Tổng quan nghiên cứu
Bộ Cánh cứng (Coleoptera) là nhóm sinh vật có mức độ đa dạng cao nhất trong lớp Côn trùng với hơn 450.000 loài đã được mô tả trên toàn thế giới, chiếm khoảng 40% tổng số loài côn trùng đã biết. Trong đó, nhóm Cánh cứng ở nước bao gồm khoảng 12.600 loài, giữ vai trò mắt xích thiết yếu trong chuỗi thức ăn thủy vực và là tác nhân kiểm soát sinh học hiệu quả đối với ấu trùng muỗi. Riêng tại khu vực địa lý động vật Phương Đông, các nhà khoa học đã ghi nhận 2.189 loài thuộc 22 họ khác nhau. Tuy nhiên, tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về khu hệ cánh cứng thủy sinh còn khá tản mạn, với tổng số loài được thống kê trên cả nước chỉ đạt khoảng 150 loài thuộc 7 họ quen thuộc.
Tỉnh Quảng Nam sở hữu mạng lưới sông ngòi dày đặc với lưu vực sông Thu Bồn rộng 9.000 km2, sông Tam Kỳ rộng 800 km2 cùng 72% diện tích tự nhiên là địa hình đồi núi, tạo nên hệ sinh thái thủy vực phong phú. Mặc dù tiềm năng đa dạng sinh học rất lớn, trước năm 2017 chưa có bất kỳ công trình nào khảo sát chuyên biệt và toàn diện về bộ Cánh cứng ở nước tại địa bàn này. Nhằm lấp đầy khoảng trống dữ liệu, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Động vật học của học viên Nguyễn Thị Thu Hà đã tiến hành điều tra thành phần loài Cánh cứng ở nước tại các thủy vực trọng điểm của tỉnh Quảng Nam, đồng thời đánh giá định lượng mức độ đa dạng và tương đồng sinh thái giữa 3 sinh cảnh suối chính tại Khu di tích Mỹ Sơn.
Được thực hiện trong khuôn khổ đề tài khoa học cấp quốc gia mã số ĐTĐL.CN-11/16, nghiên cứu đã khảo sát 79 lượt điểm thực địa trong giai đoạn 2015 - 2017. Kết quả cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng phục vụ công tác bảo tồn sinh học và xác lập bộ chỉ thị sinh thái cho các thủy vực miền Trung.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết sinh thái học thủy vực và phân vùng cấu trúc quần xã côn trùng nước. Trong hệ sinh thái suối nhiệt đới, sự phân bố và biến động của côn trùng chịu sự chi phối trực tiếp từ các yếu tố lý hóa môi trường, tốc độ dòng chảy, cấu trúc nền đáy và độ che phủ thực vật ven bờ (dao động từ 0% đến 100%). Luận văn vận dụng lý thuyết chỉ thị sinh học (Bioindicator Theory), khẳng định rằng mức độ hiện diện và cấu trúc ưu thế của các loài cánh cứng thủy sinh phản ánh chính xác chất lượng nguồn nước cũng như mức độ xáo trộn sinh thái do con người tạo ra.
Các khái niệm chuyên ngành then chốt được chuẩn hóa bao gồm:
- Độ phong phú loài (Species Richness): Phản ánh số lượng loài ghi nhận được trong một không gian khảo sát xác định.
- Chỉ số đa dạng loài Margalef (ký hiệu d): Đánh giá mức độ phong phú sinh học dựa trên tương quan giữa số loài và tổng số cá thể.
- Chỉ số đa dạng Shannon - Weiner (ký hiệu H'): Đo lường mức độ đồng đều và tính bất trật tự trong phân bố cá thể của quần xã.
- Hệ số tương đồng Bray - Curtis (ký hiệu Sjk): Định lượng mức độ tương đồng thành phần loài giữa 2 sinh cảnh theo thang điểm 0% - 100%.
