng. Tình trạng huyết khối trong lòng tĩnh mạch cửa cũng được phát hiện rõ ràng. Hướng dòng chảy và tốc độ dòng máu có thể được đánh giá gián tiếp qua đặc điểm cản quang. Các bất thường như hẹp, tắc hoặc biến dạng đường đi của tĩnh mạch cửa đều được ghi nhận chính xác, phục vụ lập kế hoạch can thiệp TIPS.

2.2. Đặc điểm các búi giãn tĩnh mạch thực quản và dạ dày dưới

CLVT đa dãy cho phép đánh giá chi tiết búi giãn TMTQ và TMDD về vị trí, kích thước, hình thái và đường dẫn lưu. Búi giãn TMTQ thường nằm tại vùng tâm vị, được cấp máu bởi nhánh tĩnh mạch dạ dày trái. Búi giãn TMDD thường có đường dẫn lưu về tĩnh mạch thận trái hoặc hệ tĩnh mạch sau phúc mạc. Việc xác định chính xác đường dẫn lưu của búi giãn TMDD rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chiến lược can thiệp và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp cho từng bệnh nhân.

III. Vai trò của CLVT đa dãy trong lập kế hoạch can thiệp TIPS

Can thiệp TIPS (Transjugular Intrahepatic Portosystemic Shunt) là phương pháp tạo đường nối giữa tĩnh mạch cửa và tĩnh mạch gan trong nhu mô gan bằng hệ thống stent. Mục tiêu là giảm áp lực TMC, ngăn ngừa xuất huyết tiêu hóa do vỡ búi giãn. CLVT đa dãy đóng vai trò không thể thiếu trong giai đoạn lập kế hoạch can thiệp. Hình ảnh CLVT giúp xác định giải phẫu gan, vị trí lý tưởng để xuyên kim từ tĩnh mạch gan vào nhánh tĩnh mạch cửa. Phương pháp cũng đánh giá kích thước, hướng đi của các tĩnh mạch gan, phát hiện huyết khối và các bất thường giải phẫu. Nghiên cứu cho thấy CLVT đa dãy giúp giảm thời gian can thiệp, giảm số lần xuyên kim và giảm biến chứng. Độ tương đồng cao giữa CLVT và DSA chứng minh tính chính xác của phương pháp này trong lập kế hoạch.

3.1. Quy trình chụp CLVT đa dãy trước can thiệp TIPS

Quy trình chụp CLVT đa dãy trước can thiệp TIPS bao gồm nhiều bước. Bệnh nhân được đặt đường truyền tĩnh mạch, chụp không cản quang để đánh giá gan. Tiếp theo, chụp với cản quang iod qua đường tĩnh mạch, ghi hình ở pha động mạch, pha tĩnh mạch cửa và pha tĩnh mạch muộn. Dữ liệu hình ảnh được tái tạo 3D, đánh giá đa bình diện. Các thông số về giải phẫu hệ TMC, vòng nối bàng hệ, kích thước gan và vị trí các cấu trúc lân cận được ghi nhận đầy đủ, phục vụ tối ưu cho quy trình can thiệp TIPS.

3.2. So sánh CLVT đa dãy với chụp mạch DSA trong đánh giá trước can thiệp

Chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) là tiêu chuẩn vàng đánh giá hệ mạch máu, nhưng là phương pháp xâm nhập. CLVT đa dãy là phương pháp không xâm nhập, ít rủi ro hơn. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tương đồng chẩn đoán giữa hai phương pháp đạt mức cao trong đánh giá đường kính tĩnh mạch cửa, búi giãn TMTQ và TMDD. CLVT đa dãy phát hiện thêm nhiều vòng nối bàng hệ nhỏ mà DSA có thể bỏ sót. Tuy nhiên, DSA vẫn ưu thế hơn trong đánh giá dòng chảy thời gian thực và áp lực trực tiếp. Sự kết hợp hai phương pháp mang lại hiệu quả tối ưu.

