CLVT đa dãy tĩnh mạch cửa, vòng nối và can thiệp TIPS ở bệnh nhân xơ gan

Tìm hiểu sâu về quá trình luận án đã chuyển đổi. Bài viết phân tích các phương pháp, thách thức và kết quả đạt được trong nghiên cứu.

Trường đại học

Viện Nghiên cứu Khoa học Y dược Lâm sàng 108

Chuyên ngành

Chẩn đoán hình ảnh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2021

168
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về xơ gan và tăng áp lực tĩnh mạch cửa

Xơ gan là bệnh lý gan mạn tính phổ biến, đặc trưng bởi sự thay thế nhu mô gan bằng tổ chức xơ và sự hình thành các nốt tân sinh. Bệnh gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng, trong đó tăng áp lực tĩnh mạch cửa (TMC) là biến chứng quan trọng nhất. Tăng áp lực TMC dẫn đến sự hình thành các tĩnh mạch bàng hệ và vòng nối, bao gồm giãn tĩnh mạch thực quản dưới (TMTQ) và tĩnh mạch phình vị dạ dày (TMDD). Các búi giãn này có nguy cơ vỡ cao, gây xuất huyết tiêu hóa (CMTH) đe dọa tính mạng. Theo phân loại Child-Pugh, mức độ xơ gan được đánh giá dựa trên năm chỉ tiêu: bilirubin, albumin, thời gian prothrombin, cổ trướng và bệnh não gan. Việc chẩn đoán sớm và đánh giá chính xác hệ TMC đóng vai trò quyết định trong chiến lược điều trị bệnh nhân xơ gan.

1.1. Giải phẫu hệ tĩnh mạch cửa và vòng nối bàng hệ

Hệ tĩnh mạch cửa bao gồm tĩnh mạch cửa chính, tĩnh mạch lách, tĩnh mạch mạc treo tràng trên và các nhánh phân trong gan. Ở người bình thường, áp lực TMC dao động từ 5-10 mmHg. Khi áp lực này vượt quá 12 mmHg, nguy cơ xuất huyết tiêu hóa do vỡ giãn TMTQ tăng đáng kể. Các vòng nối bàng hệ hình thành khi áp lực TMC tăng cao, tạo ra các đường dẫn máu thay thế. Các vị trí vòng nối phổ biến bao gồm: nối thực quản-dạ dày, nối trực tràng, nối phúc mạc thành bụng và nối lách-thận. Việc hiểu rõ giải phẫu hệ TMC và các vòng nối là cơ sở để đánh giá hình ảnh và lập kế hoạch can thiệp.

1.2. Đại cương về phương pháp can thiệp TIPS

TIPS (Transjugular Intrahepatic Portosystemic Shunt) là kỹ thuật can thiệp nội mạch tạo shunt nối giữa tĩnh mạch cửa và tĩnh mạch gan trong nhu mô gan. Mục tiêu chính của TIPS là giảm áp lực TMC, từ đó ngăn ngừa tái phát xuất huyết tiêu hóa do vỡ giãn TMTQ, TMDD. Chỉ định TIPS bao gồm: CMTH do vỡ giãn TMTQ, TMDD không đáp ứng với điều trị nội soi; CMTH tái phát có nguy cơ cao; và dự phòng CMTH tái phát. Tuổi chỉ định từ 18 đến 70 tuổi. Kỹ thuật được thực hiện qua đường tĩnh mạch cảnh trong, dưới hướng dẫn của chụp mạch số hóa xóa nền (DSA). Tỷ lệ thành công của TIPS đạt trên 90% khi được thực hiện tại các trung tâm chuyên khoa.

II. Phân tích đặc điểm hình ảnh CLVT đa dãy trong xơ gan

Chụp cắt lớp vi tính đa dãy (CLVT đa dãy) là phương pháp hình ảnh không xâm nhập, đóng vai trò quan trọng trong đánh giá hệ TMC và các vòng nối bàng hệ ở bệnh nhân xơ gan. CLVT đa dãy cung cấp hình ảnh chi tiết về đường kính, cấu trúc và hướng đi của tĩnh mạch cửa, tĩnh mạch lách và các nhánh phân trong gan. Phương pháp này cho phép phát hiện chính xác vị trí, kích thước và hình thái các búi giãn TMTQ, TMDD. Đặc biệt, CLVT đa dãy giúp đánh giá hệ thống tĩnh mạch nuôi và dẫn lưu búi giãn, thông tin thiết yếu cho lập kế hoạch can thiệp. So với nội soi, CLVT đa dãy có ưu điểm đánh giá toàn diện hệ TMC và vòng nối bàng hệ ngoài thực quản-dạ dày. Hình ảnh CLVT đa dãy sau tiêm thuốc cản quang giúp phân biệt rõ ràng các cấu trúc mạch máu và mô xung quanh.

