Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đa dạng sinh học và tài nguyên rừng giữ vai trò thiết yếu trong việc duy trì chu trình sinh thái, điều hòa khí hậu, bảo vệ đất và nguồn nước. Tuy nhiên, trước áp lực gia tăng dân số, nhu cầu sử dụng lâm sản và chuyển đổi mục đích sử dụng đất, diện tích rừng tự nhiên tại Việt Nam đã trải qua giai đoạn suy thoái đáng kể. Dẫn liệu từ Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam (2005) và Quyết định số 2159/QĐ-BNN-KL ngày 17/7/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho thấy dù diện tích rừng cả nước đạt khoảng 12,837 triệu ha (độ che phủ 38,2%), có tới hai phần ba diện tích là rừng nghèo hoặc rừng đang phục hồi, trong khi tỷ lệ rừng giàu và rừng kín chỉ chiếm khoảng 4,6%. Tại các vùng đất thấp, các dải rừng nguyên sinh bị phân mảnh và chia cắt nghiêm trọng.
Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc (huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn) được thành lập theo Quyết định số 342/QĐ-UB ngày 17/03/2004 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn với diện tích 1.788 ha, nằm trên địa bàn xã Xuân Lạc. Khu bảo tồn đóng vai trò là hành lang sinh thái kết nối Vườn quốc gia Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn) với Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hang (tỉnh Tuyên Quang). Mặc dù địa bàn này lưu giữ nhiều loài động thực vật nguy cấp như Voọc đen má trắng, Voọc mũi hếch, Vạc hoa cùng các loài thực vật quý hiếm (Trai, Nghiến, Đinh, lan hài), song hệ sinh thái rừng trên núi đất tại đây vẫn đang chịu sức ép từ hoạt động sinh kế của cộng đồng dân cư địa phương. Trước thời điểm nghiên cứu, các cuộc điều tra tại khu bảo tồn mới chỉ dừng ở mức sơ bộ, chưa có công trình nào đánh giá một cách có hệ thống về cấu trúc taxon, tổ thành loài và mức độ đa dạng của tầng cây gỗ trên núi đất.
Xuất phát từ thực tiễn trên, khóa luận tốt nghiệp ngành Quản lý tài nguyên rừng của sinh viên Trương Phúc Cường (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên) đã thực hiện đề tài: "Đánh giá đa dạng thực vật thân gỗ kiểu rừng thường xanh trên núi đất độ cao từ 600 đến 800m tại Khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn".
Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm 2 nội dung chính:
- Xác định tính đa dạng thực vật thân gỗ kiểu rừng thường xanh trên núi đất độ cao từ 600 đến 800m tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đề xuất các giải pháp bảo tồn thực vật thân gỗ, đặc biệt là các loài cây gỗ quý hiếm đang bị đe dọa tuyệt chủng cho kiểu rừng nghiên cứu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:
- Đối tượng nghiên cứu: Các loài thực vật thân gỗ ở tầng cây cao và tầng cây tái sinh thuộc kiểu rừng thường xanh trên núi đất; đề tài không nghiên cứu các nhóm thân thảo, dây leo, tre nứa và thân cau dừa.
- Phạm vi không gian: Kiểu rừng thường xanh trên núi đất ở đai độ cao từ 600m đến 800m thuộc Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc.
- Phạm vi thời gian: Quá trình điều tra thực địa và xử lý số liệu được tiến hành từ ngày 18/08/2014 đến ngày 31/05/2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận kế thừa các khái niệm nền tảng về đa dạng sinh học từ Norse và McManus (1980), định nghĩa của Công ước Đa dạng sinh học (1992), cùng hệ thống phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam của Thái Văn Trừng (1978) và Trần Ngũ Phương (1970). Nghiên cứu xem xét kiểu phụ thổ nhưỡng rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp và sự phân hóa thảm thực vật theo đai cao. Hệ thống danh pháp và phân loại taxon thực vật bậc loài được hiệu chỉnh theo Brummitt (1992) và Mã danh pháp quốc tế về thực vật (Tokyo Code, 1994).
Phương pháp nghiên cứu thực địa kết hợp điều tra theo tuyến và điều tra trên ô tiêu chuẩn (OTC) tạm thời điển hình:
- Điều tra theo tuyến: Lập các tuyến điều tra cắt ngang và song song với đường đồng mức nhằm bao quát các dạng địa hình và quần xã thực vật. Bề rộng dải quan sát dọc hai bên tuyến từ 20m đến 40m (mỗi bên 10m - 20m) để ghi nhận thành phần loài và tác động sinh cảnh.
- Điều tra tầng cây gỗ trên OTC: Thiết lập 07 OTC điển hình tạm thời, mỗi ô có diện tích 500 m² (kích thước 20m x 25m) tại các vị trí đo đạc bằng GPS ở đai cao từ 627m đến 786m. Trong OTC, tiến hành đo đếm toàn bộ cây gỗ có chiều cao trên 7m và cây bụi cao trên 1m:
- Đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$, cm) đo bằng thước kẹp kính theo hai hướng Đông - Tây và Nam - Bắc, lấy giá trị trung bình.
- Chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$, m) và chiều cao dưới cành ($H_{dc}$, m) đo bằng thước đo cao Blumeleiss.
- Đường kính tán lá ($D_t$, m) đo hình chiếu bằng thước dây theo hai hướng vuông góc.
- Điều tra tầng cây tái sinh: Trong mỗi OTC diện tích 500 m², bố trí 05 ô dạng bản (ODB) diện tích 5 m² (gồm 1 ô tại tâm và 4 ô ở 4 góc). Thống kê số lượng cây tái sinh, đo chiều cao bằng sào khắc vạch, đánh giá chất lượng (tốt, trung bình, xấu) và xác định nguồn gốc (chồi hoặc hạt).
- Điều tra cây bụi và thảm tươi: Bố trí 05 ODB diện tích 25 m² (5m x 5m) tại 4 góc và tâm OTC để xác định tên loài ưu thế, số khóm, độ che phủ và tình hình sinh trưởng.
Phương pháp xử lý số liệu định lượng:
- Tỷ lệ hỗn loài: Tính theo công thức $H_l = \frac{s}{N}$ (với $s$ là tổng số loài, $N$ là tổng số cá thể trong lâm phần).
- Chỉ số giá trị quan trọng (Độ ưu thế - IV%):
$$IV% = \frac{N_i% + G_i%}{2}$$
Trong đó: $N_i%$ là tỷ lệ phần trăm số cây của loài $i$ so với tổng số cây; $G_i%$ là tỷ lệ phần trăm tiết diện ngang của loài $i$ so với tổng tiết diện ngang ($\sum G$). Tiết diện ngang cá thể tính bằng công thức $G = \frac{\pi \cdot D_{1.3}^2}{40.000}$. Những loài có $IV% \ge 5%$ được đưa vào công thức tổ thành.
- Các chỉ số đa dạng loài:
- Chỉ số Simpson: $D_1 = 1 - \sum_{i=1}^s P_i^2$
- Chỉ số Shannon-Wiener: $H' = - \sum_{i=1}^s P_i \ln P_i$
- Chỉ số Margalef: $d_1 = \frac{S - 1}{\ln N}$
- Chỉ số Menhinick: $d_2 = \frac{S}{\sqrt{N}}$
(Với $S$ là tổng số loài, $N$ là tổng số cá thể, $P_i = \frac{n_i}{N}$ là tỷ lệ cá thể của loài $i$).
- Tổ thành cây tái sinh: Xác định hệ số tổ thành $K_i = \frac{N_i \times 10}{N}$ đối với các loài có tỷ lệ tham gia $n_i \ge 5%$.
- Dữ liệu thứ sinh về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội được thu thập từ báo cáo thống kê của Ủy ban nhân dân các xã Xuân Lạc, Đồng Lạc, Bản Thi và Ban quản lý Khu bảo tồn.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Phần này trình bày tính cấp thiết của việc bảo tồn đa dạng sinh học rừng trong bối cảnh diện tích rừng giàu tự nhiên tại Việt Nam bị suy giảm. Tác giả giới thiệu khái quát vị trí, chức năng hành lang sinh thái của Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc; nêu bật khoảng trống nghiên cứu về cấu trúc thực vật thân gỗ trên núi đất, từ đó xác định mục tiêu, nhiệm vụ, ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của khóa luận.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Tác giả hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về đa dạng sinh học và thảm thực vật rừng nhiệt đới (các nghiên cứu của Richard, Catinot, Baur, Sukopp, Alwyn Gentry; các công trình trong nước của Thái Văn Trừng, Trần Ngũ Phương, Nguyễn Nghĩa Thìn, Bùi Thế Đồi). Phần này cũng phân tích chi tiết điều kiện tự nhiên và dân sinh - kinh tế khu vực nghiên cứu:
- Điều kiện tự nhiên: Khu bảo tồn có diện tích 1.788 ha, tọa độ $22^\circ 17' - 22^\circ 19'$ vĩ độ Bắc và $105^\circ 28' - 105^\circ 33'$ kinh độ Đông; nhiệt độ trung bình năm 20–22°C (tối cao 30°C, tối thấp 4°C); lượng mưa lớn tập trung vào tháng 6 và tháng 7 (>320 mm/tháng); địa hình chia cắt mạnh với vùng núi đá dốc từ 25° đến 45° và vùng núi đất nằm ở các thung lũng giữa các dãy núi có độ cao 400–600m.
- Điều kiện kinh tế - xã hội: Vùng đệm rộng 7.508 ha thuộc 9 thôn của 3 xã (Bản Thi, Xuân Lạc, Đồng Lạc) với 1.709 nhân khẩu (410 hộ); vùng lõi có 6 hộ với 32 nhân khẩu người Dao sinh sống lâu đời. Tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 89,5% (chủ yếu là Dao, Tày, H'Mông). Đất canh tác lúa và hoa màu chỉ chiếm 7% diện tích tự nhiên, phương thức canh tác chủ yếu là nương rẫy, tình trạng thiếu đất sản xuất và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạo áp lực trực tiếp lên tài nguyên rừng.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết đối tượng là thực vật thân gỗ ở tầng tán và tầng tái sinh tại đai cao 600–800m. Mô tả quy trình lập 07 OTC (500 m²/ô) và các ODB (5 m² và 25 m²), kỹ thuật đo đếm các chỉ tiêu lâm học ($D_{1.3}$, $H_{vn}$, $H_{dc}$, $D_t$), phương pháp thu hái và phân loại mẫu tiêu bản, cùng toàn bộ hệ thống công thức toán học dùng để tính toán độ ưu thế $IV%$, hệ số tổ thành và các chỉ số đa dạng loài ($D_1$, $H'$, $d_1$, $d_2$).
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
Đây là chương nội dung trọng tâm của khóa luận, bao gồm các kết quả điều tra chi tiết:
- Mô tả cấu trúc tầng tán: Khu rừng nghiên cứu có cấu trúc 4 tầng rõ rệt (tầng vượt tán/tán chính, tầng dưới tán, tầng cây bụi, tầng thảm tươi).
- Công thức tổ thành tầng cây gỗ: Xác định công thức tổ thành riêng biệt cho 7 OTC và công thức tổ thành chung cho toàn bộ kiểu rừng; xác định nhóm loài ưu thế sinh thái gồm Cà lồ, Muồng trắng, Chân chim, Dẻ gai.
- Đánh giá các chỉ số đa dạng: Tính toán các chỉ số Simpson, Shannon-Wiener, Margalef, Menhinick cho từng ô tiêu chuẩn, phản ánh mức độ đồng đều và phong phú về loài giữa các vị trí điều tra.