IV. Ứng dụng lâm sàng và kết luận nghiên cứu hình ảnh CLVT đa dãy

Nghiên cứu về đặc điểm hình ảnh CLVT đa dãy hệ TMC và vòng nối ở bệnh nhân xơ gan có chỉ định can thiệp TIPS mang ý nghĩa lâm sàng quan trọng. Kết quả nghiên cứu cho thấy CLVT đa dãy là công cụ chẩn đoán hình ảnh đáng tin cậy, cung cấp thông tin toàn diện về giải phẫu hệ TMC, đặc điểm búi giãn và các vòng nối bàng hệ. Phương pháp này giúp phân loại bệnh nhân theo mức độ Child-Pugh, đánh giá nguy cơ xuất huyết và lựa chọn thời điểm can thiệp phù hợp. Chỉ định can thiệp TIPS được áp dụng cho bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa do vỡ giãn TMTQ, TMDD có nguy cơ tái phát cao. Can thiệp TIPS sớm trong vòng 72 giờ đầu nhập viện mang lại hiệu quả cầm máu tốt hơn. CLVT đa dãy còn giúp theo dõi sau can thiệp, đánh giá thông stent và phát hiện biến chứng.

4.1. Chỉ định can thiệp TIPS dựa trên hình ảnh CLVT đa dãy

Chỉ định can thiệp TIPS được xác định dựa trên nhiều yếu tố lâm sàng và hình ảnh. Hình ảnh CLVT đa dãy cung cấp thông tin về kích thước búi giãn TMTQ, TMDD từ độ II trở lên, dấu hiệu dấu đỏ trên nội soi. Bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa tái phát từ hai lần trở lên được chỉ định can thiệp dự phòng. CLVT đa dãy giúp đánh giá đường kính tĩnh mạch cửa, tình trạng huyết tắc và hướng đi của hệ TMC. Những thông tin này quyết định tính khả thi và an toàn của quy trình can thiệp TIPS.

4.2. Hướng phát triển và ứng dụng trong tương lai

Ứng dụng CLVT đa dãy trong đánh giá hệ TMC và lập kế hoạch can thiệp TIPS sẽ tiếp tục được mở rộng. Công nghệ hình ảnh mới với độ phân giải cao hơn, thời gian chụp ngắn hơn giúp cải thiện chất lượng chẩn đoán. Kết hợp trí tuệ nhân tạo trong phân tích hình ảnh có thể tự động hóa đánh giá kích thước búi giãn và gợi ý vị trí can thiệp tối ưu. Nghi cứu đa trung tâm với mẫu lớn hơn cần được thực hiện để khẳng định giá trị của CLVT đa dãy trong chiến lược điều trị toàn diện cho bệnh nhân xơ gan.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính đa dãy hệ tĩnh mạch cửa và vòng nối ở bệnh nhân xơ gan có chỉ định can thiệp tips

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về xơ gan và tăng áp lực tĩnh mạch cửa 1. Giải phẫu hệ tĩnh mạch gan và tĩnh mạch cửa 1. Giải phẫu tĩnh mạch gan Có 3 nhánh tĩnh mạch gan (TMG) là TMG phải, TMG giữa và TMG trái dẫn máu từ 3 khu vực khác nhau của gan, đổ vào tĩnh mạch chủ dưới (TMCD) ở sau gan [14],[90],[113].

- TMG phải: là TMG lớn nhất, bắt đầu từ bờ dưới gan ở bên phải góc phải, hướng chếch lên trên, ra sau và hơi sang trái, đổ vào bờ trước phải TMCD sau gan. TMG phải dẫn lưu máu từ toàn bộ phân thùy bên phải (phân thùy sau) và 1/3 - 1/2 phải phân thùy giữa phải (phân thùy trước). - TMG giữa: ngăn cách các thùy gan phải và thùy gan trái, chạy giữa phân thùy trước của thùy gan phải và phân thùy giữa của thùy gan trái, hướng chếch lên trên ra sau, tận cùng bởi một thân chung với TMG trái. Thân chung này thường rất ngắn (khoảng 1 cm) đổ vào bờ trái TMCD sau gan.

