MỞ ĐẦU Hà Giang năm ở cực Bắc của Việt Nam, trên địa hình khá phức tạp, có thé chia làm 3 vùng. Vùng cao núi đá phía bac nam sat chí tuyến bắc, có độ đốc khá lớn, thung lũng và sông suối bị chia cắt nhiều, có đỉnh Tây Côn Lĩnh (2.419m) và đỉnh Kiều Liêu Ti (2.402m) là cao nhất. Vùng cao núi đất phía tây thuộc khối núi thượng nguồn sông Chay, sườn núi đốc, đèo cao, thung lũng và lòng suối hep. Vùng thấp trong tỉnh gồm vùng đổi núi, thung lũng sông Lô và thành phố Hà Giang.
Khí hậu mang nhiều sắc thái ôn đới, chia làm 2 mùa, mùa mưa và mùa khô, có nhiều khu rừng nguyên sinh, 356.926 ha rừng tự nhiên là ngôi nhà cho các động vật quý cùng nhiều loại cây gỗ, cây dược liệu quý (Cục kiểm lâm, 2014)[199]. Ngoài ra, Hà Giang còn có 28 loại khoáng sản khác nhau, nhiều mỏ có trữ lượng lớn với hàm lượng khoáng chất cao (Công TTĐT Hà Giang, 2012)[196]. Về mặt kinh tế-xã hội, tăng trưởng GDP đạt tốc độ cao, giai đoạn 2006-2010 mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng nền kinh tế tinh Hà Giang đã phát triển 6n định với tốc độ tăng trưởng cao hơn trước, thu hẹp dần khoảng cách so với trung bình của cả nước. Tuy nhiên với diện tích 7.884,3 km2, mật độ dân số của Hà Giang chỉ là 95 người/km?, Ha Giang van là một tỉnh nghèo của Việt Nam, hiện đang có nhiều chủ trương, chính sách của Quốc gia va địa phương nhằm thúc day, phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống (Công TTĐT Hà Giang, 2012)[196].
Song song với nhiệm vụ phát triển kinh tế trong giai đoạn hiện nay, cần phải đặc biệt quan tâm đến vấn đề môi trường, cần xây dựng cơ cấu, chiến lược phát triển kinh tế xã hội gắn kết với an toàn môi trường, phát triển bền vững. Dé thực hiện được nhiệm vụ chiến lược đó, vấn đề đặt ra là phải xây dựng được mối quan hệ tong hòa giữa thiên nhiên và môi trường trên phạm vi toàn khu vực. Trên cơ sở là những tiềm lực tự nhiên và xã hội của địa phương, các nhà quản lý, xây dựng chính sách mới có được cái nhìn tổng quan và hoạch định được chính sách đúng đắn, phù hợp nhất. Trong nghiên cứu về thực vật, nghiên cứu về hệ thực vật giúp chung ta cơ so lý luận thực tiễn về tài nguyên thực vật của địa phương còn nghiên cứu tinh đa dang và sự phân bố của các đơn vị cấu trúc thảm thực vật sẽ giúp chúng ta có được cái nhìn tông quát trong công tác quy hoạch, định hướng phát triển tài nguyên.
Đó là cở sở khoa học xác đáng để các nhà quản lý, hoạch định kinh tế, chính sách sẽ tìm ra được những giải pháp quản lý tài nguyên bền vững và hiệu quả nhất, thông qua đó là giải pháp phát triển kinh tế bền vững. Hà Giang với sự phức tạp, đa dạng về các yếu tố tự nhiên hứa hẹn là một khu vực mang tính đa dạng sinh học cao. Thêm vào đó khu vực có nét đặc sắc trong văn hóa và kiến thức bản địa nhưng hiện tại mức độ phát triển kinh tế, xã hội chưa cao, chưa tận dụng hết cơ hội phát triển các nguồn tài nguyên tái tạo, bền vững. Do vậy, việc phân tích, đánh giá tài nguyên thực vật, thảm thực vật của một khu vực sẽ xác định được bản chất, tính chất và qua đó dự báo được xu hướng biến đổi của chúng trong tương lai gần, làm cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên ngăn ngừa những nguy cơ, tai biến tự nhiên, góp phan phát triển kinh tế, ôn định đời sống nhân dân, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu đa dạng hệ thực vật, thảm thực vật tỉnh Hà Giang nhằm góp phần quy hoạch phát triển bền vững của địa phương”.