2.1. Đặc điểm hình ảnh tĩnh mạch cửa và vòng nối trên CLVT đa dãy

Trên hình ảnh CLVT đa dãy, tĩnh mạch cửa ở bệnh nhân xơ gan thường có đường kính tăng, thường trên 13mm. Hình ảnh teo nhu mô gan, bề mặt gan không đều và sự phát triển bất thường của các nhánh TMC trong gan là các dấu hiệu đặc hiệu. Các vòng nối bàng hệ được phát hiện với tỷ lệ cao trên CLVT đa dãy, bao gồm: vòng nối vị-thực quản, nối vị-dạ dày chậu, nối lách-thận, nối phúc mạc thành bụng. Đường kính của các búi giãn TMTQ, TMDD trên CLVT đa dãy tương quan tốt với mức độ giãn trên nội soi. CLVT đa dãy cũng phát hiện các búi giãn ở vị trí ngoài dạ dày-dạ dày mà nội soi khó tiếp cận.

2.2. So sánh CLVT đa dãy với DSA trong đánh giá hệ tĩnh mạch cửa

Nghiên cứu so sánh giữa CLVT đa dãy và chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) cho thấy mức độ tương đồng chẩn đoán cao giữa hai phương pháp. DSA là tiêu chuẩn vàng trong đánh giá hệ TMC, nhưng là phương pháp xâm nhập với nguy cơ biến chứng. CLVT đa dãy cung cấp hình ảnh không gian ba chiều, cho phép đánh giá toàn diện hơn so với DSA. Tỷ lệ phát hiện búi giãn TMTQ, TMDD trên CLVT đa dãy đạt trên 90%, tương đương với DSA. CLVT đa dãy cũng phát hiện chính xác tĩnh mạch nuôi búi giãn và tĩnh mạch dẫn lưu, thông tin quan trọng cho lập kế hoạch can thiệp TIPS. Tuy nhiên, DSA vẫn cần thiết để đánh giá dòng chảy và áp lực TMC trực tiếp.

III. Vai trò của CLVT đa dãy trong lập kế hoạch can thiệp TIPS

CLVT đa dãy đóng vai trò không thể thiếu trong lập kế hoạch can thiệp TIPS. Hình ảnh CLVT đa dãy trước can thiệp giúp đánh giá giải phẫu hệ TMC, xác định vị trí lý tưởng để đặt stent shunt. Các thông số cần đánh giá bao gồm: kích thước gan, vị trí tĩnh mạch cửa và tĩnh mạch gan, khoảng cách giữa hai hệ thống, và sự hiện diện của các búi giãn lớn. CLVT đa dãy cũng giúp dự đoán nguy cơ biến chứng sau TIPS như bệnh não gan và suy gan. Việc lập kế hoạch dựa trên hình ảnh CLVT đa dãy giúp tăng tỷ lệ thành công, giảm thời gian can thiệp và hạn chế liều chiếu cho bệnh nhân. CLVT đa dãy còn được sử dụng để theo dõi sau can thiệp, đánh giá chức năng shunt và phát hiện sớm các biến chứng như hẹp hoặc tắc stent.

3.1. Quy trình chụp CLVT đa dãy đánh giá hệ tĩnh mạch cửa

Quy trình chụp CLVT đa dãy đánh giá hệ TMC tuân theo các bước chuẩn. Bệnh nhân nhịn ăn 6-8 giờ trước chụp. Thuốc cản quang iodinated được tiêm qua đường tĩnh mạch cánh tay với tốc độ 3-5 ml/s, liều lượng 100-150 ml. Thời điểm chụp động mạch cửa (portal phase) được xác định bằng kỹ thuật bolus tracking, thường sau 60-70 giây kể từ khi bắt đầu tiêm. Độ dày lát cắt mỏng 0.625-1.25 mm cho phép tái tạo hình ảnh chất lượng cao. Các phép đo được thực hiện trên trục ngang và trục dọc, bao gồm đường kính tĩnh mạch cửa, tĩnh mạch lách, kích thước búi giãn và khoảng cách giải phẫu cần thiết cho TIPS.

