ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam có tổng diện tích đất liền là 330.541km2, kéo dài trên 16 vĩ tuyến và 7 kinh tuyến; địa hình bị chia cắt phức tạp với 3/4 diện tích đất liền là đồi núi, nhiều dãy núi cao và cao nguyên; khí hậu đa dạng giữa các vùng miền, chế độ nhiệt cao, tổng lƣợng nhiệt lớn; nhiều sông ngòi, bờ biển kéo dài và có 02 đồng bằng rộng lớn. Các yếu tố trên đã tạo nên sự đa dạng sinh học cao ở nƣớc ta. Tài nguyên thú đóng góp lớn vào sự đa dạng này với 322 loài thuộc 43 họ và 15 bộ (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009). Trƣớc những thập niên đầu của thế kỷ XX, Việt Nam đƣợc coi là thiên đƣờng của nghề săn bắn.
Các vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên là những nơi có nguồn tài nguyên động vật rừng phong phú. Vào những năm đó, Tây Nguyên đƣợc coi là cái rốn của túi thú Đông Dƣơng. Trong những năm 1960 – 1985, trên các quần đảo núi đá vùng Đông Bắc, chiều chiều vẫn còn thấy Khỉ vàng, Sơn dƣơng ra các bãi biển đùa nghịch hay hóng mát trên các mỏm núi cao. Cũng trong những năm đó, đi rừng Tây Nguyên còn gặp các loài Bò tót, Bò rừng, Voi khoan thai gặm cỏ, Nai về ngay gần lán kiếm muối ăn.
Vậy mà từ năm 1986 đến nay, nạn săn bắn, nạn phá rừng đã gây nên những thảm họa cho nguồn tài nguyên động vật rừng nƣớc nhà (Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998). Nhiều loài đã và đang bị săn bắt quá mức và đứng trƣớc nguy cơ tuyệt chủng trong đó ảnh hƣởng lớn nhất là loài Thú. Theo thống kê của Cục Kiểm lâm, ƣớc tính từ năm 2000 - 6/2013, ở nƣớc ta có 18.475 vụ vi phạm, tịch thu 199.339 cá thể tƣơng đƣơng 690. Tuy vậy, con số này chỉ chiểm 5-10% số lƣợng trên thực tế (Tạp chí môi trƣờng, năm 2014).
Hiện trong Sách đỏ Việt Nam (2007) đã thống kê 418 loài động vật đang bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau, trong đó các loài thú có 94 loài (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007). Trƣớc tình hình đó nhằm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ các loài động thực vật nói chung và loài thú nói riêng, 1 Việt Nam đã thành lập trên 160 khu rừng đặc dụng trong đó có Vƣờn quốc gia Bến En. Vƣờn quốc gia (VQG) Bến En đƣợc thành lập ngày 27/01/1992 theo quyết định số 33/CP của thủ tƣớng Chính Phủ nhằm: xây dựng các chƣơng trình, dự án đầu tƣ; các chƣơng trình, kế hoạch, dự án đề tài nghiên cứu khoa học và tổ chức triển khai sau khi đƣợc cấp có thẩm quyền phê duyệt. Từ khi thành lập đến nay, VQG Bến En cũng có các nghiên cứu về tài nguyên động thực vật rừng.
Tuy nhiên, số lƣợng các nghiên cứu còn hạn chế, tiêu biểu nhƣ: WWF (1993) tiến hành điều tra voi, Đỗ Tƣớc (1995) tiến hành khảo sát hệ động vật, Lê Vũ Khôi và cộng sự (1996) nghiên cứu về thành phần loài và cấu trúc hệ động vật của Vƣờn, …và gần đây nhất có công trình nghiên cứu “Báo cáo kết quả điều tra khu hệ động – thực vật VQG Bến En tỉnh Thanh Hóa” năm 2000 của viện điều tra quy hoạch rừng – phân viện Bắc Trung Bộ. Năm 2013, VQG Bến En tiến hành điều tra bổ sung về thành phần loài đã ghi nhận đƣợc 102 loài thú, 277 loài chim, 66 loài bò sát, 47 loài Lƣỡng cƣ, 97 loài cá, 728 loài côn trùng và 213 loài động vật đáy và nổi; trong số đó có 56 loài động vật quý hiếm đƣợc ghi trong sách đỏ Việt Nam (2007), 433 loài trong Danh lục đỏ thế giới (IUCN, 2013), 50 loài trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP điển hình nhƣ: Vƣợn đen má /trắng, Culy lớn, Culy nhỏ, Gà lôi, Gấu. Nhìn chung, các nghiên cứu về tài nguyên động vật rừng nói chung và tài nguyên thú nói riêng ở VQG Bến En còn khá hạn chế về số lƣợng nghiên cứu cũng nhƣ về nội dung của các nghiên cứu. Việc cập nhật nguồn thông tin về hiện trạng, vùng phân bố, tính đa dạng, đặc biệt là các loài thú quý hiếm là rất cần thiết.
