Chương I (14 trang): trình bày những vấn đề cơ bản mang tính lý thuyết làm nền tảng cho việc nghiên cứu trong phạm vi của luận văn như lý thuyết về từ và các phương thức cấu tạo từ; lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ học với các hệ quả là hiện tượng giao thoa, vay mượn và lai tạp ngôn ngữ; tổng quan về vấn đề từ tiếng Anh trong các ngôn ngữ và trong tiếng Việt. Chương II (47 trang): đi vào khảo sát đặc điểm về cấu tạo của từ gốc tiếng Anh trên các báo, tạp chí tiếng Việt y học chuyên ngành và thường thức từ năm 2009 đến nay. Qua đó nêu lên nhận xét về cấu tạo của từ gốc tiếng Anh hiện diện trên các báo, tạp chí tiếng Việt y học chuyên ngành và thường thức từ năm 2009 đến nay. Chương III (33 trang): đi vào khảo sát đặc điểm về hình thức xuất hiện của các từ gốc tiếng Anh trên các báo, tạp chí tiếng Việt y học chuyên ngành và thường thức từ năm 2009 đến nay, qua đó đưa ra nhận định về xu hướng xuất hiện của lớp từ ngữ du nhập này trên các văn bản tiếng Việt.
Chương IV (29 trang): đi vào khảo sát các trường từ vựng - ngữ nghĩa của từ gốc tiếng Anh trên các báo, tạp chí tiếng Việt y học chuyên ngành và thường thức từ năm 2009 đến nay và nêu lên nhận xét về các đặc điểm của các trường từ vựng - ngữ nghĩa này. - Phần Kết luận (04 trang): tóm tắt những kết quả bước đầu ghi nhận được qua quá trình khảo cứu các đối tượng. - 10 - CHƯƠNG MỘT MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ SỞ 1. Lý thuyết về từ 1.
Định nghĩa từ Bàn về định nghĩa từ, đa số các nhà ngôn ngữ học đều thừa nhận từ là đơn vị trung tâm, cơ bản của hệ thống các đơn vị ngôn ngữ. Tuy nhiên cho đến nay, vấn đề nhận diện và đưa ra một định nghĩa chung, khái quát, đầy đủ về từ cho tất cả mọi ngôn ngữ vẫn là mong muốn chưa đạt được của các nhà ngôn ngữ học.từ là một đơn vị luôn ám ảnh tư tưởng chúng ta như một cái gì đó trung tâm trong toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ, mặc dù khái niệm này khó định nghĩa” [75, tr.111]…Sự đa dạng về cách định hình, về chức năng và các đặc điểm ý nghĩa của từ trong các ngôn ngữ khác nhau hay ngay trong cùng một ngôn ngữ chính là những nguyên nhân gây ra khó khăn cho việc tìm được một định nghĩa chung nhất, chính xác nhất cho từ. Có từ mang chức năng định danh sự vật, sự tình (danh từ, động từ, tính từ), có từ không mang chức năng định danh (số từ, thán từ, các từ phụ trợ); có từ biểu thị khái niệm (danh từ chung, động từ, tính từ), có từ chỉ là dấu hiệu của những cảm xúc nào đó (như thán từ); có từ liên hệ với những sự vật, hiện tượng ngoài thực tế (các thực từ), có từ lại chỉ biểu thị những quan hệ trong ngôn ngữ (các hư từ); có từ có kết cấu nội bộ, có từ không có kết cấu nội bộ, có từ tồn tại trong nhiều dạng thức ngữ pháp khác nhau, có từ chỉ tồn tại trong một dạng thức,v. Xuất phát từ một quan điểm, một lĩnh vực cụ thể nào đó mà các nhà nghiên cứu đã đưa ra các định nghĩa cho từ.
Hiện nay, đã có trên 300 định nghĩa khác nhau về từ [39, tr. Chẳng hạn, theo Bloomfield: “Từ là hình thái nhỏ nhất mà tự do” (dẫn theo [13, tr. Theo Kasevich trong [49], có 3 tiêu chí cốt lõi trong việc xác định từ, đó là: từ có một độ độc lập nhất định; từ có tính toàn vẹn bên trong và từ có quan hệ cú pháp độc lập. Các quan điểm này thường khái quát và chủ yếu xuất phát từ các ngôn ngữ Ấn – Âu.
Trong giới Việt ngữ học, các nhà ngôn ngữ học cũng có những định nghĩa rất khác nhau. Chẳng hạn, theo Nguyễn Thiện Giáp, “từ của tiếng - 11 - Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có nghĩa dùng để tạo câu nói; nó có hình thức của một âm tiết, một chữ viết liền” [32]. Còn các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến thì cho rằng “từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu” [19, tr.161] Tuy vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm, nhưng để có cơ sở cho việc nghiên cứu, người ta vẫn thường chấp nhận một khái niệm nào đó về từ tuy chưa thể bao quát toàn thể nhưng cũng có một khả năng bao quát tương đối. Trong luận văn này, chúng tôi đi theo quan điểm của các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu” [19, tr.
Cấu tạo từ Trong ngôn ngữ học, đa số các nhà ngôn ngữ học đều cho rằng từ được cấu tạo nhờ các hình vị. Nói cách khác, từ được tạo ra nhờ một hoặc một số hình vị kết hợp với nhau theo những nguyên tắc nhất định. Như vậy, khi bàn về vấn đề liên quan đến cấu tạo của từ, không thể không nhắc đến hình vị. Hình vị Quan niệm phổ biến về hình vị phát biểu rằng hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa và/hoặc có giá trị (chức năng) về mặt ngữ pháp [19, tr.