- Kiểm định phi tham số ANOSIM và phân tích đóng góp SIMPER: Xác định mức độ sai khác có ý nghĩa thống kê giữa các sinh cảnh và định danh các loài phân biệt đặc trưng.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ 79 lượt điểm điều tra thực địa qua 3 đợt khảo sát: Đợt 1 (tháng 9/2015) khảo sát 49 điểm tại Khu bảo tồn Sông Thanh, Rừng phòng hộ Đắk Mi, Khu bảo tồn Ngọc Linh, Rừng Voi và lưu vực sông Thu Bồn; Đợt 2 (tháng 8/2016) và Đợt 3 (tháng 4/2017) khảo sát lặp lại tại 30 điểm dọc suối Khe Thẻ thuộc Khu di tích Mỹ Sơn. Trong đó, có 41 điểm ghi nhận sự hiện diện thực tế của Cánh cứng ở nước.
Phương pháp chọn mẫu tuân thủ nghiêm ngặt quy chuẩn của McCafferty (1983). Tại mỗi điểm, 3 điều tra viên cùng thu mẫu đồng thời trong 20 phút trên đoạn suối bán kính 10 mét, bao quát toàn diện các vi sinh cảnh: dòng chảy xiết, vũng nước tĩnh, bờ cỏ ngập nước, thảm lá mục và bề mặt đá ngầm. Mẫu vật sau khi vớt bằng vợt ao và vợt cầm tay chuyên dụng được cố định ngay bằng cồn 90% tại thực địa, sau đó làm sạch và bảo quản trong cồn 70% tại phòng thí nghiệm.
Quy trình định loại hình thái sử dụng kính hiển vi soi nổi để kiểm tra cấu trúc đầu, râu, đốt bàn chân và cơ quan sinh dục ngoài của con trưởng thành, dựa trên tài liệu phân loại chuẩn của Jäch & Balke (2003), Dudgeon (2000) cùng nhiều công trình chuyên ngành quốc tế. Toàn bộ số liệu sinh thái được phân tích định lượng bằng phần mềm Primer phiên bản 6.0 kết hợp Microsoft Excel. Việc lựa chọn phần mềm Primer 6 giúp xử lý ma trận đa biến một cách chuẩn xác, loại bỏ các sai số chủ quan khi so sánh cấu trúc quần thể giữa các sinh cảnh.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Khảo sát đã xác định được 48 loài Cánh cứng ở nước thuộc 32 giống, 9 họ và 2 phân bộ chính là Adephaga và Polyphaga tại tỉnh Quảng Nam. Trong đó, 21 loài đã được xác định chính xác tên khoa học đến bậc loài, 26 taxon định danh đến bậc giống và 1 taxon thuộc họ Chrysomelidae.
Nghiên cứu đã ghi nhận 6 loài lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam, bao gồm: Macronychus reticulatus Kodada, Grouvellinus nepalensis Delève, Elmomorphus brevicornis Sharp, Gyrinus distinctus Aubé, Orectochilus punctipennis Sharp và Laccobius senguptai Gentili. Phát hiện này mở rộng đáng kể ranh giới phân bố địa lý của các loài trên tại khu vực Đông Nam Á.
Cấu trúc phân loại cho thấy tính ưu thế vượt trội của 2 họ Elmidae và Hydrophilidae khi mỗi họ sở hữu 12 loài (chiếm 25,0% mỗi họ, tổng cộng 2 họ chiếm 50,0% toàn bộ khu hệ) và 9 giống (chiếm 56,2% tổng số giống). Tiếp theo là họ Dytiscidae với 8 loài (chiếm 16,6%) thuộc 4 giống (chiếm 12,6%), họ Gyrinidae với 7 loài (chiếm 14,6%) và họ Dryopidae với 5 loài (chiếm 10,4%). Bốn họ còn lại là Chrysomelidae, Heteroceridae, Hydraenidae và Staphylinidae mỗi họ chỉ ghi nhận 1 giống và 1 loài (chiếm 2,1%).
Tại Khu di tích Mỹ Sơn, mức độ phong phú loài suy giảm rõ rệt theo mức độ can thiệp của con người: Sinh cảnh 1 (rừng tự nhiên) ghi nhận 24 loài (với 13 loài xuất hiện độc bản); Sinh cảnh 2 (khu vực rừng trồng quanh đền tháp) ghi nhận 18 loài (6 loài độc bản); Sinh cảnh 3 (hạ lưu khu dịch vụ du lịch) chỉ còn 12 loài (4 loài độc bản).
Thảo luận kết quả
Sự vượt trội về thành phần loài ở Sinh cảnh 1 bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên tối ưu với độ che phủ tán rừng đạt từ 60% đến 100%, dòng chảy nhanh, giàu oxy hòa tan và nền đáy gồm nhiều tảng đá lớn xen lẫn sỏi. Đây là sinh cảnh sống lý tưởng cho các loài bám đá thuộc họ Elmidae và Dryopidae. Ngược lại, tại Sinh cảnh 3, việc khai phá bờ suối làm đường đi, độ che phủ giảm sâu xuống 0% - 50%, dòng chảy chậm và nước bị váng đục do chăn thả gia cầm đã làm suy giảm 50% số lượng loài so với khu vực rừng tự nhiên.
Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan thông qua biểu đồ cơ cấu tỷ lệ phần trăm số giống và số loài của 9 họ Cánh cứng, kết hợp sơ đồ cây phân nhánh (Dendrogram) thể hiện khoảng cách tương đồng giữa các sinh cảnh. Kết quả tính toán chỉ số Bray - Curtis chỉ ra rằng Sinh cảnh 2 và Sinh cảnh 3 có độ tương đồng cao nhất đạt 53,33%, tiếp đến là Sinh cảnh 1 và Sinh cảnh 2 đạt 52,38%. Ngược lại, mức tương đồng giữa Sinh cảnh 1 và Sinh cảnh 3 đạt thấp nhất với 33,33%, phản ánh sự chênh lệch lớn về số lượng loài chung (chỉ có 6 loài bắt gặp ở cả 2 khu vực này).
Kiểm định ANOSIM khẳng định sự sai khác về cấu trúc quần xã giữa Sinh cảnh 3 với Sinh cảnh 1 (giá trị R = 0,278; p = 0,001) và giữa Sinh cảnh 3 với Sinh cảnh 2 (giá trị R = 0,119; p = 0,035) đều có ý nghĩa thống kê cao (p < 0,05). Ngược lại, sai khác giữa Sinh cảnh 1 và Sinh cảnh 2 chưa có ý nghĩa thống kê (p = 0,165 > 0,05), đòi hỏi cần phân tích sâu hơn các chỉ số thủy lý hóa. Phân tích SIMPER chỉ ra rằng Indosolus sp. là loài thích nghi rộng nhất khi đóng góp từ 35,54% đến 100% vào tính tương đồng nội bộ ở cả 3 sinh cảnh. Đồng thời, SIMPER cũng xác lập danh sách 9 loài phân biệt có độ nhạy cảm cao (như Pelthydrus sp., Elmomorphus brevicornis), đóng vai trò là sinh vật chỉ thị chất lượng nước trong sạch.
Đề xuất và khuyến nghị
-
Thiết lập mạng lưới quan trắc sinh học định kỳ: Triển khai chương trình giám sát chất lượng nước bằng sinh vật chỉ thị tại 100% các điểm thủy vực trọng điểm của tỉnh Quảng Nam và Khu di tích Mỹ Sơn với tần suất 6 tháng/lần. Áp dụng bộ chỉ thị gồm 9 loài phân biệt thuộc họ Elmidae và Dryopidae nhằm duy trì chỉ số đa dạng Shannon - Weiner trên ngưỡng 1,50. Chủ thể thực hiện: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Nam chủ trì, phối hợp cùng Ban Quản lý Di sản Văn hóa Mỹ Sơn từ Quý 1/2027.