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tính đa dạng thành phần loài thú tại vườn quốc gia Bến En, tỉnh Thanh Hóa”. Đề tài đƣợc thực hiện nhằm bổ sung dữ liệu phục vụ công tác đánh giá tính đa dạng và bảo tồn tài nguyên thú tại VQG Bến En. 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử nghiên cứu lớp Thú ở Việt Nam 1.
Thời kỳ trước năm 1945 Trong thế kỷ XIX, nhiều tài liệu về khu hệ thú ở Việt Nam đã bắt đầu đƣợc công bố trên các sách báo của Châu Âu. Những năm Pháp đô hộ, các nhà khoa học ngƣời Pháp cũng bắt đầu tìm hiểu thiên nhiên của Việt Nam và đặc biệt quan tâm tới nhóm thú. Các công việc điều tra, thu thập mẫu trong thời gian đầu chủ yếu do các nhà động vật nghiệp dƣ tiến hành. Những tài liệu ban đầu về thú ở Nam Bộ và Trung Bộ đã đƣợc nhiều nhà khoa học công bố nhƣ: Jouan (1868), Dr.
Trong thời gian đó, Brousmiche (1887) đã xuất bản cuốn tài liệu “Nhìn chung về lịch sử tự nhiên của Bắc Bộ”. Tác giả đã giới thiệu ngắn gọn về một số loài thú Bắc Bộ có giá trị kinh tế, dƣợc liệu và khu vực phân bố của chúng. Huede đã công bố tài liệu về loài Sơn Dƣơng (Capricornis marritinus). Năm 1896, Billet viết cuốn “Hai năm ở miền núi Bắc Bộ”.
Cùng trong năm đó, De Pousargues đã có thông báo về loài Vƣợn mới (Hylobates herici) tìm thấy ở Lai Châu và ông cũng thông báo về loài Voọc đen (Pythecus francoisi) ở Bắc Bộ và Trung Bộ. Vào những năm cuối thế kỷ XIX đâu thế kỷ XX, tình hình nghiên cứu thú ở nƣớc ta có nhiều tiến triển hơn. Đáng chú ý là đoàn nghiên cứu thú do Pavie dẫn đầu đã tiến hành khảo sát, nghiên cứu và thu thập số liệu về thú từ năm 1879 đến năm 1898 ở nhiều địa điểm miền Nam Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của đoàn đƣợc công bố trong bộ sách “Nghiên cứu về lịch sử tự nhiên của Đông Dương”.
Nghiên cứu của đoàn đƣợc coi là công trình nghiên cứu đầu tiên và tƣơng đối hoàn chỉnh về thú ở Đông Dƣơng, trong công trình đó De pousagues đã thống kê đƣợc 200 loài và loài phụ thú ở Việt Nam, Lào, 3 Campuchia và Thái Lan, riêng Việt Nam đã thống kê đƣợc 117 loài và loài phụ. Trong khoảng thời gian từ 1900-1929 nhiều thông báo có kết quả nghiên cứu và mô tả các loài thú gặp đầu tiên ở Việt Nam của các tác giả Baurae (1900), Huede (1901), Anonyme (1902), Bonhote J. Trong 2 năm (1923 – 1924), Herbert Steven đã tiến hành sƣu tập thú Bắc Bộ, tập trung chủ yếu ở Yên Bái; F.R Wulsin sƣu tập thú ở Lai Châu vào năm 1924. Delacour đã tiến hành thu thập mẫu thú ở Bắc Bộ, Trung Bộ và một số vùng ở Nam Bộ.
