mở đầu cho việc nghiên cứu hệ thực vật cụ thể (dẫn theo Từ Minh Tiệp, 2000)[46].I [73] cho rằng chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao trùm được sự phong phú của nơi sống, nhưng không có sự phân hóa về mặt địa lý, ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể, ông đã đưa ra nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1500-2000 loài. Cho đến nay, trên thế giới chưa có con số thống kê chính xác tổng số loài thực vật. Một số nhà thực vật học dự đoán số loài thực vật bậc cao hiện có trên thế giới vào khoảng 500. Phêđôrốp (1965) dự đoán thế giới có khoảng: 300.000 loài thực vật hạt kín; 5.000 loài thực vật hạt trần; 6.000 loài quyết thực vật; 14.000 loài nấm và các loài thực vật bậc thấp khác.
Đối với từng châu lục, G. - Châu Mỹ có khoảng 97.000 loài trong đó: Hoa Kỳ + Canada: 25.000 loài; Mehico + Trung Mỹ: 17.000 loài; Nam Mỹ: 56.000 loài; Đất lửa + Nam cực: 1. - Châu Âu có khoảng 15.000 loài trong đó: Trung và Bắc Âu: 5.000 loài; Nam Âu, vùng Ban căng và Capcasơ: 10. - Châu Phi có khoảng 40.500 loài trong đó: các vùng nhiệt đới ẩm: 15.000 loài; Nam Phi: 6.500 loài; Bắc Phi, Angieri, Ma Rốc và các vùng phụ cận khác: 4.000 loài; Tuynidi và Ai cập: 2.000 loài; Xomali và Eritrea: 1.000 loài trong đó: Đông Nam Á: 80.000 loài; các khu vực nhiệt đới Ấn Độ: 26.000 loài; Viễn đông thuộc Liên bang Nga, Triều Tiên, Đông bắc Trung Quốc: 6.000 loài; Xibêria thuộc Liên bang Nga, Mông Cổ và Trung Á: 5.000 loài trong đó: Đông Bắc Úc: 6.000 loài; Tây Nam Úc: 5.500 loài; Lục địa Úc: 5.000 loài; Taxman và Tây tây lan: 4.
Lecointre và Guyader (2001) [20] đưa con số thống kê số loài thực vật bậc cao đã được mô tả trên toàn thế giới gồm có Nấm (Fungi) có 100.800 loài, nghành Rêu (Bryophyta) 15.000 loài, ngành Thông đất (Lycopodiphyta) 1275 loài, ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) 9.500 loài, ngành Thông (Pinophyta) 601 loài và ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) 233.1: Số loài thực vật được mô tả trên toàn thế giới % số loài đã được Bậc phân loại Tên thường gọi Số loài mô tả mô tả Fungi Nấm 100.800 5,80 Bryophyta Ngành Rêu 15.000 0,90 Lycopodiophyta Ngành Thông đất 1.275 0,07 Polypodiophyta Ngành Dương xỉ 9.500 0,50 Pinophyta Ngành Thông 601 0,03 Magnoliophyta Ngành Ngọc lan 233. Nghiên cứu về yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật Các yếu tố cấu thành nên một hệ thực vật nào đó không chỉ khác nhau về thành phần phân loại mà còn khác nhau về sự phân bố địa lý, nguồn gốc địa lý và cả thời kỳ địa chất [47]. Phân tích các yếu tố địa lý thực vật là một trong những yếu tố quan trọng khi nghiên cứu một hệ thực vật hay bất kỳ một khu hệ sinh vật nào để hiểu bản chất cấu thành của nó làm cơ sở cho việc định hướng bảo tồn và dẫn giống vật nuôi, cây trồng,… Phân tích các loài thành các nhóm căn cứ vào sự giống nhau ít n 9 hay nhiều về khu phân bố của chúng. Tập hợp các loài của một hệ thực vật có khu phân bố ít nhiều giống nhau tập hợp lại thành một yếu tố địa lý.
