mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể. [44] cho rằng “chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao trùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có sự phân hoá về mặt địa lý”. Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể. đã đưa ra một nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1500 – 2000 loài.
Các nhà sinh vật học Nga tập trung các nghiên cứu vào việc xác định diện tích biểu hiện tối thiểu để có thể kiểm kê đầy đủ nhất số loài của từng hệ thực vật cụ thể. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Brummitt (1992) [37], chuyên gia của phòng bảo tàng thực vật Hoàng gia Anh, trong cuốn “Vascular plant families and genera” đã thống kê tiêu bản thực vật bậc cao có mạch trên thế giới vào 511 họ, 13.884 chi, 6 ngành là Khuyết lá thông (Psilotophyta), Thông đá (Lycopodiophyta), Cỏ tháp bút (Equisetophyta), Dương xỉ (Polypodiophyta), Hạt trần (Gymnospermae) và Hạt kín (Angiospermae). Trong đó ngành Hạt kín (Angiospermae) có 13.477 chi, 454 họ và được chia ra 2 lớp là: lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) bao gồm 10.715 chi, 357 họ và lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae) bao gồm 2. Ở Việt Nam Nghiên cứu về thực vật ở Việt Nam trước hết phải kể đến các công trình: “Thực vật chí Nam bộ” của Leureiro [40]; Thực vật chí rừng nam bộ của các tác giả Pierre L.
Một trong công trình lớn nhất về quy mô cũng như giá trị là công trình nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương của các tác giả Pháp Lecomte et al. [39], kết quả của nghiên cứu này là bộ “Thực vật chí đại cương Đông Dương”, trong kết quả nghiên cứu này theo Lecomte thì vùng Đông Dương có hơn 7. Đây là bộ sách có ý nghĩa lớn với các nhà thực vật học; hiện nay bộ sách này vẫn còn có giá trị với những người nghiên cứu thực vật Đông Dương nói chung và hệ thực vật Việt Nam nói riêng. Tiếp theo đó là bổ sung của Humbert H.
[38], đến nay là thực vật chí Lào, Campuchia và Việt Nam đã xuất bản từ 1960 và ở ta đã có đến tập 26. Sau này, Pocs T. (1965) [41] tuy không nghiên cứu hệ thực vật miền Bắc, nhưng dựa trên bộ “Thực vật chí đại cương Đông Dương” đã thống kê 5. Đồng thời tác giả còn phân tích cấu trúc hệ thống cũng như dạng sống và các yếu tố địa lý của hệ thực vật này.
Như vậy từ đầu thế kỷ đến khoảng giữa thế kỷ 20, các công trình nghiên cứu về hệ thực vật có giá trị ở Việt Nam đều do các tác giả người nước ngoài nghiên cứu. Các công trình cũng mới chỉ dừng lại ở thống kê số lượng loài có trong một vùng diện tích lớn như miền Bắc Việt Nam (198.000 km2), Việt Nam có diện tích trên 330.000 km2 hoặc Đông Dương với diện tích khoảng 737.800km2 và rất ít chú ý đến các khía cạnh khác. Như những nghiên cứu về thảm thực vật rừng Việt Nam LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 phải kể đến hai công trình có giá trị là: “Thảm thực vật rừng Việt Nam” của Thái Văn Trừng (1963 – 1978) [29]. Tác giả tổng hợp các công trình đã có trước đây cùng với các nghiên cứu của mình công bố 7.004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1.850 chi và 189 họ ở Việt Nam.
Thái Văn Trừng đã khẳng định ưu thế của các ngành Hạt kín (Magnoliophyta) trong hệ thực vật Việt Nam với 6.727 chi (93,4%) và 239 họ (82,7%) trong tổng số các Taxon mỗi bậc. Các ngành thực vật khác nhìn chung chiếm một tỷ lệ không nhiều trong hệ thực vật. Công trình nghiên cứu “Bước đầu nghiên cứu rừng miền Bắc Việt Nam” của Trần Ngũ Phương [24] đã tiến hành phân loại rừng miền Bắc Việt Nam. Trong đó rừng miền Bắc được chia làm 3 đai, 8 kiểu; ngoài ra ông còn chia ra thành những kiểu phụ mà chỉ dùng loại hình thay cho kiểu, sau loại hình kiểu phụ.