Osgood đã tập hợp tất cả những tài liệu của các tác giả trên và đƣa ra thông báo chung về thú và đã thống kê đƣợc 172 loài và phân loài. Đây là tài liệu có giá trị phân loại và khu hệ thú ở Việt Nam. Thời kỳ 1945 đến 1954 Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945-1954), hoạt động nghiên cứu thú ở Việt Nam bị gián đoạn. Trong những năm này, nhiều nhà khoa học Pháp đã dựa trên những tiêu bản, những ghi nhận thực địa để tổng hợp và công bố thêm các loài thú ở Việt Nam và Đông Dƣơng.
Thời kỳ 1954 đến 1975 Ở miền Nam do bị đế quốc Mỹ chiếm đóng nên các hoạt động nghiên cứu thú gần nhƣ bị đình trệ đến những năm của thập kỷ 60. Trong thời gian này đáng chú ý có công trình của Vƣơng Đình Sâm (1960-1970). Ông đã biên soạn giáo trình giảng dạy cho sinh viên trong đó có phần “Thú Lạp” mô tả nhiều loài thú thuộc Bộ: Dơi, Gặm nhấm, Linh Trƣởng, Móng Guốc, Thú ăn thịt có ở miền Nam Việt Nam. Một số nhà khoa học nƣớc ngoài đã tiến hành khảo sát nghiên cứu các nhóm thú có liên quan đến dịch tế học, chủ yếu là các loài thú thuộc Bộ gặm nhấm (Rodentia).
Một số công trình đã đƣợc công bố nhƣ: Van Peenen et al. Ducan et al. Công trình 4 “Perlimimary Idetification Mammals of south Viêt Nam” của Van Peenen et al., (1969) đã thống kê đƣợc 151 loài thú ở miền Nam Việt Nam (từ Quảng Trị trở vào) ghi nhận khái quát về phân bố của chúng. Ở miền Bắc, từ những năm 1954 (sau khi hòa bình lập lại) việc nghiên cứu thú bƣớc đầu đã có tiến bộ và do các nhà khoa học Việt Nam tiến hành.
Công tác điều tra lúc đầu chỉ do một số ít cơ quan, chủ yếu là các trƣờng đại học tiến hành với lực lƣợng cán bộ còn nhỏ, trình độ thấp, địa bàn điều tra hẹp, nội dung điều tra tập trung và thu thập mẫu vật và thống kê thành phần loài. Trong những năm 1955-1959, chủ yếu gồm các đợt điều tra lẻ tẻ của khoa sinh viên trƣờng Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Khoa học tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội) để phục vụ giảng dạy và học tập của sinh viên. Vào những năm 1960 -1975, công tác nghiên cứu do 3 cơ quan chính đảm nhiệm là Ban sinh vật – Địa học của ủy ban Khoa học kỹ thuật nhà nƣớc, Khoa Sinh vật học của trƣờng Đại học Tổng hợp Hà Nội, Viện Điều tra quy hoạch rừng thuộc Tổng cục Lâm Nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). Ngoài ra còn có một số cơ quan khác cũng tiến hành nghiên cứu nhƣ: Viện Vệ sinh dịch tễ, Uỷ ban khoa học kỹ thuật nhà nƣớc.
Năm 1968, Đặng Duy Huỳnh đã công bố một kết quả của nghiên cứu về thú ăn thịt và thú móng guốc miền Bắc Việt Nam trong cuốn “Sinh học và sinh thái các loài thú móng guốc ở Việt Nam”. Năm 1973, trong cuốn sách “Thú kinh tế miền Bắc Việt Nam”, Lê Hiền Hào đã giới thiệu một số đặc điểm sinh vật học chủ yếu và phân bố của một số loài thú kinh tế miền Bắc Việt Nam. Trong thời kỳ này các nhà khoa học đã thống kê đƣợc ở miền Bắc có 169 loài thú thuộc 32 họ và 11 bộ. Thời kỳ 1975 đến nay Các nghiên cứu về thú đặc biệt phát triển mạnh sau ngày miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng.