Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu ngoài nước Trên thế giới từ thời xƣa đến nay con ngƣời vẫn luôn coi trọng cây cỏ nhƣ là một nguồn thuốc chính để chữa bệnh và bảo vệ sức khoẻ. Ở Ai Cập, các văn bản về dƣợc thảo đƣợc viết bằng giấy cói vào năm 1950 TCN, tài liệu xƣa nhất còn tồn tại. Những văn bản này liệt kê hàng chục loại cây thuốc, công dụng của chúng.
S dụng cây thuốc đƣợc các quốc gia trên thế giới tiến hành ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của dân tộc đó. Trung Quốc là một trong những quốc gia có nền y học cổ truyền rất phát triển. Trong cuốn sách “Thần Nông bản thảo”, 365 vị thuốc có giá trị đã đƣợc Vua Thần Nông (3320 – 3080 trƣớc Công nguyên) thống kê lại. Trong đó, nhiều bài thuốc vẫn đƣợc s dụng cho tới ngày nay nhƣ cây Gai mèo (Cannabis sp.) để chống nôn, cây Đại phong t (Hydnocarpus kurzii) làm thuốc chữa bệnh phong.
Vào thời Tam Quốc, danh y Hoa Đà, s dụng Đàn hƣơng, T đinh hƣơng để chế hƣơng nang (túi thơm) phòng chống và chữa trị các bệnh lao phổi và lỵ. Ông còn dùng hoa Cúc, Kim ngân phơi khô cho vào chiếc gối (hƣơng chẩm) để điều trị chứng đau đầu, mất ngủ, cao huyết áp. Ở Ấn Độ, nền y học cổ truyền đƣợc hình thành cách đây hơn 3000 năm. Chủ trƣơng của ngƣời Ấn Độ ngừa bệnh là chính, nếu phải điều trị bệnh thì các liệu pháp tự nhiên chủ yếu thông qua thực phẩm và thảo mộc sẽ giúp loại bỏ gốc rễ căn bệnh.
Bộ s thi Vedas đƣợc viết vào năm 1.500 TCN và cuốn Charaka samhita đƣợc các thầy thuốc Charaka bổ sung tiếp vào bộ s thi Vedas, trình bày cụ thể 350 loài thảo dƣợc. Hiện nay, chính phủ khuyến khích s dụng công nghệ cao trong trồng cây thuốc. Hầu hết các viện nghiên cứu dƣợc của Ấn Độ đã tham gia vào nghiên cứu chuyển hóa các loại thuốc và hợp chất có hoạt tính từ thực vật. Ngày nay theo thống kê của WWF, trên thế giới có khoảng 250.000 loài thực vật bậc cao thì có đến 35.000 loài đƣợc s dụng 3 vào mục đích làm thuốc chữa bệnh.
Trong đó Trung quốc có trên 10.000 loài, Ấn độ có khoảng 7.000 loài, Indonesia có khoảng 7.500 loài, Malaysia có khoảng 2.000 loài, Nepal có hơn 700 loài, Srilanka có khoảng 550 - 700 loài và Hàn Quốc có khoảng 1.000 loài có thể s dụng đƣợc trong Y học truyền thống s dụng cây cỏ làm thuốc, đặc biệt là ở ngƣời dân bản địa. Cùng với phƣơng thức chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian, các nhà khoa học trên thế giới tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu cơ chế và các hợp chất hóa học trong cây có tác dụng chữa bệnh, đúc rút thành những cuốn sách có giá trị. Các nhà khoa học công nhận rằng hầu hết các cây cỏ đều có tính kháng sinh, đó là khả năng miễn dịch tự nhiên của thực vật. Tác dụng kháng khuẩn do các hợp chất tự nhiên có mặt phổ biến trong thực vật nhƣ phenolic, antoxy, các dẫn xuất quino, alcaloid, flavonoid, saponin, … Theo Raven (1987) và Ole Harmann (1988) cho rằng trong vòng hơn một trăm năm trở lại đây có khoảng 1.000 loài thực vật đã bị tuyệt chủng.
Nếu chiều hƣớng đe dọa này vẫn tiếp diễn sẽ có tới 60.000 loài sự tồn tại của chúng là mong manh. Trong số những loài thực vật bị mất đi hoặc bị đe dọa đƣơng nhiên có nhiều loài cây thuốc. Do vậy song song với việc nghiên cứu và s dụng cây thuốc, một vấn đề cấp bách khác đó là bảo tồn tri thức s dụng cây thuốc của dân gian. Năm 1988, hội thảo quốc tế về bảo tồn cây thuốc đã đƣợc tổ chức tại Chiang Mai (Thái Lan) với sự tham gia của nhiều chuyên gia đến từ 16 quốc gia thuộc các khu vực khác nhau trên thế giới.