TMG trái dẫn lưu máu của 1/2 - 2/3 phân thuỳ trước gan phải và toàn bộ phân thuỳ giữa gan trái. - TMG trái: là TMG nhỏ nhất, dẫn lưu máu của phần bên trái của thuỳ gan trái, một phần sau phân thuỳ giữa gan trái. 4 CLVT lớp cắt ngang CLVT dựng hình 3D Hình 1. Giải phẫu hệ TM gan trên CLVT (IVC: TM chủ dưới, RHV: TM gan phải, MHV: TM gan giữa, LHV: TM gan trái) (nguồn [113]) 1.

Giải phẫu TMC Hệ TMC là một hệ tuần hoàn đặc biệt, kết nối với hai hệ thống giường mao mạch; một bên thuộc về ống tiêu hóa và lách, bên kia là các xoang gan. Nguyên ủy, đường đi, liên quan, tận cùng[14],[90] (Hình 1. 2) TMC được hợp thành ở sau tụy bởi sự hợp nhất của ba tĩnh mạch là tĩnh mạch mạc treo tràng trên (đường kính ~ 10mm), tĩnh mạch lách (hay tỳ) (đường kính ~ 8mm) và tĩnh mạch mạc treo tràng dưới (đường kính ~ 6mm). TMC có đường kính < 12mm, dài trung bình 8-10cm.

Đến cửa gan, tĩnh mạch tận hết bằng cách chia thành hai ngành phải và trái chạy vào hai nửa gan tương ứng. Lưu lượng máu trong TMC trung bình từ 1000-1200 ml/phút, cung cấp khoảng 72% lượng oxy cho gan, lượng còn lại được cung cấp bởi động mạch gan [38]. Giải phẫu TMC (nguồn [94]) Ngành bên Trên đường đi trong cuống gan, TMC nhận thêm một số ngành bên:TM vị trái, TM vị phải, TM tá tụy trên sau, TM túi mật, TM trước môn vị, TM vị mạc nối phải và các TM tá tụy dưới Phân bố điển hình trong gan của TMC [14],[30],[90] Vào đến cửa gan thì thân chung TMC chia đôi thành hai ngành lớn cho hai nửa gan phải và trái, ở hai bên khe chính. 6 - Ngành phải: ngắn (1-3 cm) và to hơn (8-14mm) hướng chếch lên trên và sang phải, tách ra một nhánh bên nhỏ ra sau cho một phần phải thùy đuôi rồi sớm chia đôi thành hai ngành cùng: nhánh trước và nhánh sau.

- Ngành trái: dài và nhỏ hơn, gồm: một “đoạn ngang” chạy ngang trong cửa gan độ 3-5 cm, tách ra 2-3 nhánh nhỏ ra sau cho thùy đuôi, rồi gấp khúc ra phía trước thành một “đoạn rốn” hơi phình to, nằm trong đáy của khe dây chằng tròn. Ngành nối hay vòng nối: Hệ TMC ở người bình thường luôn có những vòng nối thông tự nhiên với hệ tĩnh mạch chủ, tuy nhiên chúng không hoạt động (không có dòng chảy qua các vòng nối này) vì máu từ TMC sẽ đi qua gan về hệ tĩnh mạchchủ thông qua hệ mao tĩnh mạch trong xoang gan và không bị cản trở. Bình thường, áp lực TMC từ 5 - 10 mmHg và chênh áp giữa TMC và TMCD hoặc nhĩ phải từ 1 - 5 mmHg. Khi có các bệnh lý gây cản trở máu TMC về gan như xơ gan sẽ gây nên TALTMC, chênh áp giữa TMC và tĩnh mạch chủ tăng lên (≥ 10 mmHg), các vòng nối này sẽ phát triển tạo các mạch máu bàng hệ và từ đó máu từ TMC sẽ qua các mạch máu này để trực tiếp về tĩnh mạch chủ và không qua gan nữa[6],[10],[14],[19],[38],[124].

