Tổng quan luận án
Động vật không xương sống cỡ lớn (Macroinvertebrates) trong các thủy vực nước ngọt giữ vai trò trung tâm trong cấu trúc chuỗi thức ăn, tham gia trực tiếp vào chu trình chuyển hóa vật chất và năng lượng, đồng thời duy trì sự cân bằng sinh thái của các hệ sinh thái suối và sông. Các nhóm động vật này bao gồm Thân mềm (Mollusca), Giáp xác (Crustacea), Côn trùng nước (Insecta) và Giun đốt (Annelida), có kích thước lớn hơn 500 μm và có thể quan sát trực tiếp bằng mắt thường. Bên cạnh giá trị về mặt tài nguyên thực phẩm, thương mại và thủ công mỹ nghệ, nhóm sinh vật này còn được ứng dụng phổ biến làm sinh vật chỉ thị (SVCT) để quan trắc, đánh giá chất lượng môi trường nước mặt.
Tại Việt Nam, các tác động tiêu cực từ hoạt động nhân sinh như phát triển kinh tế nhanh, khai thác khoáng sản và cát sỏi, đánh bắt thủy sản, du lịch sinh thái thiếu kiểm soát cùng với hiện tượng thời tiết cực đoan do biến đổi khí hậu đang làm suy giảm nghiêm trọng tính đa dạng sinh học thủy vực. Vườn Quốc gia (VQG) Xuân Sơn thuộc tỉnh Phú Thọ có hệ sinh thái rừng kín thường xanh trên núi đá vôi với độ đa dạng sinh học cao. Tuy nhiên, giai đoạn trước năm 2012, các chương trình khảo sát tại đây chỉ tập trung vào thực vật bậc cao, động vật có xương sống và một số nhóm côn trùng trên cạn, hoàn toàn thiếu vắng các dữ liệu chuyên sâu về khu hệ động vật không xương sống cỡ lớn ở các hệ thống suối. Nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu này, tác giả Nguyễn Thanh Sơn đã thực hiện luận án tiến sĩ với đề tài "Nghiên cứu đa dạng sinh học động vật không xương sống cỡ lớn ở hệ thống suối tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ", thuộc chuyên ngành Thủy sinh vật học (Mã số: 62420108) tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Văn Vịnh.
Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể theo 3 nội dung:
- Xác định thành phần loài, cấu trúc quần xã động vật không xương sống cỡ lớn ở hệ thống suối của VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ và đặc điểm phân bố của chúng theo mùa và theo các dạng sinh cảnh.
- Đánh giá mức độ đa dạng sinh học của động vật không xương sống cỡ lớn và mối liên quan của chúng với một số yếu tố môi trường nước.
- Đánh giá chất lượng nước ở hệ thống suối của VQG Xuân Sơn và đề xuất một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học động vật không xương sống cỡ lớn ở nước tại khu vực nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nhóm động vật không xương sống cỡ lớn thuộc ngành Thân mềm (Mollusca), lớp Giáp xác lớn (Crustacea), lớp Côn trùng (Insecta) và ngành Giun đốt (Annelida) sinh sống trong các thủy vực suối tự nhiên. Phạm vi không gian nghiên cứu bao gồm 19 điểm thu mẫu (ký hiệu từ TS1 đến TS19) phân bố trên 7 hệ thống suối chính tại VQG Xuân Sơn: suối Xoan, suối Tân Ông, suối Hạ Bằng, suối Chiềng, suối Lấp, suối Thân và suối Cỏi. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa được triển khai từ tháng 3/2013 đến tháng 3/2016 thông qua 6 đợt khảo sát định kỳ đại diện cho cả mùa khô và mùa mưa; toàn bộ nội dung xử lý dữ liệu và hoàn thiện luận án được thực hiện trong giai đoạn 2013 - 2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án đã hệ thống hóa các hướng nghiên cứu động vật không xương sống cỡ lớn nước ngọt trên thế giới và tại Việt Nam qua các thời kỳ:
Trên thế giới, nghiên cứu phân loại côn trùng nước đã có những bước tiến lớn với công trình của McCafferty (1983) xác lập khóa định loại 10 bộ côn trùng nước với 139 họ ở Bắc Mỹ; Merritt và Cummins (1996) phân loại côn trùng nước đến cấp giống; Morse và cộng sự (1994) xây dựng khóa định loại các bộ côn trùng nước đến cấp giống tại Trung Quốc. Về ngành Thân mềm, Brandt (1974) mô tả 283 loài Chân bụng và 97 loài Hai mảnh vỏ ở Thái Lan; Panha và Burch (2004) thống kê hơn 150 loài tại Malaysia; Bogan (2008) tổng kết lớp Bivalvia nước ngọt toàn cầu với bộ Unioniformes gồm 6 họ, 180 giống và 800 loài. Về Giáp xác lớn, Yeo và Naiyanetr (1999, 2000, 2004, 2007) đã mô tả nhiều chi và loài cua mới tại Lào, Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam; Hanamura và cộng sự (2011) công bố các loài thuộc giống Macrobrachium ở Lào; Nguyen Van Xuan (2012) mô tả loài tôm mới thuộc giống Macrobrachium tại Biển Hồ (Campuchia). Dự án toàn cầu "Đánh giá đa dạng sinh học động vật nước ngọt" (FADA, 2002 - 2008) do 163 nhà khoa học thực hiện đã thống kê 125.531 loài động vật nước ngọt (chiếm 9,5% tổng số loài động vật toàn cầu), trong đó lớp Insecta chiếm ưu thế tuyệt đối với 75,4% (75.874 loài). Về hướng phân bố và tương tác sinh thái, các tác giả Vannote và cộng sự (1980), Ward và Stanford (1983), Cole và Weigmann (1983), Grapentine và Rosenberg (1992), Jackson và Harvey (1993), Guerold và cộng sự (2000), Braak và Verdonschot (1995), Hunt và Stanley (2003), Paukert và Willis (2003) đã chứng minh vai trò chi phối của pH, oxy hòa tan, loại nền đáy, chất hữu cơ trầm tích và độ dốc dòng chảy đến cấu trúc quần xã thủy sinh vật. Về ứng dụng chỉ thị sinh học, khởi đầu từ hệ thống Saprobic của Kolkwitz và Marsson (1908, 1909), các hệ thống tính điểm sinh học BMWP (1976), chỉ số ASPT, BBI (Bỉ), EBI (Ý) đã được chuẩn hóa và áp dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước năm 1945 chủ yếu mang tính điều tra ban đầu của các tác giả nước ngoài như Crosse và Fischer (1863), Fischer và Dautzenberg (1905, 1908), Rathbun (1902 - 1906), Bouvier (1904, 1925). Giai đoạn sau năm 1945, các công trình của Đặng Ngọc Thanh (1967, 1980), Đặng Ngọc Thanh và Phạm Văn Miên (1965 - 1976), Thái Trần Bái (1975) và công trình "Định loại Động vật không xương sống nước ngọt Bắc Việt Nam" (Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái, Phạm Văn Miên, 1980) cùng "Động vật chí Việt Nam, tập 5" (Đặng Ngọc Thanh và Hồ Thanh Hải, 2001, 2002) đã đặt nền móng phân loại học vững chắc. Tiếp đó, hàng loạt công trình chuyên sâu về các nhóm taxon được công bố: Nguyễn Văn Vịnh (2003) với 102 loài thuộc bộ Ephemeroptera; Hoàng Đức Huy (2005) với 198 loài bộ Trichoptera; Trần Anh Đức (2008) với 64 loài họ Gerridae; Cao Thị Kim Thu (2008) với họ Perlidae; các nghiên cứu của Nguyen và Bae (2003 - 2006), Papáček và Zettel (2003), Zettel và Trần Anh Đức (2006), Trần Anh Đức và Polhemus (2017). Về ứng dụng SVCT đánh giá chất