Hội thảo đƣa ra văn bản kết luận: đánh giá cao tầm quan trọng của cây thuốc trong chăm sóc sức khỏe, giá trị kinh tế và tiềm năng của cây cỏ đối với việc tìm ra thuốc mới. Đồng thời báo động về mất tính đa dạng sinh vật cây cỏ và các nền văn hóa trên thế giới đã ảnh hƣởng đến việc tìm kiếm thuốc mới mang lại lợi ích toàn cầu. Tuy nhiên nguồn tài nguyên cây thuốc đang bị đe dọa nghiêm trọng do thảm thực vật bị tàn phá, bị khai thác quá mức và bị s dụng lãng phí. Tri thức s dụng cây thuốc bị mai một do không đƣợc tƣ liệu hóa, thế hệ trẻ ở nhiều cộng đồng ít quan tâm đến học tập kinh nghiệm s dụng cây cỏ làm thuốc của thế hệ trƣớc.
Đặc biệt, ở các vùng rừng nhiệt đới và á nhiệt đới là nơi có mức độ 4 đa dạng sinh học cao của thế giới nhƣng lại bị tàn phá nhiều nhất. Theo số liệu của tổ chức FAO của Liên hợp quốc, trong vòng 40 năm (1940 – 1980), diện tích của các loại rừng kể trên đã bị thu hẹp tới 44%, ƣớc tình khoảng 75.000 ha rừng bị phá hủy. Ngày nay trong xu thế phát triển toàn cầu, các ngành công nghiệp đƣợc phát triển mạnh mẽ dẫn tới môi trƣờng bị ô nhiễm nghiêm trọng. Đời sống kinh tế xã hội ngày càng cao do vậy việc s dụng cây thuốc phục vụ cho việc chăm sóc sức khỏe ngày một nhiều.
Điều đó dẫn tới việc bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc không theo kịp so với nhu cầu phát triển.Tiềm năng chữa bệnh của nhiều loài thảo dƣợc đang ngày càng đƣợc khám phá, vì thế vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và bảo tồn cây thuốc nói riêng đang là mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia nhằm phục vụ cho mục đích chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của con ngƣời. Nghiên cứu trong nước Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm tạo điều kiện cho thảm thực vật phát triển phong phú và đa dạng là một trong những thuận lợi cho sự phát triển của nền y học dân tộc. Trên 4000 năm dựng nƣớc và giữ nƣớc, nền y học nƣớc nhà đã phát triển không ngừng và ngày càng phong phú, đa dạng phục vụ chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của ngƣời dân. Ngay từ thời vua Hùng (2900 năm TCN) qua các văn tự hán nôm còn sót lại (Đại Việt s kí ngoại kí, Linh nam chính quái liệt truyện) tổ tiên ta đã biết s dụng cây cỏ để chữa bệnh.
Theo Long Úy chép lại vào đàu thế kỷ II đời nhà Trần (1225-1339) Phạm Ngũ Lão thừa lệnh Hƣng Đạo Vƣơng – Trần Quốc Tuấn xây dựng một vƣờn thuốc lớn gọi là “Sơn dƣợc” để chữa bệnh cho quân sĩ, nay còn di tích tại một quả đồi thuộc xã Hƣng Đạo – Chí Linh – Hải Hƣng. Chu Tiên lần đầu tiên biên soạn cuốn “Bản thảo cƣơng mục toàn yếu” là cuốn sách thuốc đầu tiên của nƣớc ta đƣợc xuất bản năm 1429. Từ thế kỷ XIII hai danh y nổi tiếng đƣơng thời Phạm Công Bân và Tuệ Tĩnh đã từng nêu quan điểm “Nam dƣợc trị Nam nhân” nghĩa là dùng thuốc nam chữa bệnh cho ngƣời Việt Nam. Ông để lại cho đời nhiều cuốn sách quí tập hợp những bài thuốc hay, những kinh nghiêm quí nhiều phƣơng pháp chữa bệnh cứu 5 ngƣời bằng thuốc nam.
