Đặt vấn đề Chúng ta đang sống trong một thời đại văn minh tiên tiến,do đó vấn để tìm hiểu về thế giới xung quanh không chỉ giới hạn ở việc tìm tòi,khám phá nó mà còn nhận một nhiệm vụ hết sức quan trọng là đảm bảo sự tồn tại, phát triển văn minh của nhân loại nói riêng và trái đất xinh đẹp nói chung.trong đó vấn đề nghiên cứu thực vật mặc dù được các thế hệ đi trước thực hiện từ rất sớm, nhưng đứng trước vấn nạn ô nhiễm môi trường, suy thoái đa dạng sinh học trên toàn cầu thì đến nay công tác đó vẫn đóng một vai trò quan trọng và cần tiếp tục được nghiên cứu. Tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên rừng có vai trò hết sức quan trọng đối với đời sống con người. Rừng không những là cơ cơ sở phát triển kinh tế - xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng: rừng tham gia vào quá trình điều hòa khí hậu đảm bảo chu chuyển oxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của thiên tai bảo tồn nguồn nước mặt, nước ngầm, làm giảm đến mức tối đa ô nhiễm không khí và nước. Rừng có được những chức năng đó là nhờ có đa dạng sinh học.
Đa dạng sinh học là một trong những nguồn tài nguyên quý giá nhất, vì nó là cơ sở của sự sống còn, tiến hóa bền vững của các loài sinh vật trên hành tinh chúng ta. Nhưng hiện nay dân số thế giới tăng, nhu cầu về lâm sản tăng dẫn đến khai thác rừng qua mức làm cho diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng kéo theo suy giảm đa dang sinh học. Chính vì vậy loài người đã, đang và sẽ đứng trước một thách thức, đó là sự suy giảm về đa dạng sinh học dẫn đến làm mất trạng thái cân bằng của môi trường kéo theo là những thảm họa như lũ lụt, hạn hán, lở đất, gió bão, cháy rừng, ô nhiễm môi trường, nhiều căn e 2 bệnh.xuất hiện ngày càng nhiều. Tất cả các thảm họa đó là hậu quả của việc suy giảm đa dạng sinh học.
Việt Nam được coi là một trong những trung tâm đa dạng sinh học của vùng Đông Nam Á. Từ kết quả nghiên cứu về khoa học cơ bản trên lãnh thổ Việt Nam, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đều nhận định rằng Việt Nam là một trong 10 quốc gia ở Châu Á và một trong 16 quốc gia trên thế giới có tính đa dạng sinh học cao. Tuy nhiên, tài nguyên rừng của Việt Nam đang bị suy thoái nghiêm trọng do rất nhiều nguyên nhân như chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác rừng trái phép, chiến tranh, cháy rừng, nhu cầu sử dụng lâm sản ngày càng nhiều.việc mất rừng đồng nghĩa với độ che phủ giảm, đất bị suy thoái do xói mòn, rửa trôi, hạn hán lú lụt gia tăng, môi trường thay đổi, ảnh hưởng lớn đến mọi mặt đời sống của nhiều vùng dân cư, mất đi tính đa dạng về nguồn gen động thực vật. Theo thống kê chính thức năm 2004 diện tích rừng tăng lên 12,3 triệu ha với độ che phủ 37,3% đến tháng 12 năm 2007 diện tích rừng Việt Nam đã tăng lên 12,8% triệu ha với độ che phủ 38,2%.
Nhưng hai phần ba diện tích rừng của Việt Nam là rừng nghèo hoặc rừng đang phục hồi, trong khi đó rừng giàu và rừng kín năm 2000 chỉ chiếm 3,4% và năm 2004 chiếm 4,6% tổng diện tích rừng. Hầu như ở các vùng thấp không còn các khu rừng với tính đa dạng còn nguyên vẹn. Các cơ hội để phục hồi đang giảm đi nhanh chóng các khu rừng giàu bị chia cắt và cô lập thành những mảng nhỏ (Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam 2005 - Đa dạng sinh học,Nxb Lao Động Xã Hội). Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc (KBTL&SCNXL) huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn được thành lập theo Quyết định số 342/QĐ-UB ngày 17/03/2004 của UBND tỉnh Bắc Kạn với diện tích 1.788ha, nằm trong địa giới hành chính của xã Xuân Lạc và chủ yếu là rừng gỗ quý hiếm trên núi đất.
Mặc dù diện tích nhỏ, nhưng KBTL&SCNXL là hành lang quan trọng nối e 3 liền Vườn quốc gia Ba Bể với Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Nà Hang. Hiện trạng rừng ở Khu bảo tồn này còn nguyên khá nguyên vẹn, nhiều nơi chưa bị tác động bởi con người, còn lưu giữ nhiều loài động động vật quý hiến đang có nguy cơ bị tuyệt chủng ở Việt Nam và trên thế giới như Voọc đen má trắng, Voọc mũi hếch, Vạc Hoa và các loài thực vật quý hiếm như Trai, Nghiến, Đinh, lan hài và thông (Báo cáo đánh giá kết quả hoạt động của Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn,2015). Kiểu rừng trên núi đất là hệ sinh thái. Nằm trong hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam, KBTL&SCNXL là một đơn vị địa lý sinh vật vô cùng đa dạng đối với việc bảo vệ môi trường.