lượng nước, Nguyễn Xuân Quýnh (1995) đề xuất hệ thống phân loại nhiễm bẩn thủy vực; Dự án Darwin (1997 - 1999) phối hợp giữa Đại học Khoa học Tự nhiên và Viện Sinh thái Nước ngọt Anh Quốc đã thiết lập quy trình lấy mẫu và bộ tính điểm BMWPVIET; Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001, 2004), Lê Thu Hà (2003), Nguyễn Vũ Thanh và Tạ Huy Thịnh (2005), Nguyễn Quang Huy (2010), Hoàng Đình Trung và cộng sự (2011), Trần Anh Đức và cộng sự (2012), Nguyen và cộng sự (2014) đã ứng dụng BMWPVIET và ASPT trên các lưu vực sông suối và vườn quốc gia.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết là cung cấp một nghiên cứu đồng bộ, toàn diện và có hệ thống đầu tiên về khu hệ động vật không xương sống cỡ lớn tại các thủy vực suối VQG Xuân Sơn; thiết lập dữ liệu về thành phần loài, cấu trúc phân bố theo thời gian và không gian sinh cảnh, phân tích tương quan sinh thái đa biến với các yếu tố môi trường nước và hiện trạng chất lượng nước thông qua hệ thống tính điểm sinh học BMWPVIET.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết về cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái dòng chảy (Lotich ecosystem), lý thuyết diễn thế và chỉ thị sinh học môi trường nước ngọt. Các công cụ định lượng sử dụng bao gồm chỉ số đa dạng loài Shannon - Wiener ($H'$), hệ thống tính điểm Biological Monitoring Working Party phỏng theo điều kiện Việt Nam (BMWPVIET) và điểm số trung bình trên mỗi đơn vị phân loại (Average Score Per Taxon - ASPT).
Mạng lưới khảo sát gồm 19 điểm thu mẫu (TS1 - TS19) đại diện cho các điều kiện sinh cảnh khác nhau thuộc 7 dòng suối: suối Xoan (TS1, TS2, TS7, TS9), suối Tân Ông (TS3, TS4, TS5), suối Hạ Bằng (TS6, TS10), suối Chiềng (TS8), suối Lấp (TS11, TS12, TS13), suối Thân (TS14, TS15, TS16) và suối Cỏi (TS17, TS18, TS19).
| Đợt thu mẫu |
Thời gian thực hiện |
Mùa khảo sát |
| Đợt 1 |
Từ 21/03 đến 25/03/2013 |
Mùa khô |
| Đợt 2 |
Từ 25/08 đến 30/08/2013 |
Mùa mưa |
| Đợt 3 |
Từ 23/08 đến 28/08/2014 |
Mùa mưa |
| Đợt 4 |
Từ 21/03 đến 26/03/2015 |
Mùa khô |
| Đợt 5 |
Từ 20/08 đến 25/08/2015 |
Mùa mưa |
| Đợt 6 |
Từ 19/03 đến 24/03/2016 |
Mùa khô |
Phương pháp thu thập dữ liệu và kỹ thuật phân tích được chuẩn hóa như sau:
- Xác định chỉ tiêu thủy lý, hóa học: Đo đạc trực tiếp tại hiện trường trước khi lấy mẫu sinh vật. Các thông số nhiệt độ nước, pH và độ dẫn điện được đo bằng máy đo đa chỉ tiêu Handylab pH/LF12 (Hãng Schott, CHLB Đức); nồng độ oxy hòa tan (DO) được đo bằng máy WQC-22A (Hãng TOA, Nhật Bản); tọa độ địa lý và độ cao điểm thu mẫu được ghi nhận bằng thiết bị định vị GPS SP24XC (Hãng MLR, Pháp).
- Mô tả sinh cảnh: Ghi nhận chiều rộng, độ sâu dòng suối, loại nền đáy (đá tảng, sỏi cuội, cát bùn, mùn rác), độ che phủ thảm thực vật ven bờ và chụp ảnh tư liệu.
- Thu mẫu định tính: Nhóm 6 người thực hiện trong phạm vi 50 m chiều dài dòng suối trong 60 phút. Sử dụng vợt tay (Hand net) và vợt ao (Pond net). Tại vùng nước chảy nền sỏi đá áp dụng kỹ thuật đạp nước (kick sampling) ngược dòng trong 3 phút; kiểm tra bề mặt đá ngập nước và cành cây bám; xúc và đãi trầm tích bùn cát; quét vợt tại các thảm thủy sinh ven bờ và bề mặt nước.