Tuệ Tĩnh biên soạn bộ “Nam dƣợc thần hiệu” gồm 11 quyển với 496 vị thuốc nam trong đó có 241 vị thuốc có nguồn gốc thực vật và 3932 phƣơng thuốc để trị 184 chứng bệnh của 10 khoa lâm sang. Ông còn viết cuốn “Hồng nghĩa giác tự y thƣ” tóm tắt công dụng của 130 loài cây thuốc cùng 13 phƣơng gia giảm và cách chữa trị cho các chứng bệnh. Trong “Nam dƣợc thần hiệu” có mô tả và ghi tác dụng chữa bệnh của nhiều cây thuốc nhƣ: tô mộc (Caesalpinia sappan) bổ huyết; thanh hao (Artemisia apiacea) chữa sốt, lị…quân t (Quisqualis) sát khuẩn, chữa tả lị; sầu đâu (Brucea javanica) sát trùng, trị đau ruột non, cây lá móng (Lawsinia inermis) chữa viêm đƣờng hô hấp…bạc hà (Mentha arvensis) chữa sốt nhức đầu. Tuệ tĩnh đƣợc coi là một danh y kì tài trong lịch s y học nƣớc ta, là “vị thánh thuốc nam”.
Ông chủ trƣơng lấy “Nam dƣợc trị nam nhân”. Tuy nhiên bộ sách quí của ông về sau bị quân nhà Minh thu hết chỉ còn lại “Nam dƣợc thần hiệu”, “Tuệ Tĩnh y thƣ”, “Thập tam phƣơng gia giảm”, “Thƣơng hàn tam thập thất trùng pháp”. Sau Tuệ Tĩnh đến thời Lê Du Tông có Hải Thƣợng Lãn Ông – tên thật là Lê Hữu Trác ở thế kỷ XVIII – cũng là một danh y nổi tiếng. Ông đã kế thuwad, tổng kết và phát triển tƣ tƣởng của Tuệ Tĩnh trong việc dùng thuốc nam để trị bệnh.
Ông là ngƣời am hiểu y học, sinh lí học, đọc nhiều sách thuốc. Trong 10 năm khổ công tìm tòi nghiên cứu, ông viết ra cuốn “Lãn Ông tâm lĩnh” hay “Y tôn tâm lĩnh” gồm 66 quyển đề cấp đến nhiều vấn đề về y dƣợc. Nhƣ “Y huấn cách ngân”, “Y lý thân nhân”, “Lý ngôn phụ chính”, “Y nghiệp thần chƣởng” xuất bản năm 1772. Trong bộ sách này ngoài sự kế thừa “Nam dƣợc thần hiệu” ông còn bổ sung thêm 329 vị thuốc mới.
Trong quyển “Lĩnh nam bản thảo” ông đã tổng hợp đƣợc 2854 bài thuốc chữa bệnh bằng kinh nghiêm dân gian. Ông còn mở trƣờng đại học y sinh truyền bá tƣ tƣởng và hiểu biết mới về y học. Ông đƣợc xem là ông tổ của nghề thuốc Việt Nam. Cùng thời với Hải Thƣợng Lãn Ông còn có 2 trạng nguyên là Nguyễn Nho và Ngô Văn Tĩnh đã biện soạn bộ “Vạn phƣơng tập nghiêm” gồm 8 quyển xuất bản năm 1763.
Vào thời kì Tây Sơn và Nhà Nguyễn (1788 – 1833) có tập “Nam dƣợc”, “Nam dƣợc chí danh truyền”, “La kê phƣơng dƣợc”.của Nguyễn Quang Tuân ghi chép 6 500 vị thuốc nam trong dân gian dùng để chữa bệnh. Tập “Nam dƣợc tập nghiêm quốc âm” của Nguyễn Quang Lƣợng viết về các loại bài thuốc nam đơn giản thƣờng dùng. Nguyễn Đình Chiểu với cuốn “Ngƣ tiều vấn đáp y thuật” mô tả nhiều bài thuốc và thuật chữa bệnh của Nam bộ. “Nam thiên đức bảo toàn thƣ” của Lê Đức Huệ” mô tả 511 vị thuốc nam và cách chữa bệnh.
Trần Nguyên Phƣơng đã mô tả công dụng của trên 100 bài thuốc trong cuốn “Nam bang thảo mộc”. Thời kì 1884 – 1945 dƣới ách độ hộ của thực dân Pháp, việc nghiên cứu cây thuốc gặp nhiều khó khăn. Duy chỉ có một số nhà thực vật học, dƣợc học ngƣời Pháp nghiên cứu nhƣng với mục đích chính là khai thác tài nguyên.