Kết quả của luận án có ý nghĩa khoa học và thực tiễn như sau: Góp phần khám phá đa dạng thực vật của địa phương. Bỏ sung cơ sở khoa học về tài nguyên đa dạng thực vật của Việt Nam nói chung và Hà Giang nói riêng. Góp phần đánh giá sự phân bố của các quần xã, quần hệ thảm thực vật ở địa phương. Lập cơ sở khoa học cho việc xây dựng, hoạch định các chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội bền vững cho tỉnh Hà Giang.
Bên cạnh đó, những điểm mới của luận án gồm: Luận án xây dựng được danh lục các loài thực vật có mạch cho tỉnh Hà Giang gồm 2.890 loài, trong đó 280 loài được thu mẫu và 744 loài được quan sát, bồ sung vùng phân bố là tỉnh Hà Giang cho 331 loài so với Danh lục thực vật Việt Nam (2005). Bỏ sung vùng phân bố Hà Giang cho 88 loài thực vật trong Sách Đỏ Việt Nam (2007). Đánh giá và mô tả các quan xã thực vat trong sinh khí hau ấm-ướt và mát-ướt (Kiểu rừng kin thường xanh mưa ướt nhiệt đới cây lá rộng; Kiểu phụ rừng thứ sinh thường xanh mưa ướt nhiệt đới cây lá rộng; Kiểu phụ rừng thứ sinh thường xanh mưa ướt nhiệt đới cây lá rộng hỗn giao tre nứa; Kiểu phụ rừng thứ sinh mưa ướt nhiệt đới tre nứa; Kiểu phụ trang cây bụi, trang cỏ thứ sinh mưa ướt nhiệt đới). Luận án thành lập bản đồ thảm thực vật trên quan điểm sinh thái phát sinh (tỉ lệ 1:100.000) có thé ứng dụng thực tiễn trong công tác quản lý, quy hoạch và bảo tồn tài nguyên thực vat, phát triển kinh tế nông lâm nghiệp của địa phương.
Trên cơ sở nghiên cứu khoa học là tính đa dạng và các đặc trưng của hệ thực vật, thảm thực vật tại địa phương va sự phù hợp với điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh xã hội của tinh, đưa ra những đề xuất góp phan phát triển bền vững của Hà Giang. SƠ LUGC NHUNG NGHIÊN CUU VE THUC VAT TREN THE GIỚI 1. Nghiên cứu hệ thực vật trên thé giới 1. Các nghiên cứu về phân loại và hệ thông học thực vật Việc nghiên cứu thực vật học có từ lâu, ngay từ khi con người biết sử dụng cây cỏ trong cuộc sống.
Tuy nhiên chỉ khi tri thức phát triển thì những nghiên cứu mới được ghi chép, hệ thống hóa,. Aristotle là người đầu tiên đưa ra hệ thống phân loại sinh giới, ông đã phân chia sinh vật ra thành thực vật và động vật. Trong hệ thống của Linnaeus, chúng trở thành các giới Vegetabilia (sau này là Plantae) va Animalia. Việc phân chia các nhóm thực vật thành các lớp, ngành, liên ngành cũng khác nhau và tiến bộ theo thời gian.