- Thu mẫu định lượng: Sử dụng lưới Surber diện tích khung 50 x 50 cm ($0,25\text{ m}^2$), kích thước mắt lưới 0,2 mm. Đặt lưới ngược dòng chảy, khuấy động nền đáy trong khung $50\times 50\text{ cm}$ để sinh vật trôi vào lưới. Mỗi điểm thu tối đa 4 mẫu định lượng (tại ven bờ và giữa dòng, nơi nước chảy và nước tĩnh); tổng số khoảng 69 mẫu định lượng được thu thập. Mật độ cá thể trên một mét vuông ($\text{cá thể/m}^2$) được tính bằng số lượng cá thể đếm được nhân với hệ số 4.
- Xử lý và định loại trong phòng thí nghiệm: Cố định mẫu bằng Ethanol 90%, bảo quản trong Ethanol 70%. Quan sát, mổ xẻ và định loại hình thái dưới kính hiển vi Zeiss Primo Star (độ phóng đại 4 - 100 lần) và kính lúp soi nổi Zeiss Stemi 2000 (độ phóng đại 8 - 64 lần), đối chiếu với các tài liệu phân loại chuẩn của Đặng Ngọc Thanh và cs. (1980, 2001, 2002, 2004, 2012), Nguyễn Xuân Quýnh và cs. (2001), Sangpradub và Boonsoong (2006), Brandt (1974), Merritt và Cummins (1996), Morse và cs. (1994), Nguyễn Văn Vịnh (2003), Hoàng Đức Huy (2005), Trần Anh Đức (2008), Cao Thị Kim Thu (2008).
- Đánh giá chất lượng nước bằng SVCT: Áp dụng hệ thống BMWPVIET. Tổng điểm BMWP bằng tổng điểm các họ hiện diện trong mẫu; điểm ASPT bằng tổng điểm BMWP chia cho số họ được tính điểm.
| Chỉ số sinh học (ASPT) |
Mức độ ô nhiễm môi trường nước |
| Điểm 0 |
Nước cực kỳ bẩn (không có động vật không xương sống) |
| Điểm 1,0 - 2,9 |
Nước rất bẩn (Polysaprobe) |
| Điểm 3,0 - 4,9 |
Nước bẩn vừa (α-Mesosaprobe) hay khá bẩn |
| Điểm 5,0 - 5,9 |
Nước bẩn vừa (β-Mesosaprobe) |
| Điểm 6,0 - 7,9 |
Nước bẩn ít (Oligosaprobe) hay tương đối sạch |
| Điểm 8,0 - 10,0 |
Nước sạch |
- Xử lý thống kê và phân tích đa biến: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2010 và bộ chương trình Primer v.6 (Primer-E Ltd, Vương quốc Anh). Tính giá trị trung bình, phương sai mẫu ($\sigma^2$), độ lệch chuẩn (SD), chỉ số đa dạng loài Shannon - Wiener ($H'$), ma trận tương đồng Bray - Curtis, thang đo đa hướng (MDS), phân tích tương quan sinh vật - môi trường BEST (Biota and/or Environment matching) và phân tích thống kê sai khác cấu trúc ANOSIM (Analysis of Similarity).
Nội dung chính theo từng chương
Tổng quan tài liệu và khái quát khu vực nghiên cứu
Chương này tổng thuật toàn diện cơ sở dữ liệu về động vật không xương sống cỡ lớn nước ngọt, phân tích các nghiên cứu về phân loại, phân bố và quan trắc sinh thái trong và ngoài nước. Đồng thời, chương cung cấp dữ liệu nền về địa bàn nghiên cứu tại VQG Xuân Sơn (thành lập theo Quyết định số 49/QĐ-TTg ngày 17/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ):
- Vị trí địa lý và địa hình: Nằm tại tọa độ 21°03’ - 21°12’ vĩ độ Bắc và 104°51’ - 105°01’ kinh độ Đông, thuộc huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Tổng diện tích vùng lõi là 15.048 ha (phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 9.099 ha, phân khu phục hồi sinh thái 5.737 ha, phân khu dịch vụ hành chính 212 ha), vùng đệm là 18.645 ha. Địa hình gồm 4 kiểu chính: núi trung bình (>700 m), núi thấp (300 - 700 m), đồi (<300 m) và thung lũng/bồn địa. Có 4 nhóm đất chính: FeH (700 - 1386 m), Fe (<700 m), đất Rendzin (vùng đá vôi) và đất dốc tụ phù sa (DL).