- Thống kê taxon và giá trị sử dụng: Tổng hợp danh lục gồm 72 loài thực vật thân gỗ thuộc 30 họ; phân nhóm theo 4 nhóm công dụng (cho gỗ, làm thuốc, làm cảnh, lấy quả).
- Khả năng tái sinh và bảo tồn: Khái quát đặc điểm tầng cây tái sinh tự nhiên và định vị các loài cây gỗ có giá trị bảo tồn, đồng thời đề xuất giải pháp kỹ thuật và quản lý.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Khóa luận tóm tắt các phát hiện chính về cấu trúc tầng tán, thành phần loài, các chỉ số đa dạng sinh học và giá trị tài nguyên thực vật thân gỗ; đồng thời đưa ra các đề xuất cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, tuần tra rừng và nghiên cứu mở rộng trong tương lai.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã cung cấp số liệu thực nghiệm toàn diện về cấu trúc và mức độ đa dạng của kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đất ở đai cao 600–800m tại Khu bảo tồn Nam Xuân Lạc:
1. Về cấu trúc tầng tán:
Kiểu rừng có cấu trúc 4 tầng thẳng đứng:
- Tầng tán rừng (tầng cây cao): Chiều cao vút ngọn đạt 20–30m, đường kính thân trung bình $D_{1.3}$ từ 40–50cm, mật độ đạt 15–25 cây/OTC (tương đương 60–100 cây/ha), độ khép tán tương đối cao. Thành phần loài chiếm ưu thế gồm Muồng trắng (Zenia insignis), Kháo (Machilus platycarpa, Machilus thunbergii, Phoebe tavoyana), Mọ (Deutzianthus tonkinensis), Xoan nhừ (Choerospondias axillaris), Dẻ (Castanopsis spp.), Sồi (Lithocarpus spp., Quercus spp.), Xoan mộc (Dysoxylum sp.).
- Tầng dưới tán: Chiều cao từ 8–15m, gồm các loài Phân mã (Archidendron chevalieri), Nhãn rừng (Dimocarpus fumatus), Trai đỏ (Garcinia bracteata), Mạy tèo (Streblus macrophyllus).
- Tầng cây bụi: Chiều cao 3–5m, gồm Lấu núi (Psychotria montana), Cam gai (Zanthoxylum avicenniae), Găng việt nam (Rothmannia vietnamensis), Trâm (Syzygium spp.).
- Tầng thảm tươi và dây leo: Mật độ dây leo thưa (gồm các họ Fabaceae, Annonaceae, Hernandiaceae, Gnetaceae); thảm tươi gồm các loài họ Gừng (Zingiberaceae), họ Ráy (Araceae), các loài dương xỉ (Adiantaceae, Angiopteridaceae, Aspleniaceae, Dryopteridaceae). Đã ghi nhận một số loài quý hiếm gồm Lan kim tuyến đá vôi (Anoectochilus calcareus), Hoàng tinh cách (Disporopsis longifolia), Thiên tuế (Cycas balansae), Trân châu chen (Lysimachia chenii).
2. Về công thức tổ thành tầng cây gỗ:
Số loài tham gia vào công thức tổ thành tại các ô tiêu chuẩn dao động từ 5 đến 9 loài. Công thức tổ thành chung của kiểu rừng được xác định như sau:
$$16,10Cl + 15,27Mt + 8,45Chc + 6,82Dg + 53,63Lk$$
(Trong đó: Cl: Cà lồ; Mt: Muồng trắng; Chc: Chân chim; Dg: Dẻ gai; Lk: Loài khác).