Tập hợp tất cả các yếu tố địa lý của hệ thực vật (tính %) là phổ các yếu tố địa lý của hệ thực vật đó. Mặc dù vậy, việc nghiên cứu các yếu tố cấu thành của hệ thực vật cũng rất phức tạp và phải phụ thuộc vào khả năng, ý định của từng tác giả cũng như nguồn tài liệu cho phép. Việc chia nhóm phân bố phải đảm bảo nguyên tắc mỗi yếu tố địa lý của hệ thực vật bao gồm tất cả các loài của hệ thực vật đó có khu phân bố ít nhiều giống nhau. Các yếu tố địa lý này được chia thành 2 nhóm: nhóm các yếu tố đặc hữu và nhóm các yếu tố di cư.
Các loài thuộc nhóm các yếu tố đặc hữu thể hiện ở sự khác biệt giữa các hệ thực vật với nhau, còn các loài thuộc nhóm các yếu tố di cư chỉ ra sự liên hệ giữa các hệ thực vật đó. Những nghiên cứu về đa dạng thành phần loài Trên thế giới những nghiên cứu về thành phần loài đã được tiến hành từ khá lâu. Ở Liên Xô (cũ) có các nghiên cứu của Vưsotxki (1915), Alokhin (1904), Craxit (1927), Sennhicốp (1933), Creepva (1978),… Theo các tác giả thì mỗi vùng sinh thái khác nhau sẽ hình thành những kiểu thảm thực vật khác nhau. Sự khác biệt này được thể hiện bởi thành phần loài, nhóm dạng sống, cấu trúc và động thái của thảm thực vật.
Vì vậy, nghiên cứu thành phần, dạng sống của hệ thực vật là chỉ tiêu quan trọng trong phân loại thảm thực vật [42]. Ramakrishman (1981 – 1992) nghiên cứu thảm thực vật sau nương rẫy ở vùng Tây bắc Ấn Độ đã nhận định rằng chỉ số đa dạng loài rất thấp, chỉ số loài ưu thế đạt cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hoá. Longchun và cộng sự (1993), nghiên cứu về đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuang Bana tỉnh Vân Nam Trung Quốc đã nhận xét: khi nương rẫy bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài; bỏ hoá 19 năm thì có 60 họ, 134 chi và 167 loài [53]. Những nghiên cứu tính đa dạng về dạng sống Dạng sống là một đặc tính biểu hiện sự thích nghi của thực vật với điều kiện môi trường.
Vì vậy, việc nghiên cứu dạng sống sẽ cho thấy mối quan hệ chặt chẽ của các dạng sống với điều kiện tự nhiên của từng vùng và biểu hiện sự tác động của điều kiện sinh thái đối với loài thực vật. Bảng phân loại dạng sống cây thuộc thảo đã được lập ra lần đầu tiên bởi Canon (1911). Với cây thảo, đặc điểm phần dưới đất đóng vai trò rất quan trọng trong phân chia dạng sống, nó biểu thị mức độ khắc nghiệt khác nhau của môi trường sống, là phần sống lâu năm của cây. Vì thế việc sử dụng phần dưới đất để làm tiêu chuẩn phân chia dạng sống sẽ giúp cho ta đánh giá đúng hơn kiểu thảm, những đặc điểm đặc trưng của môi trường [16].