3.2. Chỉ định can thiệp TIPS dựa trên hình ảnh CLVT đa dãy

Chỉ định can thiệp TIPS được xác định dựa trên kết hợp đánh giá lâm sàng và hình ảnh CLVT đa dãy. Chỉ định cấp cứu: CMTH do vỡ giãn TMTQ, TMDD không đáp ứng với điều trị nội soi và nội khoa, can thiệp trong vòng 72 giờ kể từ nhập viện. Chỉ định bán cấp: CMTH tái phát từ hai lần trở lên, trên CLVT đa dãy có búi giãn từ độ II trở lên. Chỉ định dự phòng: sau 72 giờ từ đợt CMTH, đã điều trị cầm máu ổn định. CLVT đa dãy giúp xác định chính xác vị trí búi giãn, tĩnh mạch nuôi và dẫn lưu, từ đó lựa chọn kỹ thuật can thiệp phù hợp: TIPS đơn thuần hoặc kết hợp tắc mạch búi giãn.

IV. Kết luận và ứng dụng lâm sàng của CLVT đa dãy trong xơ gan

CLVT đa dãy là phương pháp hình ảnh không thể thiếu trong quản lý bệnh nhân xơ gan có chỉ định can thiệp TIPS. Phương pháp này cung cấp thông tin toàn diện về hệ TMC, phát hiện chính xác búi giãn TMTQ, TMDD và các vòng nối bàng hệ. Mức độ tương đồng chẩn đoán giữa CLVT đa dãy và DSA đạt tỷ lệ cao, chứng minh giá trị của CLVT đa dãy trong đánh giá trước can thiệp. CLVT đa dãy giúp lập kế hoạch can thiệp chính xác, giảm thời gian thủ thuật và hạn chế biến chứng.Ứng dụng lâm sàng của CLVT đa dãy mở rộng từ chẩn đoán, lập kế hoạch đến theo dõi sau can thiệp TIPS. Nghiên cứu tại Việt Nam đã khẳng định vai trò của CLVT đa dãy trong thực hành lâm sàng, đặc biệt tại các trung tâm chuyên khoa gan mật.

4.1. Ý nghĩa lâm sàng và triển vọng ứng dụng

CLVT đa dãy mang lại ý nghĩa lâm sàng to lớn trong quản lý bệnh nhân xơ gan. Phương pháp giúp phát hiện sớm búi giãn có nguy cơ vỡ cao, từ đó can thiệp kịp thời. CLVT đa dãy cũng đánh giá mức độ nặng của xơ gan thông qua hình ảnh teo gan, cổ trướng và tuần hoàn bàng hệ. Triển vọng ứng dụng bao gồm: phát triển thuật toán trí tuệ nhân tạo hỗ trợ phát hiện búi giãn, tích hợp hình ảnh CLVT đa dãy với hệ thống định hướng trong can thiệp TIPS, và ứng dụng CLVT đa dãy trong nghiên cứu đa trung tâm tại Việt Nam.

4.2. Hạn chế và hướng phát triển nghiên cứu

CLVT đa dãy vẫn tồn tại một số hạn chế cần khắc phục. Bệnh nhân suy thận nặng không thể sử dụng thuốc cản quang iodinated. Liều chiếu là vấn đề cần quan tâm khi theo dõi bệnh nhân dài hạn. CLVT đa dãy không đánh giá được áp lực TMC trực tiếp như DSA. Hướng phát triển nghiên cứu bao gồm: ứng dụng CLVT năng lượng kép giảm liều chiếu, nghiên cứu MRI không cản quang đánh giá hệ TMC, phát triển tiêu chuẩn đánh giá búi giãn trên CLVT đa dãy phù hợp với đặc điểm bệnh nhân Việt Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về xơ gan và tăng áp lực tĩnh mạch cửa 1. Giải phẫu hệ tĩnh mạch gan và tĩnh mạch cửa 1. Giải phẫu tĩnh mạch gan Có 3 nhánh tĩnh mạch gan (TMG) là TMG phải, TMG giữa và TMG trái dẫn máu từ 3 khu vực khác nhau của gan, đổ vào tĩnh mạch chủ dưới (TMCD) ở sau gan [14],[90],[113].