Kasevich cho rằng tất cả các hình vị có thể chia thành hai nhóm lớn: nhóm các hình vị thực (từ vựng) và nhóm các hình vị hư (ngữ pháp) [49]. Còn các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong [19, tr.157] thì cho rằng hình vị được phân chia thành những loại khác nhau. Trước hết là sự phân loại thành các hình vị tự do và hình vị hạn chế (bị ràng buộc). Theo đó, hình vị tự do là những hình vị mà tự nó có thể xuất hiện với tư cách những từ độc lập; hình vị hạn chế là những hình vị chỉ có thể xuất hiện trong tư thế đi kèm, phụ thuộc vào hình vị khác - 12 - Ví dụ: House s Hình vị hạn chế Hình vị tự do Trong nội bộ các hình vị hạn chế, người ta còn chia thành hai loại: các hình vị biến đổi dạng thức (các biến tố) và các hình vị phái sinh.
Lĩnh vực nghiên cứu về cấu tạo từ chú ý trước hết đến các hình vị tự do và hình vị phái sinh. Nếu căn cứ vào vị trí của hình vị trong từ, người ta có thể phân chúng thành hai loại lớn: gốc từ (cái mang ý nghĩa từ vựng chân thực, riêng cho từng từ) và phụ tố (cái mang ý nghĩa nghữ pháp, chung cho từng lớp, nhiều từ). Tùy theo phụ tố đứng trước gốc từ, trong gốc từ hay sau gốc từ, người ta gọi chúng lần lượt là tiền tố, trung tố và hậu tố. Để minh họa cho những điều vừa nêu, xét cấu tạo của từ indecipherability Ở đây, ta có gốc từ là cipher.
Gốc từ kết hợp với tiền tố de + cipher tạo ra một động từ decipher. Động từ này kết hợp thêm với hậu tố able ta có được một tính từ decipherable. Để phủ định tính từ này, ta thêm vào tiền tố in, ta có: indecipherable. Cuối cùng, kết hợp với hậu tố ility, ta có một danh từ là indecipherability mang nghĩa là (cái) tính chất không thể đọc hay hiểu được.
Có thể minh họa quá trình cấu tạo từ này bằng một sơ đồ như sau: in + de + cipher + ability N (danh từ) V (động từ) Adj (tính từ) N (danh từ) - 13 - 1. Phương thức tạo từ mới Phương thức tạo từ mới là cách tạo ra từ mới trên cơ sở sẵn có của căn tố hoặc của từ. Khi tạo từ cần phải tuân theo những nguyên tắc ngữ pháp nhất định, do vậy, phương thức cấu tạo từ là một bộ phận của ngữ pháp. Tuy nhiên, việc tạo từ mới được thực hiện trên cơ sở của chất lượng từ vựng, là thủ pháp cơ bản để làm giàu kho từ vựng cho nên nó cũng có mối quan hệ mật thiết với từ vựng học.
Vì vậy, nhiều nhà ngữ pháp cho rằng phương thức tạo từ là ranh giới trung gian giữa từ vựng học và ngữ pháp học. Chính vì thế, phương thức tạo từ mới đều được bàn đến trong cả sách bàn về từ vựng học lẫn ngữ pháp học. Những phương thức cấu tạo từ thường được đề cập là: a. Dùng một hình vị tạo thành một từ: Phương thức này thực chất là “người ta cấp cho một hình vị cái tư cách đầy đủ của một từ”; vì thế, cũng không có gì khác nếu ta gọi đây là phương thức từ hóa hình vị [19, tr.
Ví dụ các từ: nhà, người, xe, v. trong tiếng Việt hay các từ house, car, v. trong tiếng Anh; b. Ghép: bằng việc kết hợp các hình vị chính tố với nhau, một từ mới sẽ được tạo ra.
Ví dụ: house+work = housework (công việc nhà), home+land = homeland (quê hương),.trong tiếng Anh. Tuy nhiên, đối với những ngôn ngữ đơn lập, không có sự phân chia chính tố, phụ tố như tiếng Việt, tiếng Hán thì nhiều tổ hợp ghép rất khó xác định là từ hay tổ hợp từ. Ví dụ như: áo quần, nhà cửa, v. Phái sinh: đây là phương thức thêm phụ tố (tiền tố, hậu tố) vào chính tố để tạo thành từ mới.
Ví dụ: im+possible (không thể),.Phương thức này rất phổ biến trong các ngôn ngữ biến hình nhưng lại không có trong những ngôn ngữ đơn lập. Chuyển loại: trong quá trình sử dụng, một từ có thể có sự biến đổi về chức năng, chẳng hạn một danh từ có thể được dùng như một động từ, hay một động từ có thể được dùng như một danh từ, v. Nhiều nhà nghiên cứu coi đó cũng là một phương thức tạo từ mới. Ví dụ: những từ như paper, butter, bottle trong tiếng Anh được dùng như những động từ trong các câu sau: He’s papering the bedroom walls (Anh ấy đang dán giấy tường phòng ngủ) - 14 - Have you buttered the toast? (Anh đã phết bơ lên bánh mì chưa?) We bottled the home-brew last night (Chúng tôi đóng chai (bia làm tại nhà) tối qua) Trong tiếng Việt, hiện tượng chuyển loại tương đối phổ biến.
Phương thức láy (reduplication): việc lặp lại hoàn toàn hay một phần âm thanh của một từ, hình vị ban đầu trong một số lần nào đó theo quy tắc cho phép sẽ tạo nên một từ mới. Ví dụ co ro, lúng túng, giỏi giang,.