- Khí hậu và thủy văn: Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 22,5°C; mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 (chiếm 90% lượng mưa năm), mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Hệ thống suối chính gồm suối Thân, suối Thang (suối Lấp), suối Cỏi, suối Chiềng đổ ra sông Vèo và sông Dày, sau đó hợp lưu tại Minh Đài chảy vào sông Hồng tại Phong Vực.
- Kinh tế - xã hội: Vùng lõi và vùng đệm có 29 thôn thuộc 6 xã với 12.908 hộ; riêng vùng lõi có 3.425 nhân khẩu (753 hộ năm 2017). Cơ cấu dân tộc: Mường (79,9%), Dao (18,7%), Kinh (1,4%). Thu nhập bình quân đạt 7,9 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo chiếm 35,9%.
- Hiện trạng đa dạng sinh học trước 2012: Đã ghi nhận 1.217 loài thực vật bậc cao (40 loài trong Sách Đỏ Việt Nam), 76 loài thú, 182 loài chim, 44 loài bò sát, 27 loài ếch nhái và 551 loài côn trùng cạn; hoàn toàn chưa có khảo sát về động vật không xương sống cỡ lớn ở nước.
Thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu
Chương trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu thực địa, sơ đồ 19 điểm thu mẫu (TS1 - TS19) trên 7 suối, quy trình thu mẫu chuẩn hóa 6 đợt (2013 - 2016), quy trình đo đạc các yếu tố thủy lý hóa bằng thiết bị chuyên dụng, quy trình thu mẫu định tính (vợt tay, kick sampling) và định lượng (lưới Surber 50 x 50 cm), kỹ thuật bảo quản định loại trong phòng thí nghiệm bằng kính hiển vi/kính lúp, phương pháp tính chỉ số Shannon - Wiener ($H'$), hệ thống BMWPVIET, điểm số ASPT, và các thuật toán thống kê đa biến (Bray - Curtis, MDS, BEST, ANOSIM) trên phần mềm Primer v.6 và Microsoft Excel 2010.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương tập trung trình bày các dữ liệu thực nghiệm và thảo luận khoa học:
- Đặc điểm sinh cảnh và thủy lý hóa: Đánh giá các thông số nhiệt độ nước, pH, độ dẫn điện và DO tại 19 điểm thu mẫu qua hai mùa mưa - khô, làm cơ sở phân tích mối quan hệ sinh vật - môi trường.
- Thành phần loài và cấu trúc quần xã: Xác định tổng số 261 loài động vật không xương sống cỡ lớn thuộc 194 giống, 94 họ, 15 bộ. Cấu trúc quần xã gồm:
- Ngành Chân khớp (Arthropoda): Chiếm ưu thế vượt trội với lớp Côn trùng (Insecta) gồm 10 bộ (Ephemeroptera, Odonata, Plecoptera, Hemiptera, Megaloptera, Lepidoptera, Coleoptera, Trichoptera, Diptera, Neuroptera) và lớp Giáp xác (Crustacea - bộ Decapoda).
- Ngành Thân mềm (Mollusca): Gồm lớp Chân bụng (Gastropoda) và lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia).
- Ngành Giun đốt (Annelida): Gồm các đại diện của lớp Giun ít tơ (Oligochaeta) và lớp Đỉa (Hirudinea).
- Phát hiện mới: Ghi nhận 15 loài và 6 giống mới cho khu hệ động vật Việt Nam thuộc lớp Côn trùng (Insecta) và lớp Chân bụng (Gastropoda); bổ sung 155 loài mới cho khu vực VQG Xuân Sơn.
- Đặc điểm phân bố và đa dạng sinh thái:
- Phân bố theo mùa: Phân tích biến động số lượng loài và mật độ cá thể giữa mùa khô và mùa mưa.
- Phân bố theo sinh cảnh: Đánh giá sự phân bố tại 3 dạng sinh cảnh chính (SC1, SC2, SC3); tính toán mật độ cá thể trung bình theo sinh cảnh trong giai đoạn 2013 - 2016.