Patsoxki (1915) chia thảm thực vật thành 6 nhóm: thực vật thường xanh; thực vật rụng lá vào thời kỳ bất lợi trong năm; thực vật tàn lụi phần trên mặt đất trong thời kỳ bất lợi; thực vật tàn lụi vào thời kỳ bất lợi; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển ngắn; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển lâu năm. Raunkiaer (1934) [72] chọn vị trí của chồi nằm ở đâu trên mặt đất trong suốt thời gian bất lợi trong năm để phân chia dạng sống thực vật. Theo đó có 5 nhóm dạng sống cơ bản như sau: (1) Phanerophytes (Ph): nhóm cây có chồi trên mặt đất a) Cây gỗ lớn cao trên 30m (Mg) b) Cây lớn có chồi trên đất cao 8 – 30m (Me) c) Cây nhỏ có chồi trên đất 2 - 8m (Mi) d) Cây nhỏ có chồi trên đất lùn dưới 2m (Na) e) Cây có chồi trên đất leo quốn (Lp) f) Cây có chồi trên đất sống nhờ và sống bám (Ep) g) Cây có chồi trên đất thân thảo (Hp) h) Cây mọng nước (Succ) n 11 (2) Chamaetophytes (Ch): nhóm cây có chồi sát mặt đất (3) Hemicryptophytes (He): nhóm cây có chồi nửa ẩn (4) Cryptophytes (Cr): nhóm cây có chồi ẩn (5) Therophytes (Th): nhóm cây sống 1 năm Tác giả đã tính toán cho hơn 1.000 loài cây ở các vùng khác nhau trên trái đất và tìm được tỷ lệ % trung bình cho từng loài, gộp lại thành phổ dạng sống tiêu chuẩn (ký hiệu SN) Ph Ch Hm Cr Th 46 9 26 6 13 Hay SN = 46 Ph + 9 Ch + 26 Hm + 6 Cr + 13 Th Xêrêbriacốp (1964) [59] đưa ra bảng phân loại dạng sống khác có tính chất sinh thái học hơn so với bảng phân loại của Raunkiaer. Trong bảng phân loại này, ngoài những dấu hiệu hình thái sinh thái ông đã sử dụng cả những dấu hiệu về vận hậu như ra quả nhiều lần hay một lần trong cả đời của cá thể và phân chia thành các bậc: ngành, kiểu, lớp và lớp phụ; các đơn vị nhỏ hơn là nhóm, nhóm phụ, tổ và các dạng đặc thù.
Bảng phân loại này không gồm cây thuỷ sinh. Như vậy, khi nghiên cứu hệ thực vật ở một khu vực cụ thể, các tác giả đều phân chia và sắp xếp các loài thực vật thành các nhóm dạng sống tùy theo tiêu chí của từng tác giả. Trong số đó thì hệ thống phân của Raunkiaer vừa đảm bảo tính khoa học vừa dễ áp dụng vì nó dựa trên những đặc điểm cơ bản của thực vật, nghĩa là dựa trên đặc điểm cấu tạo, phương thức sống của thực vật, đó là kết quả tác động tổng hợp của các yếu tố môi trường tạo nên. Những nghiên cứu về tính đa dạng thảm thực vật Thảm thực vật là khái niệm rất quen thuộc, có nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đưa ra các định nghĩa khác nhau.
Thái Văn Trừng (1978) [57] cho rằng thảm thực vật là các quần hệ thực vật phủ trên mặt đất như một tấm thảm xanh. Trần Đình Lý (1998) [39] cho rằng thảm thực vật là toàn bộ lớp phủ thực vật ở một vùng cụ thể hay toàn bộ lớp phủ thảm thực vật trên toàn bộ bề mặt trái đất. Thảm thực vật là một khái niệm chung chưa chỉ rõ đối tượng cụ thể nào. Nó n 12 chỉ có ý nghĩa và giá trị cụ thể khi có định nghĩa kèm theo như: thảm thực vật cây bụi, thảm thực vật rừng ngập mặn… H.
Champion (1936) [67] khi nghiên cứu các kiểu rừng Ấn Độ - Miến Điện đã phân chia 4 kiểu thảm thực vật lớn theo nhiệt độ đó là: nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và núi cao. [72] nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương đã chia thảm thực vật Đông Dương thành 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và vùng trung gian. Đồng thời ông đã liệt kê 8 kiểu quần lạc trong các vùng đó. * Những nghiên cứu thảm thực vật trên núi đá vôi Để góp phần xây dựng những nguyên lý và đề cập đến nhiều biện pháp kỹ thuật về kinh doanh rừng mưa nhiệt đới đã có nhiều tác giả nước ngoài như: Richard P.
Baur (1970), Lampard (1989) chỉ ra rằng rừng nhiệt đới rất đa dạng phong phú về thành phần loài. Sự đa dạng trong thành phần loài của thảm thực vật rừng phụ thuộc vào quá trình tái sinh tự nhiên.