- TMG phải: là TMG lớn nhất, bắt đầu từ bờ dưới gan ở bên phải góc phải, hướng chếch lên trên, ra sau và hơi sang trái, đổ vào bờ trước phải TMCD sau gan. TMG phải dẫn lưu máu từ toàn bộ phân thùy bên phải (phân thùy sau) và 1/3 - 1/2 phải phân thùy giữa phải (phân thùy trước). - TMG giữa: ngăn cách các thùy gan phải và thùy gan trái, chạy giữa phân thùy trước của thùy gan phải và phân thùy giữa của thùy gan trái, hướng chếch lên trên ra sau, tận cùng bởi một thân chung với TMG trái. Thân chung này thường rất ngắn (khoảng 1 cm) đổ vào bờ trái TMCD sau gan.

TMG trái dẫn lưu máu của 1/2 - 2/3 phân thuỳ trước gan phải và toàn bộ phân thuỳ giữa gan trái. - TMG trái: là TMG nhỏ nhất, dẫn lưu máu của phần bên trái của thuỳ gan trái, một phần sau phân thuỳ giữa gan trái. 4 CLVT lớp cắt ngang CLVT dựng hình 3D Hình 1. Giải phẫu hệ TM gan trên CLVT (IVC: TM chủ dưới, RHV: TM gan phải, MHV: TM gan giữa, LHV: TM gan trái) (nguồn [113]) 1.

Giải phẫu TMC Hệ TMC là một hệ tuần hoàn đặc biệt, kết nối với hai hệ thống giường mao mạch; một bên thuộc về ống tiêu hóa và lách, bên kia là các xoang gan. Nguyên ủy, đường đi, liên quan, tận cùng[14],[90] (Hình 1. 2) TMC được hợp thành ở sau tụy bởi sự hợp nhất của ba tĩnh mạch là tĩnh mạch mạc treo tràng trên (đường kính ~ 10mm), tĩnh mạch lách (hay tỳ) (đường kính ~ 8mm) và tĩnh mạch mạc treo tràng dưới (đường kính ~ 6mm). TMC có đường kính < 12mm, dài trung bình 8-10cm.

Đến cửa gan, tĩnh mạch tận hết bằng cách chia thành hai ngành phải và trái chạy vào hai nửa gan tương ứng. Lưu lượng máu trong TMC trung bình từ 1000-1200 ml/phút, cung cấp khoảng 72% lượng oxy cho gan, lượng còn lại được cung cấp bởi động mạch gan [38]. Giải phẫu TMC (nguồn [94]) Ngành bên Trên đường đi trong cuống gan, TMC nhận thêm một số ngành bên:TM vị trái, TM vị phải, TM tá tụy trên sau, TM túi mật, TM trước môn vị, TM vị mạc nối phải và các TM tá tụy dưới Phân bố điển hình trong gan của TMC [14],[30],[90] Vào đến cửa gan thì thân chung TMC chia đôi thành hai ngành lớn cho hai nửa gan phải và trái, ở hai bên khe chính. 6 - Ngành phải: ngắn (1-3 cm) và to hơn (8-14mm) hướng chếch lên trên và sang phải, tách ra một nhánh bên nhỏ ra sau cho một phần phải thùy đuôi rồi sớm chia đôi thành hai ngành cùng: nhánh trước và nhánh sau.

- Ngành trái: dài và nhỏ hơn, gồm: một “đoạn ngang” chạy ngang trong cửa gan độ 3-5 cm, tách ra 2-3 nhánh nhỏ ra sau cho thùy đuôi, rồi gấp khúc ra phía trước thành một “đoạn rốn” hơi phình to, nằm trong đáy của khe dây chằng tròn. Ngành nối hay vòng nối: Hệ TMC ở người bình thường luôn có những vòng nối thông tự nhiên với hệ tĩnh mạch chủ, tuy nhiên chúng không hoạt động (không có dòng chảy qua các vòng nối này) vì máu từ TMC sẽ đi qua gan về hệ tĩnh mạchchủ thông qua hệ mao tĩnh mạch trong xoang gan và không bị cản trở. Bình thường, áp lực TMC từ 5 - 10 mmHg và chênh áp giữa TMC và TMCD hoặc nhĩ phải từ 1 - 5 mmHg. Khi có các bệnh lý gây cản trở máu TMC về gan như xơ gan sẽ gây nên TALTMC, chênh áp giữa TMC và tĩnh mạch chủ tăng lên (≥ 10 mmHg), các vòng nối này sẽ phát triển tạo các mạch máu bàng hệ và từ đó máu từ TMC sẽ qua các mạch máu này để trực tiếp về tĩnh mạch chủ và không qua gan nữa[6],[10],[14],[19],[38],[124].