Cùng với những công trình nghiên cứu tại miền Bắc, trong thời gian này Phạm Hoàng Hộ [15] cũng cho ra bộ sách “Cây cỏ Nam Việt Nam” công bố với 5.326 loài thực vật có ở miền Nam nước ta. Trong đó thực vật bậc thấp có 60 loài, rêu 20 loài, còn lại là thực vật có mạch 5. Đây là một công trình tổng hợp về hệ thực vật miền Nam, nhưng số loài các ngành công bố ở trên theo chúng tôi còn thiếu. Phan Kế Lộc [21] ở miền Bắc đã cung cấp số loài cây của các ngành thực vật bậc cao có mạch trong công trình “Bước đầu thống kê số loài cây đã biết ở miền Bắc Việt Nam”.
Trong tác phẩm này Phan Kế Lộc đã thống kê được 5.609 loài, còn các ngành khác chỉ có 540 loài. Con số này theo bản thân tôi là khá đầy đủ. Qua những tác phẩm kể trên chúng ta có thể nhận thấy rằng chỉ trong vòng 7 năm từ năm 1966 đến 1973 đã có 4 công trình có giá trị cao về hệ thực vật Việt Nam do các tác giả trong nước nghiên cứu. Tổng hợp các công trình này chúng ta có số liệu khá đầy đủ về các hệ thực vật ở nước ta.
Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ chủ yếu thống kê số lượng các Taxon có trong hệ thực vật mà ít chú ý so sánh chúng với nhau hoặc chú ý vào các khía cạnh khác như tài nguyên, dạng sống, … mặt khác các công trình nghiên cứu này chưa đề cập đến ngành rêu, trừ nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Hộ, 1970. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Năm 1984, Nguyễn Tiến Bân, Trần Đình Đại, Phan Kế Lộc cùng tập thể các tác giả khác đã xuất bản tập “Danh lục thực vật Tây Nguyên” [8] công bố 3.754 loài thực vật bậc cao có mạch bằng một nửa số loài của hệ thực vật Việt Nam. Công trình này khảo sát bao quát cả một hệ thực vật rừng phong phú vào bậc nhất nước ta nên rất có ý nghĩa. Đi theo hướng nghiên cứu các hệ thực vật ở từng vùng, Phạm Hoàng Hộ (1985) đã xuất bản ra cuốn sách “Danh lục thực vật Phú Quốc” [16 ].
Công bố 793 loài thực vật cao có mạch trong một diện tích là 592 km². Nếu thống kê số loài, chi, họ ở miền Bắc thường theo con số của tác giả Phan Kế Lộc cộng thêm ngành rêu nữa thì số loài thực vật ở miền Bắc là 5.915 loài, số chi là 1.746 chi và số họ là 288 họ. Thống kê số loài, chi, họ ở Việt Nam theo con số thống kê của Thái Văn Trừng [29] cộng thêm ngành rêu ở Việt Nam thì số loài ở Việt Nam là 7.032 chi, 349 họ thuộc 7 ngành thực vật bậc cao.500 loài thực vật bậc cao có mạch ở Việt Nam. Tuy vậy Phạm Hoàng Hộ con số đó có thể lên tới 12.
Nhiều nhà thực vật Việt Nam làm việc ở trong nước cũng cho rằng số loài thực vật nước ta có khoảng trên 12. Tác giả Trần Hợp, 2002 [32] trong cuốn “Tài nguyên cây gỗ rừng Việt Nam”, trong tài liệu quý này tác giả đã đề cập tới những thông tin chung về thực vật thân gỗ. Theo tác giả thì cây thân gỗ có thân chính phát triển cao luôn có vai trò là những sinh vật “lập quần” để kiến tạo ra các quần xã thực vật đa dạng về tổ thành và cấu trúc. Cũng theo tác giả, tài nguyên cây gỗ ở Việt Nam tập trung vào hai ngành thực vật tiến hóa nhất là Ngành thực vật hạt trần và Ngành thực vật hạt kín.