- Chỉ số đa dạng Shannon - Wiener ($H'$): Xác định giá trị $H'$ trung bình theo mùa và theo điểm thu mẫu, phản ánh mức độ đa dạng sinh học từ trung bình khá đến cao.
- Phân tích tương đồng và tương quan môi trường: Xây dựng sơ đồ cây phân nhóm tương đồng Bray - Curtis, không gian hai chiều MDS giữa 19 điểm thu mẫu; kiểm định ANOSIM xác nhận sự sai khác có ý nghĩa thống kê về thành phần loài giữa các sinh cảnh; phân tích BEST chỉ ra các yếu tố môi trường (nền đáy, DO, độ cao) chi phối cấu trúc quần xã.
- Đánh giá chất lượng nước bằng SVCT: Xác định số họ nằm trong bảng BMWPVIET tại các điểm thu mẫu, tính toán điểm ASPT giai đoạn 2013 - 2016. Kết quả cho thấy phần lớn các suối ở thượng nguồn vùng lõi đạt chất lượng nước sạch đến tương đối sạch (Oligosaprobe, ASPT từ 6,0 - 7,9 hoặc $\ge 8,0$); một số điểm gần khu dân cư và canh tác nông nghiệp có dấu hiệu nhiễm bẩn vừa (α, β-Mesosaprobe).
- Đề xuất giải pháp bảo tồn: Nhận diện 3 nhóm nguyên nhân gây tác động tiêu cực (sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của dân cư, xây dựng cơ sở hạ tầng, hoạt động du lịch); đề xuất 3 nhóm giải pháp bảo tồn (tăng cường tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức, tăng cường quản lý bảo vệ rừng gắn với bảo vệ sinh cảnh suối, phát triển du lịch sinh thái bền vững có kiểm soát tải lượng môi trường).
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã đạt được các kết quả và đóng góp mới cụ thể:
- Đóng góp mới về phân loại học và khu hệ động vật:
- Xác định danh mục thành phần loài động vật không xương sống cỡ lớn ở hệ thống suối VQG Xuân Sơn gồm 261 loài thuộc 194 giống, 94 họ và 15 bộ.
- Bổ sung cho khu hệ động vật Việt Nam 15 loài và 6 giống mới thuộc lớp Côn trùng (Insecta) và Thân mềm Chân bụng (Gastropoda).
- Ghi nhận mới 155 loài lần đầu tiên xuất hiện trong danh mục đa dạng sinh học của VQG Xuân Sơn.
- Đóng góp mới về sinh thái học và bảo tồn:
- Cung cấp bộ dẫn liệu định lượng có hệ thống về cấu trúc thành phần loài, mật độ cá thể, chỉ số đa dạng Shannon - Wiener ($H'$), quy luật phân bố theo mùa và theo các dạng sinh cảnh suối nhiệt đới vùng núi đá vôi.
- Xác lập cơ sở khoa học về mối liên quan giữa quần xã động vật không xương sống cỡ lớn với các yếu tố môi trường nước và đặc tính nền đáy thông qua các phân tích thống kê sinh thái đa biến (Bray - Curtis, MDS, BEST, ANOSIM).
- Lần đầu tiên ứng dụng thành công phương pháp sinh vật chỉ thị sử dụng thang điểm BMWPVIET và chỉ số sinh học ASPT để đánh giá hiện trạng và phân vùng chất lượng nước suối tại VQG Xuân Sơn.
- Kiến nghị và giải pháp ứng dụng: Luận án đề xuất hệ thống giải pháp bảo vệ tài nguyên nước và đa dạng sinh học thủy vực, bao gồm nâng cao nhận thức cộng đồng người Mường và Dao địa phương, tích hợp bảo vệ thủy vực vào kế hoạch quản lý rừng đặc dụng của VQG, và quy hoạch các tuyến du lịch sinh thái giảm thiểu ô nhiễm nước thải.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi khảo sát tập trung tại 19 điểm thu mẫu trên 7 dòng suối chính của VQG Xuân Sơn trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến 2016. Một số nhóm ấu trùng côn trùng nước ở các giai đoạn phát triển nhỏ chưa định loại được đến cấp độ loài do hạn chế về mẫu vật trưởng thành và khóa định loại chuyên sâu đối với khu hệ địa phương.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu vòng đời sinh học, tập tính sinh thái và sinh học phân tử đối với 15 loài và 6 giống mới ghi nhận cho Việt Nam; thiết lập mạng lưới quan trắc sinh học dài hạn kết hợp chỉ thị sinh vật và phân tích hóa lý định kỳ nhằm giám sát biến động chất lượng nước tại các lưu vực sông Vèo, sông Dày và các suối lân cận.