Hệ TMC nối thông với hệ tĩnh mạch chủ bởi những vòng nối sau: Vòng nối thực quản và cạnh thực quản: Vòng nối thực quản (giãn TMTQ) gặp khoảng 50 % ở các trường hợp xơ gan và hàng năm có khoảng 5 - 15 % người bệnh xơ gan xuất hiện giãn TMTQ mới. Giãn TMTQ là giãn các tĩnh mạch trong thành thực quản đoạn thấp, trong khi đó giãn tĩnh mạch cạnh thực quản là các tĩnh mạch giãn nằm ngoài thành thực quản[6]. 7 Vòng nối tại dạ dày và cạnh dạ dày: Giãn TMDD ít gặp hơn giãn TMTQ, tần suất khoảng 5 - 33 % người bệnh TALTMC. Giãn TMDD được cấp máu bởi một hoặc nhiều tĩnh mạch khác nhau, phổ biến là từ tĩnh mạch vị trái và các tĩnh mạch vị sau, nhưng cũng có thể được cấp máu bởi các tĩnh mạch vị ngắn[124].

Giãn TMDD có thể đơn thuần tại dạ dày hoặc phối hợp với giãn TMTQ, tĩnh mạch dẫn lưu về tĩnh mạchchủ trên hoặc dẫn lưu về tĩnh mạch chủ dưới qua shunt vị - thận [6]. Vòng nối trực tràng và quanh trực tràng: Giữa các nhánh tận của tĩnh mạch trực tràng trên thuộc hệ cửa, nối với các nhánh của các tĩnh mạch trực tràng giữa và các tĩnh mạch trực tràng dưới là những nhánh của tĩnh mạchchậu trong thuộc hệ tĩnh mạchchủ. Máu từ các búi giãn này sẽ được dẫn lưu về tĩnh mạch chậu hai bên bởi shunt trực tràng - sinh dục hoặc các shunt tĩnh mạch tại trực tràng[5],[6],[93]. Vòng nối quanh rốn và thành bụng: Do tái lập lại các tĩnh mạch cạnh rốn quanh dây chằng tròn thuộc hệ cửa nối với các nhánh quanh rốn của các tĩnh mạch thượng vị trên - nhánh của các tĩnh mạch ngực trong, và của các tĩnh mạch thượng vị dưới - nhánh của tĩnh mạch chậu ngoài, đều thuốc hệ chủ[4].

Các vòng nối khác: - Các vòng nối sau phúc mạc - Các vòng nối mạc treo và mạc nối - Các vòng nối quanh tá tràng, ruột non, đại tràng - Các vòng nối quanh túi mật, đường mật - Các vòng nối sinh dục - Vòng nối thành bàng quang - Các shunt tĩnh mạch cửa -chủ: lách - thận, trong gan, ngoài gan. Các vòng nối cửa - chủ (nguồn[114]) 1. Xơ gan và tăng áp lực tĩnh mạch cửa 1. Định nghĩa xơ gan Xơ gan là hậu quả của một bệnh gan mạn tính.

Đặc điểm về mặt giải phẫu học là một quá trình tổn thương lan tỏa của gan, trong đó mô gan bình thường được thay thế bởi một mô xơ hóa (fibrous tissue) và những nốt tái tạo (regenerative nodules), dẫn đến sự suy giảm dần của các chức năng gan[3]. Xơ gan là bệnh lý phổ biến ở Việt Nam và trên Thế giới, là nguyên nhân thứ 8 gây tử vong tại Mỹ và là nguyên nhân thứ 13 gây tử vong trên Thế giới [2]. Hình thái học của xơ gan là kết quả của 3 quá trình đồng thời hoặc nối tiếp nhau[83]: 9 - Tổn thương nhu mô gan (sự hoại tử) - Sự gia tăng mô liên kết (sự xơ hóa), tạo ra những mảng xơ hóa - Sự hình thành các tiểu thùy gan giả và các nốt, cục tái tạo (sự tái tạo). Nguyên nhân xơ gan - Do viêm gan virus B, C - Lạm dụng rượu - Do chuyển hóa: thiếu hụt enzyme alpha-antitrypsin, bệnh Wilson, gan nhiễm mỡ - Xơ gan mật, xơ gan do tắc TM gan, xơ gan tim.