Bảng tổng hợp độ cao và công thức tổ thành tại 07 ô tiêu chuẩn:
| OTC |
Độ cao (m) |
Công thức tổ thành thực vật thân gỗ |
| OTC 1 |
695 |
37,73Chc + 17,59Trk + 14,96Mt + 6,83Ngb + 22,89Lk |
| OTC 2 |
699 |
54,26Mt + 9,11Chc + 8,83Sn + 6,38Dv + 5,05Nc + 16,37Lk |
| OTC 3 |
700 |
15,9Bn + 9,49Ldđ + 9,38Ngl + 7,9Sv + 6,62Tb + 6,38Du + 5,99Cn + 5,29Dg + 33,05Lk |
| OTC 4 |
756 |
38,47Dg + 8,61Phm + 7,82Xnh + 7,54Bn + 7,00Mld + 6,53Thb + 24,03Lk |
| OTC 5 |
786 |
12,32Thb + 10,70Xn + 9,41Sog + 8,71Gt + 7,91Trat + 6,38Dh + 44,57Lk |
| OTC 6 |
627 |
41,39Cl + 14,08Sg + 13,62Mt + 6,93Dg + 6,31Trt + 17,67Lk |
| OTC 7 |
643 |
41,05Cl + 10,88Sg + 7,01Trt + 5,55Kn + 5,21Mt + 30,30Lk |
(Ký hiệu loài: Bn: Bún; Cl: Cà lồ; Chc: Chân chim; Cn: Co nọt; Dv: Da voi; Dg: Dẻ gai; Dh: Dẻ hương; Du: Dù; Gt: Giổi tượng; Kn: Kẹn; Ldđ: Lá dướng đỏ; Mld: Mò lá tròn; Mt: Muồng trắng; Ngb: Ngọc bút; Ngl: Ngõa lông; Nc: Nhọc; Phm: Phân mã; Sn: Sến nạc; Sog: Sồi gai; Sg: Sung; Sv: Sung vè; Tb: Thôi ba; Thb: Thôi ba; Trat: Trám trắng; Trt: Trâm trắng; Trk: Trường kẹn; Xnh: Xẻn hương; Xn: Xoan nhừ).
3. Về các chỉ số đa dạng loài:
Mức độ đa dạng có sự phân hóa rõ giữa các ô tiêu chuẩn:
| OTC |
Simpson ($D_1$) |
Margalef ($d_1$) |
Menhinick ($d_2$) |
Shannon-Wiener ($H'$) |
| OTC 1 |
0,74 |
7,6135 |
1,8058 |
1,93 |
| OTC 2 |
0,84 |
7,3436 |
2,2937 |
2,12 |
| OTC 3 |
0,91 |
12,8827 |
3,0729 |
2,81 |
| OTC 4 |
0,84 |
8,0443 |
2,0226 |
2,27 |
| OTC 5 |
0,94 |
11,7125 |
2,9406 |
2,98 |
| OTC 6 |
0,85 |
6,2851 |
1,7614 |
2,12 |
| OTC 7 |
0,88 |
9,1414 |
2,5725 |
2,40 |
Các chỉ số cho thấy OTC 5 (độ cao 786m) và OTC 3 (độ cao 700m) đạt mức độ đa dạng loài cao nhất, thể hiện qua chỉ số Shannon-Wiener ($H'$ lần lượt là 2,98 và 2,81) và chỉ số Margalef ($d_1$ lần lượt là 11,7125 và 12,8827). OTC 1 có mức độ đa dạng thấp nhất ($H' = 1,93$; $D_1 = 0,74$).
4. Về thống kê taxon và giá trị sử dụng:
Điều tra đã ghi nhận 72 loài thực vật thân gỗ thuộc 30 họ, toàn bộ đều thuộc lớp Hai lá mầm (Magnoliopsida) thuộc ngành Ngọc lan (Magnoliophyta). Phân loại theo mục đích sử dụng được tổng hợp trong bảng sau:
| TT |
Mục đích sử dụng |
Số loài |
Tỷ lệ (%) |
| 1 |
Cho gỗ |
61 |
85,0 |
| 2 |
Làm thuốc |
7 |
9,7 |
| 3 |
Làm cảnh |
2 |
2,7 |
| 4 |
Cho quả |
2 |
2,7 |
| Tổng |
Toàn bộ danh lục |
72 |
100,0 |
5. Giải pháp và đóng góp của nghiên cứu:
- Đề xuất tăng cường các biện pháp tuần tra bảo vệ nghiêm ngặt các dải rừng ít bị tác động tại khu vực Tam Sao và Nặm Phiêng; chú trọng xúc tiến tái sinh tự nhiên cho các loài cây gỗ bản địa có giá trị cao.