Giá trị tham khảo
- Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu học thuật: Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhà khoa học, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Thủy sinh vật học, Sinh thái học, Động vật học và Khoa học Môi trường về phương pháp khảo sát thực địa, quy trình định loại hình thái học động vật đáy và kỹ thuật xử lý dữ liệu sinh thái đa biến bằng Primer v.6.
- Đối với cơ quan quản lý và bảo tồn: Cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp cho Ban Giám đốc Vườn Quốc gia Xuân Sơn, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Phú Thọ và Sở Tài nguyên và Môi trường trong việc xây dựng phương án quản lý rừng bền vững, quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học thủy vực và giám sát chất lượng nguồn nước tự nhiên.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đã ghi nhận tổng cộng bao nhiêu taxon động vật không xương sống cỡ lớn tại hệ thống suối VQG Xuân Sơn?
Luận án đã xác định được 261 loài thuộc 194 giống, 94 họ và 15 bộ động vật không xương sống cỡ lớn thuộc các ngành Thân mềm (Mollusca), Chân khớp (Arthropoda) và Giun đốt (Annelida).
2. Luận án có những phát hiện mới nào cho khu hệ động vật Việt Nam và khu vực nghiên cứu?
Luận án ghi nhận mới cho khu hệ động vật Việt Nam 15 loài và 6 giống mới thuộc lớp Côn trùng (Insecta) và lớp Chân bụng (Gastropoda); đồng thời ghi nhận 155 loài lần đầu tiên có mặt tại VQG Xuân Sơn.
3. Khảo sát thực địa của đề tài được tiến hành tại bao nhiêu điểm và trong những khoảng thời gian nào?
Khảo sát thực địa được tiến hành tại 19 điểm thu mẫu (TS1 đến TS19) phân bố trên 7 hệ thống suối của VQG Xuân Sơn thông qua 6 đợt thu mẫu (3 đợt mùa khô vào tháng 3 các năm 2013, 2015, 2016 và 3 đợt mùa mưa vào tháng 8 các năm 2013, 2014, 2015).
4. Phương pháp và công cụ nào được tác giả sử dụng để đánh giá chất lượng nước suối?
Tác giả sử dụng phương pháp sinh vật chỉ thị dựa trên hệ thống tính điểm BMWPVIET cho các họ động vật không xương sống cỡ lớn và tính chỉ số điểm trung bình trên mỗi taxon (ASPT), đối chiếu với bảng phân cấp 6 mức độ ô nhiễm từ nước cực kỳ bẩn đến nước sạch.
5. Những hoạt động nào được xác định là nguồn tác động chính đến môi trường thủy vực tại VQG Xuân Sơn?
Ba nhóm nguyên nhân chính tác động đến môi trường sinh thái thủy vực gồm: hoạt động sản xuất nông nghiệp (trồng lúa nước, hoa màu) và sinh hoạt của người dân địa phương; hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông; và hoạt động phát triển du lịch sinh thái tại khu vực trung tâm xã Xuân Sơn.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thanh Sơn là công trình nghiên cứu toàn diện đầu tiên về đa dạng sinh học động vật không xương sống cỡ lớn ở hệ thống suối tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Bằng việc kết hợp phương pháp khảo sát thực địa chuẩn hóa, phân loại học hình thái và các mô hình thống kê sinh thái đa biến, luận án đã xác lập danh mục 261 loài, bổ sung 15 loài và 6 giống mới cho Việt Nam, làm rõ đặc điểm phân bố quần xã theo mùa và sinh cảnh. Đồng thời, công trình khẳng định tính hiệu quả của phương pháp sinh vật chỉ thị (BMWPVIET, ASPT) trong đánh giá chất lượng nước suối vùng núi đá vôi, cung cấp luận cứ khoa học phục vụ công tác bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý môi trường bền vững.