Thế ky 16 Otto Brunfels, Hieronymus Bock va Leonhart Fuch đã giúp cho việc mô tả các loài tăng lên nhanh chóng bang việc khám phá và ghi chép về những loài mới của họ mặc du họ tập trung nhiều vào việc mô tả tác dụng làm thuốc của cây cỏ (History of Plant Systematic, 2014)[200]. Sau này, Caspar Bauhin và Andrea Cesalpino là những người phát triển tiếp, cụ thể, Bauhin đã mô tả được hơn 6000 loài thực vật ghi trong 12 cuốn sách với 72 phần dựa trên các đặc điểm sắp xếp một cách tự nhiên, phố biến của thực vật (History of Plant Systematic, 2014)[200]. Thế ký 17, John Ray đã lập được danh sách 18.000 loài thực vật đồng thời họ đã phân chia thực vật thành Một lá mầm, Hai lá mầm và một số nhóm khác. Joseph Pitton de Tournefort đã xây dựng được hệ thống một cách chủ quan dựa theo sự phân chia một cách lô-dích (History of Plant Systematic, 2014)[200].
Hệ thống này được sử dụng cho tới khi có sự ra đời hệ thống Species Plantarum (1753) của Linnaeus, một hệ thống rất khoa học và hoàn chỉnh cho đến lúc bấy giờ, đơn vị phân loại cao nhất vẫn được dùng cho đến tận ngày nay đó là Chi (Genus) và các đặc điểm của bộ phận sinh sản (đực/cái), bộ phận dinh dưỡng được quan tâm, sử dụng (History of Plant Systematic, 2014)[200]. Sau Linnaeus, có một số đóng góp đáng kê của các nhà khoa học bằng việc đưa ra những quan điểm, bằng chứng dé làm rõ và hoàn thiện hệ thống như Adanson, Michel (1763) trong “Familles des plantes” hay de Jussieu, Antoine Laurent (1789) trong “Genera Plantarum, secundum ordines naturales disposita juxta methodum in Horto Regio Parisiensi exaratam” hoac de Candolle va cs (1824-1873) trong “The Vegetable Kingdom” (History of Plant Systematic, 2014)[200]. Đối với ngành, tiến hóa cao nhất là thực vật có hoa, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu, các hệ thống phân loại được đưa ra dé ap dung va dan hoan thién hơn. Có thể kể đến các công trình ban đầu như hệ thống của Cronquist với công trình cuối cùng là “An integrated system of classification of flowering plants” (Cronquist, 1981)[143], cua A.
Takhtajan với xuất bản cuối cùng là “Diversity and classification of flowering plants” (Takhtajan, 1997)[169], hay Thorne với công bố "The classification and geography of the flowering plants: dicotyledons of the class Angiospermae" (Thorne, 2000)[172] va gần đây nhất là những công bố của APG về dựa trên các kết quả nghiên cứu về di truyền học phân tử và phân tích cau trúc DNA của các nhóm phân loại (APG 1998-2009) [125-127]. Hiện nay, bên cạnh các công trình xuất bản bang sách, đã có các trang thông tin điện tử xuất bản và cung cấp thông tin một cách chính thức và có độ tin cậy cao như các tạp chí có mã số và các website của các tô chức uy tín khác. The International Plant Index (ipni.org, 2014)[202] và The Plant List (theplantlist.org, 2014)[203] là những website cung cấp tên khoa học cập nhật va chính xác nhất cũng như lịch sử công bố của các loài dựa trên các bộ mẫu chuẩn, các công bố đã được cộng đồng quốc tế và các tạp chí khoa học xác nhận. The Plant List cũng kết nối thường xuyên và cập nhật tới website của Vườn thực vật Hoàng gia Kew (kew.org, 2014)[205] hay Website của Vườn thực vật Missouri (mobot.
Hệ thống này cung cấp tên khoa học đã được chấp nhận cho các loài thực vật và cho phép liên kết với các đồng danh khác của tất cả các loài đã biết. Các nghiên cứu về đa dạng thực vật Các nước phương Tây đã thực hiện việc nghiên cứu thực vật ở các vùng miền từ rất sớm. Trong các thế kỷ trước, các nhà thực vật học châu Âu đã có những nghiên cứu tiễn hành ở các châu lục, vùng miễn trên thế giới, đó là cơ sở quan trọng cho các nghiên cứu đã trình bày ở trên và hiện nay đối với các quốc gia thuộc châu Âu, châu Mỹ, việc nghiên cứu hệ thực vật trên toàn lãnh thé của họ đã được thực hiện.