- Đề xuất phối hợp giữa Ban quản lý Khu bảo tồn với chính quyền các xã vùng đệm để giải quyết bài toán giao đất sản xuất, hạn chế tình trạng canh tác nương rẫy xâm lấn vào rừng đặc dụng.
- Đóng góp khoa học: Công trình cung cấp bộ dẫn liệu định lượng đầu tiên về cấu trúc tổ thành, các chỉ số đa dạng ($D_1$, $H'$, $d_1$, $d_2$) và danh lục thực vật thân gỗ ở đai cao 600–800m trên núi đất tại Khu bảo tồn Nam Xuân Lạc, bổ sung cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý rừng đặc dụng tại tỉnh Bắc Kạn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện:
- Giới hạn nghiên cứu chỉ tập trung vào nhóm thực vật thân gỗ ở tầng cây cao và tầng tái sinh tại đai cao từ 600m đến 800m trên núi đất; chưa bao quát các nhóm dạng sống khác như thực vật thân thảo, dây leo, tre nứa, cau dừa, cũng như chưa khảo sát thảm thực vật trên núi đá vôi (chiếm diện tích lớn của khu bảo tồn).
- Dung lượng mẫu khảo sát gồm 07 ô tiêu chuẩn tạm thời (tổng diện tích điều tra tầng cây cao là 3.500 m² = 0,35 ha), chưa phản ánh toàn diện biến thiên vi khí hậu và lập địa trên toàn bộ diện tích 1.788 ha của khu bảo tồn.
- Quá trình giám định tên loài gặp nhiều khó khăn do địa hình phức tạp, nhiều mẫu thực vật thu hái ngoài thực địa không có hoa hoặc quả tại thời điểm điều tra, phải dựa vào hỗ trợ giám định mẫu tiêu bản từ chuyên gia.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định:
- Mở rộng phạm vi điều tra ở các dải độ cao dưới 600m và trên 800m, cũng như thực hiện điều tra so sánh giữa hệ sinh thái rừng núi đất và hệ sinh thái rừng núi đá vôi.
- Thiết lập các ô tiêu chuẩn định vị lâu dài (cố định) để theo dõi động thái sinh trưởng, diễn thế tái sinh và biến động cấu trúc lâm phần qua các năm.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng sau:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành: Cung cấp tài liệu tham khảo trực tiếp cho sinh viên các ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh thái học và Quản lý môi trường trong việc tiếp cận phương pháp điều tra lâm học, kỹ thuật đo đếm tầng cây gỗ ($D_{1.3}$, $H_{vn}$, $D_t$), phương pháp lập ô tiêu chuẩn trên địa hình dốc và phương pháp tính toán các chỉ số đa dạng sinh học ($IV%$, Simpson, Shannon-Wiener, Margalef, Menhinick).
- Cán bộ quản lý bảo tồn thiên nhiên: Ban Quản lý Khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh Nam Xuân Lạc, Ban Quản lý Vườn quốc gia Ba Bể và Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hang có thể sử dụng các số liệu về tổ thành loài ưu thế (Cà lồ, Muồng trắng, Chân chim, Dẻ gai) và danh lục 72 loài cây gỗ làm cơ sở quy hoạch các phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, xây dựng chương trình giám sát đa dạng sinh học và lập phương án khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên.
Câu hỏi thường gặp
1. Những loài cây gỗ nào chiếm ưu thế sinh thái cao nhất trong công thức tổ thành chung của kiểu rừng nghiên cứu?
Trong công thức tổ thành chung ($16,10Cl + 15,27Mt + 8,45Chc + 6,82Dg + 53,63Lk$), 4 loài có tỷ lệ tổ thành ($IV%$) lớn nhất là Cà lồ (Cl - 16,10%), Muồng trắng (Mt - 15,27%), Chân chim (Chc - 8,45%) và Dẻ gai (Dg - 6,82%). Nhóm các loài khác chiếm 53,63%.