Nhưng trên thực tế nơi đây đang chịu tác động bởi sức ép về dân số. Chính vì vậy, công tác bảo tồn tính đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn gen quí cũng như các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác tại Khu bảo tồn đã được tỉnh Bắc Kạn rất quan tâm. Từ khi thành lập, KBTL&SCNXL đã có một số cuộc điều tra, đánh giá tài nguyên rừng, bước đầu cũng đã đánh giá được giá trị, tiềm năng và ý nghĩa của một khu bảo tồn. Nhưng một số nội dung quan trọng chưa được thực hiện một cách có hệ thống, đó là đánh giá đa dạng sinh học về các taxon phân loại một cách chính xác, yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật, công dụng và mức độ nguy cấp của các loài để từ đó đưa ra các biện pháp bảo tồn thích hợp.
Để góp phần đánh giá tính đa dạng thực vật trên vùng núi đất KBTL&SCNXL, làm cơ sở cho công tác bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên sinh vật trên vùng núi đất, chúng tôi chọn đề tài: “Đánh giá đa dạng thực vật thân gỗ kiểu rừng thường xanh trên núi đất độ cao từ 600 đến 800m thuộc Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn” được thực hiện nhằm tìm ra giải pháp bảo tồn và bảo vệ các loài cây gỗ quý hiếm. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Xác định được tính đa dạng thực vật thân gỗ kiểu rừng thường xanh trên núi đất độ cao từ 600-800m tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn - Đề xuất giải pháp bảo tồn thực vật thân gỗ, đặc biệt là các loại gỗ quý hiếm đang bị đe dọa tuyệt chủng cho kiểu rừng này. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong khoa học - Là tài liệu trong học tập, cho những nghiên cứu tiếp theo và là cơ sở trong những đề tài nghiên cứu trong các lĩnh vực có liên quan.
- Giúp cho sinh viên kiểm chứng lại những kiến thức lý thuyết đã học biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tế, và có thể tích lũy được những kiến thức thực tiễn quý giá phục vụ cho quá trình công tác trong tương lai. - Nắm được các phương pháp nghiên cứu, bước đầu tiếp cận và áp dụng kiến thức đã được học trong trường vào công tác nghiên cứ khoa học. Đồng thời bổ sung những thông tin về đa dạng thực vật thân gỗ để thực hiện tốt công tác bảo vệ và quản lý rừng tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc làm cơ sở cho quản lý và bảo tồn thực vật thân gỗ nói chung và bảo tồn thực vật thân gỗ ở các khu bảo tồn nói riêng. Ý nghĩa trong thực tiễn - Xác định được sự đa dạng của lớp thực vật thân gỗ tại khu bảo tồn thiên nhiên loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, Chợ Đồn, Bắc Kạn.
- Xác định được một số loài thực vật có nguy cơ bị tuyệt chủng theo sách đỏ Việt Nam (2007), danh lục đỏ IUCN (2006) và nghị định 32/2006/NĐ-CP. - Đề xuất một số biện pháp để bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thực vật tại địa phương. e 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Thuật ngữ "đa dạng sinh học" (Biodiversity hay biological diversity) lần đầu tiên được Norse and McManus (1980) [19] giới thiệu, bao gồm hai khái niệm có liên quan với nhau là đa dạng di truyền (tính đa dạng về mặt di truyền trong một loài) và đa dạng sinh thái (số lượng các loài trong một quần xã sinh vật).
Trong Công ước về đa dạng sinh học, thuật ngữ đa dạng sinh học được dùng để chỉ sự phong phú và đa dạng của giới sinh vật từ mọi nguồn trên trái đất, nó bao gồm sự đa dạng trong cùng một loài, giữa các loài và sự đa dạng hệ sinh thái [20]. Như vậy đa dạng sinh học là toàn bộ các dạng sống trên trái đất, bao gồm tất cả các nguồn tài nguyên di truyền, các loài, các hệ sinh thái và các tổ hợp sinh thái. Đa dạng sinh học thường được thể hiện ở 3 cấp độ: đa dạng trong loài (đa dạng di truyền), giữa các loài (đa dạng loài) và các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái). Vì thế giới sự sống chủ yếu được xem xét ở khía cạnh các loài, nên thuật ngữ ĐDSH thường được dùng như một từ đồng nghĩa của "đa dạng loài", hay "sự phong phú về loài", thuật ngữ dùng để chỉ số lượng loài trong một vùng hoặc một nơi cư trú.
ĐDSH nói chung thường được hiểu là số lượng các loài thuộc các nhóm phân loại khác nhau trên toàn cầu. Tính đến thời điểm năm 1982, các nhà sinh vật học đã biết được tất cả khoảng 1,4 triệu loài sinh vật, chỉ đạt 5 - 10% tổng số các loài ước tính có trên trái đất [21]. Điều này có nghĩa là đại đa số các loài sinh vật chưa được con người biết đến và đang có nguy tuyệt chủng trước khi chúng ta biết đến vai trò của chúng đối với sự sống. Vùng có ĐDSH phong phú nhất là vùng nhiệt đới, e 6 trong khi đó rừng nhiệt đới (môi trường sống chính của đại đa số sinh vật) đang bị mất đi với tốc độ 11,3 triệu ha/năm (kéo theo từ 20-50% số loài có nguy cơ biến mất).
Các rừng rậm nhiệt đới có hơn một nửa số loài của thế giới, mặc dù chỉ chiếm 7% diện tích đất liền của trái đất.