Hệ TMC nối thông với hệ tĩnh mạch chủ bởi những vòng nối sau: Vòng nối thực quản và cạnh thực quản: Vòng nối thực quản (giãn TMTQ) gặp khoảng 50 % ở các trường hợp xơ gan và hàng năm có khoảng 5 - 15 % người bệnh xơ gan xuất hiện giãn TMTQ mới. Giãn TMTQ là giãn các tĩnh mạch trong thành thực quản đoạn thấp, trong khi đó giãn tĩnh mạch cạnh thực quản là các tĩnh mạch giãn nằm ngoài thành thực quản[6]. 7 Vòng nối tại dạ dày và cạnh dạ dày: Giãn TMDD ít gặp hơn giãn TMTQ, tần suất khoảng 5 - 33 % người bệnh TALTMC. Giãn TMDD được cấp máu bởi một hoặc nhiều tĩnh mạch khác nhau, phổ biến là từ tĩnh mạch vị trái và các tĩnh mạch vị sau, nhưng cũng có thể được cấp máu bởi các tĩnh mạch vị ngắn[124].

Giãn TMDD có thể đơn thuần tại dạ dày hoặc phối hợp với giãn TMTQ, tĩnh mạch dẫn lưu về tĩnh mạchchủ trên hoặc dẫn lưu về tĩnh mạch chủ dưới qua shunt vị - thận [6]. Vòng nối trực tràng và quanh trực tràng: Giữa các nhánh tận của tĩnh mạch trực tràng trên thuộc hệ cửa, nối với các nhánh của các tĩnh mạch trực tràng giữa và các tĩnh mạch trực tràng dưới là những nhánh của tĩnh mạchchậu trong thuộc hệ tĩnh mạchchủ. Máu từ các búi giãn này sẽ được dẫn lưu về tĩnh mạch chậu hai bên bởi shunt trực tràng - sinh dục hoặc các shunt tĩnh mạch tại trực tràng[5],[6],[93]. Vòng nối quanh rốn và thành bụng: Do tái lập lại các tĩnh mạch cạnh rốn quanh dây chằng tròn thuộc hệ cửa nối với các nhánh quanh rốn của các tĩnh mạch thượng vị trên - nhánh của các tĩnh mạch ngực trong, và của các tĩnh mạch thượng vị dưới - nhánh của tĩnh mạch chậu ngoài, đều thuốc hệ chủ[4].

Các vòng nối khác: - Các vòng nối sau phúc mạc - Các vòng nối mạc treo và mạc nối - Các vòng nối quanh tá tràng, ruột non, đại tràng - Các vòng nối quanh túi mật, đường mật - Các vòng nối sinh dục - Vòng nối thành bàng quang - Các shunt tĩnh mạch cửa -chủ: lách - thận, trong gan, ngoài gan. Các vòng nối cửa - chủ (nguồn[114]) 1. Xơ gan và tăng áp lực tĩnh mạch cửa 1. Định nghĩa xơ gan Xơ gan là hậu quả của một bệnh gan mạn tính.

Đặc điểm về mặt giải phẫu học là một quá trình tổn thương lan tỏa của gan, trong đó mô gan bình thường được thay thế bởi một mô xơ hóa (fibrous tissue) và những nốt tái tạo (regenerative nodules), dẫn đến sự suy giảm dần của các chức năng gan[3]. Xơ gan là bệnh lý phổ biến ở Việt Nam và trên Thế giới, là nguyên nhân thứ 8 gây tử vong tại Mỹ và là nguyên nhân thứ 13 gây tử vong trên Thế giới [2]. Hình thái học của xơ gan là kết quả của 3 quá trình đồng thời hoặc nối tiếp nhau[83]: 9 - Tổn thương nhu mô gan (sự hoại tử) - Sự gia tăng mô liên kết (sự xơ hóa), tạo ra những mảng xơ hóa - Sự hình thành các tiểu thùy gan giả và các nốt, cục tái tạo (sự tái tạo). Nguyên nhân xơ gan - Do viêm gan virus B, C - Lạm dụng rượu - Do chuyển hóa: thiếu hụt enzyme alpha-antitrypsin, bệnh Wilson, gan nhiễm mỡ - Xơ gan mật, xơ gan do tắc TM gan, xơ gan tim.