-
Phục hồi hành lang thực vật ven bờ suối Khe Thẻ: Tiến hành trồng bổ sung các loài cây bụi và thảm thực vật bản địa dọc hai bên bờ suối thuộc phân khu du lịch (từ điểm MS22 đến MS30), đặt mục tiêu nâng độ che phủ tán rừng từ dưới 50% lên tối thiểu 70% - 80% trong vòng 24 tháng. Biện pháp này giúp giảm xói mòn, hạ nhiệt độ nước mùa khô và tạo vi sinh cảnh trú ẩn cho côn trùng. Chủ thể thực hiện: Ban Quản lý Khu di tích Mỹ Sơn phối hợp Chi cục Kiểm lâm địa phương.
-
Kiểm soát triệt để các nguồn xả thải và hoạt động chăn thả: Quy hoạch và di dời 100% các điểm chăn thả gia cầm tự do tại khu vực hạ lưu suối Khe Thẻ (các điểm MS28, MS29, MS30) trong vòng 12 tháng. Đầu tư hệ thống thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt từ các nhà hàng, khu nghỉ dưỡng đạt chuẩn kỹ thuật môi trường trước khi thoát ra dòng tự nhiên, duy trì độ đục của nước suối dưới 15 NTU. Chủ thể thực hiện: Ủy ban Nhân dân huyện Duy Xuyên phối hợp các doanh nghiệp dịch vụ du lịch.
-
Xây dựng và tích hợp cơ sở dữ liệu số: Số hóa toàn bộ thông tin phân loại, hình ảnh hình thái và dữ liệu tọa độ của 48 loài cánh cứng đã thu thập, tích hợp vào Cổng thông tin Đa dạng sinh học tỉnh Quảng Nam và Cơ sở dữ liệu Sinh thái Quốc gia trong vòng 18 tháng. Chủ thể thực hiện: Nhóm nghiên cứu Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với Viện Sinh thái và Bảo vệ Công trình.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Các nhà nghiên cứu và học viên sau đại học chuyên ngành Động vật học, Côn trùng học và Sinh thái học thủy sinh: Tài liệu cung cấp hệ thống phân loại chi tiết, mô tả đặc điểm hình thái của 48 loài cánh cứng kèm dẫn liệu về 6 loài ghi nhận mới tại Việt Nam, phục vụ công tác tra cứu và định danh sinh học.
- Cán bộ quản lý môi trường tại các Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban quản lý Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên: Ứng dụng quy trình đánh giá chỉ số Margalef, Shannon - Weiner và phương pháp phân tích ANOSIM/SIMPER để xây dựng bộ chỉ số sinh học quan trắc chất lượng nước mặt tự nhiên.
- Ban Quản lý Di sản Văn hóa Mỹ Sơn và các nhà hoạch định chính sách du lịch bền vững: Khai thác căn cứ khoa học của luận văn để lập phương án bảo tồn cảnh quan sinh thái suối Khe Thẻ, kết hợp hài hòa giữa phát triển hạ tầng du lịch và bảo vệ hệ sinh thái bản địa.
- Giảng viên và sinh viên các trường đại học khối ngành Khoa học Tự nhiên, Môi trường và Nông lâm nghiệp: Sử dụng làm tài liệu tham khảo mẫu mực về kỹ thuật điều tra hiện trường theo chuẩn McCafferty (1983), kỹ năng xử lý dữ liệu sinh thái đa biến trên phần mềm Primer 6 và phương pháp viết báo cáo học thuật chuẩn mực.
Câu hỏi thường gặp
Luận văn này đóng góp những phát hiện mới nào cho ngành Côn trùng học Việt Nam?
Nghiên cứu đã lập danh lục 48 loài Cánh cứng ở nước thuộc 32 giống và 9 họ tại tỉnh Quảng Nam. Đặc biệt, tác giả đã phát hiện và ghi nhận bổ sung 6 loài mới cho khu hệ côn trùng Việt Nam bao gồm: Macronychus reticulatus, Grouvellinus nepalensis, Elmomorphus brevicornis, Gyrinus distinctus, Orectochilus punctipennis và Laccobius senguptai.