Các loài trong Ngành thực vật hạt trần được các nhà kinh doanh, làm nghề rừng gọi là “Nhóm gỗ mềm” hay nhóm “Cây lá kim”, còn gỗ trong Ngành hạt kín được gọi là “Nhóm gỗ cứng” hay nhóm “Cây lá rộng”. Tác giả cũng đã thống kê nếu kể cả nhóm cây bụi, dây leo thân gỗ và tre trúc, dương xỉ thân gỗ thì số loài thực vật thân gỗ ở Việt Nam có thể lên tới 2. Tác giả đã mô tả được 1.500 loài thực vật có thân hóa gỗ, thuộc 152 họ có phân bố tự nhiên và một số loài nhập nội ở Việt Nam. Có thể khẳng định đây là cuốn tài liệu rất quan trọng về tài nguyên cây gỗ của Việt Nam.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Trong giai đoạn từ 1971-1988, Viện Điều tra quy hoạch rừng đã xuất bản 7 tập Cây gỗ rừng Việt Nam [23], mỗi tập giới thiệu khoảng 100 loài, các thông tin về tên phổ thông, tên khoa học, tên họ thực vật, đặc điểm hình thái nhận biết, đặc điểm phân bố, giá trị sử dụng. Đối tượng giới thiệu của 7 cuốn tài liệu là các loài thân gỗ lớn, gỗ nhỡ và gỗ nhỏ, không đề cập tới các nhóm loài khác. Năm 2009, được sự tài trợ của tổ chức Jica nhóm các nhà chuyên gia về thực vật của Viện Điều tra Quy hoạch rừng với chủ biên là Vũ Văn Dũng đã biên soạn, tổng hợp lại 7 cuốn Cây gỗ rừng Việt Nam đã xuất bản trong giai đoạn trước 1988 và bổ sung thêm 39 loài, cuốn tài liệu này được biên soạn bằng Tiếng Anh có tên là “Viet Nam Forest Trees”, tái bản có bổ sung lần 2. Các loài được giới thiệu chỉ tập trung vào thực vật rừng có thân gỗ lớn, gỗ nhỡ và gỗ nhỏ.
Không đề cập tới các nhóm dương xỉ, dây leo, cây bụi, tre nứa hay cau dừa có thân hóa gỗ ở Việt Nam. Nghiên cứu thực vật tại Khu BTTN Tây Yên Tử Năm 1999 Ban quản lý Khu BTTN Khe Rỗ đã phối hợp với các chuyên gia thực vật của trường Đại học Lâm nghiệp điều tra sơ bộ đặc điểm tài nguên thực vật và xây dựng danh lục thực vật rừng Khu BTTN Khe Rỗ [1] (nay là Phân ban Khe Rỗ thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử). Kết quả của đợt điều tra này các chuyên gia đã tìm được 276 loài cây gỗ thuộc 136 chi của 57 họ thực vật; 452 loài cây cỏ, dây leo thuộc 53 chi của 28 họ. Tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, hiện nay chưa có một nghiên cứu nào về dạng sống, công dụng và giá trị bảo tồn của hệ thực vật cây gỗ; các đợt điều tra, tìm hiểu về khu hệ thực vật tại Khu Bảo tồn đã thực hiện trước kia chỉ chú ý đến số lượng loài và lập ra một bản danh lục thực vật sơ bộ.
Chính vì vậy mà việc quản lý bảo vệ những loài cây gỗ, đặc biệt là những loài cây gỗ có giá trị bảo tồn và kinh tế cao tại khu bảo tồn Tây Yên Tử vẫn còn nhiều hạn chế.