- Do viêm gan tự miễn - Do thuốc: methotrexate, amiodarone… 1. Tiên lượng xơ gan Xơ gan có hai giai đoạn tiến triển đó là còn bù (compensated) và mất bù (decompensated). Ở giai đoạn còn bù, thời gian có thể kéo dài cả thập kỷ và thường không có triệu chứng[13]. Xơ gan ở giai đoạn mất bù, có biểu hiện của tăng áp lực tĩnh mạch cửa (TALTMC), có các biến chứng như CMTH, cổ trướng, hội chứng não gan, và một số biến chứng khác.

Khi chẩn đoán xơ gan ở giai đoạn mất bù, thời gian sống thêm trung bình của bệnh nhân thường dưới 2 năm. Tỷ lệ tử vong trong 1 năm có thể lên đến 20% khi có dịch cổ trướng và tăng lên 57% khi có biến chứng CMTH. Xơ gan đến thời kỳ mất bù,các triệu chứng lâm sàng rõ rệt, thường có tiên lượng xấu. Nếu chẩn đoán được sớm và tìm ra được nguyên nhân để loại bỏ hoặc điều trị thì khả năng làm cho xơ gan có thể trở lại thời kỳ ổn định hoặc làm chậm sự tiến triển của bệnh.

Có hai hệ thống tiêu chuẩn để phân độ nặng cũng như tiên lượng xơ gan là Bảng phân độ Child - Turcotte - Pugh (CTP hay viết tắt là Child) và thang điểm MELD (Model for End - Stage Liver Disease). Bảng phân độ Child có 5 tiêu chí đánh giá gồm mức độ hội chứng não gan (HE – Hepatic 10 Encephalopathy), mức độ dịch cổ trướng, nồng độ Bilirubin huyết thanh, nồng độ Albumin huyết thanh và tỷ lệ prothrombin huyết thanh (hoặc chỉ số INR – International Normalized Ratio); mỗi tiêu chí cho điểm 1, 2 và 3 với tổng điểm thấp nhất là 5 và cao nhất là 15, điểm càng cao thì mức độ xơ gan càng nặng. Thang điểm MELD sử dụng các chỉ số bilirubin, creatinin, INR để tính toán, công thức tính như sau: MELD = 3. MELD thường được đánh giá ở các mức là < 10, từ 10 đến 14 và > 14 điểm và so sánh với 3 mức A, B và C của phân loại theo Child.

Khi MELD ≥ 14 điểm thì liên quan đến tỷ lệ bệnh nặng hơn và tỷ lệ tử vong cao hơn[2]. Chẩn đoán xơ gan Tiêu chuẩn chẩn đoán xơ gan dựa vào[23],[83]: + Hội chứng TALTMC biểu hiện với 3 triệu chứng sau: Có giãn TM thực quản phát hiện qua nội soi Cổ trướng tự do Lách to do ứ máu + Hội chứng suy chức năng gan gồm: Chán ăn, phù hai chi dưới hoặc toàn thân, xuất huyết dưới da hoặc niêm mạc, vàng da nhẹ hoặc nặng, có thể có cácdấu hiệu của hội chứng não-gan. Các triệu chứng khác: giãn các mao mạch ở ngực, lưng, gan bàn tay (sao mạch), da khô, móng tay bị thay đổi về hình dáng và màu sắc, các ngón tay bị co rút, suy giảm tình dục,. + Chẩn đoán hình ảnh: Siêu âm là phương pháp đơn giản, có giá trị đánh giá hình thái, kích thước, độ tăng âm và chẩn đoán dịch quanh gan cũng như dịch cổ trướng.

11 Các kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từcũng có giá trị chẩn đoán xơ gan. + Cận lâm sàng: Albumine giảm, Globuline tăng, Bilirubine tăng, tỷ lệ Prothorombine giảm, enzymeTransaminase tăng nếu có huỷ hoại tế bào gan.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