2. Ô tiêu chuẩn nào có mức độ đa dạng thực vật thân gỗ cao nhất và thấp nhất?
Ô tiêu chuẩn số 5 (độ cao 786m) có mức độ đa dạng cao nhất với chỉ số Simpson $D_1 = 0,94$ và Shannon-Wiener $H' = 2,98$. Tiếp theo là ô tiêu chuẩn số 3 (độ cao 700m) với $D_1 = 0,91$, $H' = 2,81$ và có chỉ số phong phú Margalef cao nhất ($d_1 = 12,8827$). Ngược lại, ô tiêu chuẩn số 1 (độ cao 695m) có mức độ đa dạng thấp nhất với $D_1 = 0,74$ và $H' = 1,93$.
3. Tầng tán cây cao của kiểu rừng có các đặc trưng trắc lượng lâm học và thành phần loài như thế nào?
Tầng tán cây cao đạt chiều cao vút ngọn từ 20 đến 30m, đường kính ngang ngực trung bình từ 40 đến 50cm, mật độ dao động từ 15 đến 25 cây/OTC 500 m² (tương đương 60 đến 100 cây/ha). Thành phần loài chủ yếu gồm Muồng trắng (Zenia insignis), các loài Kháo (Machilus platycarpa, Machilus thunbergii, Phoebe tavoyana), Mọ (Deutzianthus tonkinensis), Xoan nhừ (Choerospondias axillaris), Dẻ (Castanopsis spp.), Sồi (Lithocarpus spp., Quercus spp.) và Xoan mộc (Dysoxylum sp.).
4. Cơ cấu giá trị sử dụng của các loài thực vật thân gỗ được ghi nhận tại khu vực điều tra ra sao?
Trong tổng số 72 loài thực vật thân gỗ được xác định, nhóm cho gỗ chiếm ưu thế tuyệt đối với 61 loài (chiếm 85,0%). Nhóm cây làm thuốc có 7 loài (chiếm 9,7%). Nhóm cây cảnh có 2 loài (chiếm 2,7%) và nhóm cho quả có 2 loài (chiếm 2,7%).
5. Áp lực dân sinh tại khu bảo tồn xuất phát từ những yếu tố kinh tế - xã hội nào?
Khu bảo tồn chịu áp lực từ vùng đệm rộng 7.508 ha với 1.709 nhân khẩu (89,5% là đồng bào thiểu số Dao, Tày, H'Mông) và 6 hộ dân (32 nhân khẩu người Dao) sinh sống bên trong vùng lõi. Tỷ lệ đất nông nghiệp chỉ chiếm 7% diện tích tự nhiên (dưới 0,2 ha/người), canh tác nương rẫy là phương thức chủ đạo, đa số đất canh tác chưa được cấp sổ đỏ, kết hợp với hoạt động khai thác khoáng sản quặng chì kẽm tại xã Bản Thi tạo nguy cơ xâm lấn và suy thoái sinh cảnh rừng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trương Phúc Cường đã đánh giá định lượng cấu trúc và đa dạng thực vật thân gỗ kiểu rừng thường xanh trên núi đất ở đai cao 600–800m tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc qua 07 ô tiêu chuẩn thực địa. Nghiên cứu đã xác định cấu trúc lâm phần gồm 4 tầng, lập danh lục 72 loài cây gỗ thuộc 30 họ thuộc lớp Hai lá mầm, chỉ ra ưu thế của các loài Cà lồ, Muồng trắng, Chân chim, Dẻ gai và ghi nhận mức độ đa dạng cao nhất tại đai cao 700–786m. Các kết quả trắc lượng và phân tích kinh tế - xã hội cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng cho việc xây dựng kế hoạch quản lý bảo vệ rừng và phục hồi các loài cây gỗ quý hiếm tại khu bảo tồn.