Tại sao bộ Cánh cứng ở nước lại được ứng dụng làm sinh vật chỉ thị môi trường?
Cánh cứng thủy sinh có vòng đời gắn liền với nước và rất mẫn cảm với sự biến động về oxy hòa tan, độ đục và chất lượng nền đáy. Chẳng hạn, các loài thuộc họ Elmidae chỉ sống nơi nước sạch chảy xiết với thảm rừng che phủ trên 60%, trong khi môi trường ô nhiễm hữu cơ khiến số lượng loài suy giảm nghiêm trọng.
Phương pháp thu mẫu và xử lý số liệu trong đề tài có ưu điểm gì?
Nghiên cứu áp dụng quy chuẩn McCafferty (1983) đồng bộ với 3 người thu mẫu trong 20 phút trên bán kính 10 mét tại 79 lượt điểm. Số liệu được phân tích đa biến trên phần mềm Primer 6 thông qua các chỉ số Margalef, Shannon - Weiner, Bray - Curtis, ANOSIM và SIMPER, đảm bảo tính khách quan và độ chính xác khoa học cao.
Mức độ tác động của con người ảnh hưởng ra sao đến cấu trúc loài tại suối Khe Thẻ?
Kiểm định ANOSIM chứng minh sự sai khác có ý nghĩa thống kê giữa sinh cảnh du lịch chịu tác động mạnh với sinh cảnh rừng tự nhiên (giá trị R = 0,278; p = 0,001). Số lượng loài giảm một nửa từ 24 loài ở thượng lưu rừng tự nhiên xuống chỉ còn 12 loài tại khu vực dịch vụ du lịch hạ lưu.
Loài nào có khả năng thích nghi cao nhất và nhóm loài nào là chỉ thị sinh học tiêu biểu?
Loài Indosolus sp. có độ thích nghi cao nhất, xuất hiện ở cả 3 sinh cảnh và đóng góp từ 35,54% đến 100% vào độ tương đồng nội bộ. Ngược lại, nhóm 9 loài phân biệt như Pelthydrus sp., Elmomorphus brevicornis và Grouvellinus nepalensis là những sinh vật chỉ thị xuất sắc cho nguồn nước tự nhiên trong sạch.
Kết luận
- Xác định toàn diện cấu trúc khu hệ Cánh cứng ở nước tại Quảng Nam gồm 48 loài thuộc 32 giống, 9 họ, trong đó họ Elmidae và Hydrophilidae chiếm ưu thế tuyệt đối với 50,0% tổng số loài.
- Bổ sung 6 loài ghi nhận mới cho khu hệ côn trùng Việt Nam, mở rộng hiểu biết về đa dạng sinh học thủy sinh khu vực miền Trung.
- Chứng minh định lượng sự suy giảm đa dạng sinh học từ 24 loài ở rừng tự nhiên xuống 12 loài tại sinh cảnh chịu tác động nhân sinh mạnh thông qua kiểm định ANOSIM với mức ý nghĩa p = 0,001.
- Định danh loài thích nghi rộng Indosolus sp. cùng bộ 9 loài phân biệt nhạy cảm, đặt nền móng cho việc ứng dụng cánh cứng làm sinh vật chỉ thị môi trường nước.
- Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ dự án sinh thái thủy lợi bảo tồn Khu di tích Mỹ Sơn gắn với phát triển du lịch bền vững.
Kế hoạch tiếp theo cần tập trung hoàn thiện định loại cho 27 taxon còn lại và mở rộng mạng lưới quan trắc sinh học định kỳ 12 tháng tại các lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn trong 2 năm tới. Hãy tham khảo và ứng dụng ngay nguồn cơ sở dữ liệu quý giá này để nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài nguyên nước và bảo tồn đa dạng sinh học!