- Do viêm gan tự miễn - Do thuốc: methotrexate, amiodarone… 1. Tiên lượng xơ gan Xơ gan có hai giai đoạn tiến triển đó là còn bù (compensated) và mất bù (decompensated). Ở giai đoạn còn bù, thời gian có thể kéo dài cả thập kỷ và thường không có triệu chứng[13]. Xơ gan ở giai đoạn mất bù, có biểu hiện của tăng áp lực tĩnh mạch cửa (TALTMC), có các biến chứng như CMTH, cổ trướng, hội chứng não gan, và một số biến chứng khác.

Khi chẩn đoán xơ gan ở giai đoạn mất bù, thời gian sống thêm trung bình của bệnh nhân thường dưới 2 năm. Tỷ lệ tử vong trong 1 năm có thể lên đến 20% khi có dịch cổ trướng và tăng lên 57% khi có biến chứng CMTH. Xơ gan đến thời kỳ mất bù,các triệu chứng lâm sàng rõ rệt, thường có tiên lượng xấu. Nếu chẩn đoán được sớm và tìm ra được nguyên nhân để loại bỏ hoặc điều trị thì khả năng làm cho xơ gan có thể trở lại thời kỳ ổn định hoặc làm chậm sự tiến triển của bệnh.

Có hai hệ thống tiêu chuẩn để phân độ nặng cũng như tiên lượng xơ gan là Bảng phân độ Child - Turcotte - Pugh (CTP hay viết tắt là Child) và thang điểm MELD (Model for End - Stage Liver Disease). Bảng phân độ Child có 5 tiêu chí đánh giá gồm mức độ hội chứng não gan (HE – Hepatic 10 Encephalopathy), mức độ dịch cổ trướng, nồng độ Bilirubin huyết thanh, nồng độ Albumin huyết thanh và tỷ lệ prothrombin huyết thanh (hoặc chỉ số INR – International Normalized Ratio); mỗi tiêu chí cho điểm 1, 2 và 3 với tổng điểm thấp nhất là 5 và cao nhất là 15, điểm càng cao thì mức độ xơ gan càng nặng. Thang điểm MELD sử dụng các chỉ số bilirubin, creatinin, INR để tính toán, công thức tính như sau: MELD = 3. MELD thường được đánh giá ở các mức là < 10, từ 10 đến 14 và > 14 điểm và so sánh với 3 mức A, B và C của phân loại theo Child.

Khi MELD ≥ 14 điểm thì liên quan đến tỷ lệ bệnh nặng hơn và tỷ lệ tử vong cao hơn[2]. Chẩn đoán xơ gan Tiêu chuẩn chẩn đoán xơ gan dựa vào[23],[83]: + Hội chứng TALTMC biểu hiện với 3 triệu chứng sau: Có giãn TM thực quản phát hiện qua nội soi Cổ trướng tự do Lách to do ứ máu + Hội chứng suy chức năng gan gồm: Chán ăn, phù hai chi dưới hoặc toàn thân, xuất huyết dưới da hoặc niêm mạc, vàng da nhẹ hoặc nặng, có thể có cácdấu hiệu của hội chứng não-gan. Các triệu chứng khác: giãn các mao mạch ở ngực, lưng, gan bàn tay (sao mạch), da khô, móng tay bị thay đổi về hình dáng và màu sắc, các ngón tay bị co rút, suy giảm tình dục,. + Chẩn đoán hình ảnh: Siêu âm là phương pháp đơn giản, có giá trị đánh giá hình thái, kích thước, độ tăng âm và chẩn đoán dịch quanh gan cũng như dịch cổ trướng.

11 Các kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từcũng có giá trị chẩn đoán xơ gan. + Cận lâm sàng: Albumine giảm, Globuline tăng, Bilirubine tăng, tỷ lệ Prothorombine giảm, enzymeTransaminase tăng nếu có huỷ hoại tế bào gan.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