Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hệ sinh thái rừng ngập mặn tại tỉnh Quảng Nam phân bố tập trung chủ yếu ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn (rừng dừa nước Bảy Mẫu, xã Cẩm Thanh, thành phố Hội An) và khu vực ven sông Trường Giang, đầm An Hòa (xã Tam Giang, huyện Núi Thành) với tổng diện tích ước tính khoảng 114,27 ha. Đây là sinh cảnh đặc thù có tính đa dạng sinh học cao, đóng vai trò như đai rừng phòng hộ ven biển giúp chắn sóng, giảm xói lở bờ sông bờ biển, giảm thiểu tác động tiêu cực của thiên tai và biến đổi khí hậu. Đồng thời, rừng ngập mặn cung cấp nguồn thức ăn dồi dào, bãi đẻ và nơi nuôi dưỡng ấu thể của nhiều loài thủy hải sản có giá trị kinh tế, duy trì sinh kế bền vững cho cộng đồng cư dân địa phương. Tuy nhiên, trước các áp lực kinh tế - xã hội như sự phát triển du lịch, mở rộng các khu dân cư và đặc biệt là phong trào đào đắp ao hồ nuôi tôm thẻ chân trắng tự phát, diện tích rừng ngập mặn tại địa phương đã bị thu hẹp đáng kể, kéo theo nguy cơ suy giảm chất lượng môi trường nước và mất cân bằng sinh thái.

Phân lớp Giáp xác chân chèo (Copepoda) là nhóm sinh vật phù du và sinh vật đáy cỡ nhỏ chiếm ưu thế về số lượng cá thể lẫn sinh khối trong hầu hết các thủy vực nước tự nhiên. Trong mạng lưới dinh dưỡng, Copepoda đóng vai trò là mắt xích trung gian chuyển hóa năng lượng quan trọng giữa nhóm vi sinh vật, thực vật phù du (tảo) với các bậc dinh dưỡng cao hơn như cá, tôm và động vật không xương sống. Ngoài ra, do đặc tính nhạy cảm với sự biến đổi lý hóa của môi trường nước, Copepoda thường được sử dụng làm sinh vật chỉ thị sinh học hiệu quả để đánh giá chất lượng nguồn nước và mức độ phú dưỡng. Mặc dù trên thế giới các nghiên cứu phân loại học và sinh thái học Copepoda trong rừng ngập mặn đã được tiến hành từ sớm, ở Việt Nam các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các thủy vực nước ngọt nội địa, hồ chứa (như hồ Phú Ninh) hoặc môi trường nước hang động đá vôi; mảng nghiên cứu về Copepoda trong các hệ sinh thái rừng ngập mặn nước lợ còn rất hạn chế và hầu như thiếu vắng các mô tả giải phẫu hình thái chi tiết kèm hình vẽ minh họa chuẩn mực. Khóa luận tốt nghiệp được thực hiện nhằm bổ sung nguồn dữ liệu khoa học nền tảng về thành phần loài, cấu trúc quần xã và mối tương quan môi trường của nhóm sinh vật này tại Quảng Nam.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định gồm ba nội dung:

  1. Đánh giá sự đa dạng sinh học các loài thuộc phân lớp Copepoda tại một số khu vực rừng ngập mặn thuộc tỉnh Quảng Nam.
  2. Đánh giá chất lượng môi trường nước mặt tại các khu vực nghiên cứu.
  3. Đánh giá mối tương quan giữa đa dạng, mật độ phân bố của Copepoda và các thông số chất lượng môi trường nước tại khu vực nghiên cứu.

Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Đánh giá mức độ đa dạng sinh học các bộ Harpacticoida, Cyclopoida, Calanoida thuộc phân lớp Copepoda trong hệ sinh thái rừng ngập mặn Quảng Nam.
  2. Đánh giá chất lượng môi trường nước thông qua các thông số lý hóa và dinh dưỡng: nhiệt độ, pH, DO, EC, TDS, độ mặn, NTU, $\text{NO}_3^-$, $\text{NO}_2^-$, $\text{NH}_4^+$, $\text{PO}_4^{3-}$, $\text{SO}_4^{2-}$, $\text{Fe}^{2+}$, Chlorophyll-a.
  3. Phân tích tương quan giữa mật độ và sự xuất hiện loài Copepoda với các thông số chất lượng môi trường nước mặt tại khu vực nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các loài động vật thuộc phân lớp Giáp xác chân chèo (Copepoda) và 13 chỉ tiêu chất lượng môi trường nước mặt.
  • Phạm vi không gian: 20 điểm thu mẫu đại diện tại hai khu vực rừng ngập mặn của tỉnh Quảng Nam, bao gồm 10 điểm tại rừng ngập mặn Cẩm Thanh - Hội An (Đ1 đến Đ10) và 10 điểm tại rừng ngập mặn Tam Giang - Núi Thành (NT1 đến NT10).
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát thực địa, thu thập mẫu vật và phân tích dữ liệu hoàn thành vào năm 2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên khung lý thuyết phân loại học động vật không xương sống thủy sinh, tập trung vào phân lớp Copepoda với ba bộ phụ sống tự do chính:

  • Bộ Calanoida: Râu thứ nhất ($A_1$) rất dài gồm 23–25 đốt, vươn tới hoặc vượt quá chạc đuôi; cơ thể thắt lại rõ rệt giữa đốt ngực mang chân 5 và phần sinh dục; đôi chân bơi thứ năm ($P_5$) phát triển lớn, đối xứng ở con cái và bất đối xứng biến đổi thành dạng kẹp ở con đực; xoang tim có hệ tuần hoàn chuyên biệt.
  • Bộ Cyclopoida: Râu thứ nhất ($A_1$) có chiều dài trung bình gồm 6–17 đốt, ở con đực cả hai râu đều uốn cong làm nhiệm vụ giữ con cái khi giao phối; cơ thể thắt lại giữa đốt mang chân 4 và chân 5; chân bơi thứ năm ($P_5$) tiêu giảm mạnh; chân bơi thứ sáu ($P_6$) dạng tấm nhỏ không gắn liền với $P_5$.
  • Bộ Harpacticoida: Râu thứ nhất ($A_1$) ngắn gồm 5–9 đốt; phần thân trước (metasome) và thân sau (urosome) có chiều rộng tương đương nhau, không có điểm thắt rõ rệt; cơ thể dạng hình trụ thon dài thích nghi cao với lối sống bò đáy hoặc chui rúc trong kẽ cát; chạc đuôi phân nhánh rõ mang các lông cứng đặc trưng.

Tài liệu định loại chuyên ngành được sử dụng đối chiếu gồm: An annotated checklist and keys to the species of Copepoda Harpacticoida, Keys to Nearctic Fauna - Thorp and Covich’s Freshwater Invertebrates (James H. Thorp và D. Christopher Rogers), Marine Flora and Fauna of the Northeastern United States - Copepoda: Harpacticoida (Iepure et al.), và Introduction to the Copepoda (Boxshall và Defaye).

Phương pháp lấy và bảo quản mẫu ngoài thực địa:

  • Mẫu định tính: Sử dụng lưới thu động vật phù du chuyên dụng có kích thước mắt lưới $50,\mu\text{m}$, đường kính miệng lưới $28,\text{cm}$. Lưới được kéo theo phương nằm ngang ở tầng nước mặt cách mặt nước khoảng $20,\text{cm}$ trong thời gian 3 phút, quy trình lặp đi lặp lại trong vòng 30 phút. Mẫu được thu thập ở cả hai thời điểm nhật triều: triều thấp và triều cao. Mẫu sau khi thu được cố định ngay bằng dung dịch Formaldehyde nồng độ 5%.
  • Mẫu định lượng: Thu gom chính xác 25 lít nước mặt tại điểm lấy mẫu, lọc qua lưới lọc hình nón kích thước mắt lưới $50,\mu\text{m}$, toàn bộ phần cặn động vật được cô đặc vào ống Falcon dung tích $50,\text{ml}$ gắn tại đáy lưới, sau đó cố định bằng Formaldehyde 5%.
  • Mẫu nước: Thực hiện lấy và bảo quản mẫu theo đúng quy chuẩn TCVN 6663-3:2003 (ISO 5667-3:1985) về Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu nước.

Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm:

  • Đo đạc trực tiếp và phân tích nhanh: Xác định các thông số nhiệt độ ($T^\circ$), độ pH, độ dẫn điện (EC), độ mặn (Sal), tổng chất rắn hòa tan (TDS), độ đục (NTU) và oxy hòa tan (DO) bằng máy đo đa chỉ tiêu V2 6920.
  • Phương pháp phân tích các chỉ tiêu hóa lý nước mặt:
Thông số phân tích Đơn vị Phương pháp phân tích Tiêu chuẩn áp dụng
Nitrit ($\text{NO}_2^-$) mg/L Trắc phổ hấp thụ phân tử TCVN 6178:1996 (ISO 6777:1984)
Nitrat ($\text{NO}_3^-$) mg/L Trắc phổ hấp thụ phân tử dùng axit sunfosalixylic TCVN 6180:1996 (ISO 7890-3:1988)
Amoni ($\text{NH}_4^+$) mg/L Phương pháp so màu Phenat Standard Methods (1999)
Photphat ($\text{PO}_4^{3-}$) mg/L Trắc phổ hấp thụ phân tử dùng amoni molipdat TCVN 6202:2008 (ISO 6878:2004)
Chlorophyll-a (Chl-a) mg/L Trắc phổ hấp thụ phân tử TCVN 10414:2014 (ISO 10519:1997)
Sunfat ($\text{SO}_4^{2-}$), Sắt ($\text{Fe}^{2+}$), Clorua ($\text{Cl}^-$) mg/L Phương pháp trắc quang / chuẩn độ Standard Methods (1999)

Phương pháp phân loại, định lượng và xử lý số liệu sinh học:

  • Định loại hình thái: Mẫu sinh vật được giải phẫu tách rời các phần phụ ($A_1, A_2, P_1 - P_5$, chạc đuôi) dưới kính hiển vi soi nổi và kính hiển vi quang học, chụp ảnh hiển vi kỹ thuật số ở các độ phóng đại vật kính $\times 40$ và $\times 100$. Các cấu trúc vi phẫu được vẽ lại dưới dạng đồ họa vector bằng phần mềm Inkscape phiên bản 0.92.
  • Đếm mật độ: Rửa sạch mẫu định lượng qua lưới $50,\mu\text{m}$, cô đặc lượng mẫu về thể tích chính xác $10,\text{ml}$, tiến hành đếm toàn bộ cá thể trong buồng đếm Sedgewick Rafter.
  • Chỉ số đa dạng sinh học Shannon - Wiener ($H'$): $$H' = -\sum_{i=1}^S (P_i \times \ln P_i)$$ Trong đó: $P_i$ là tỷ lệ cá thể loài thứ $i$ trên tổng số cá thể ($n_i / N$), $S$ là tổng số loài ghi nhận.
  • Chỉ số đa dạng sinh học Simpson ($D$): $$D = \sum \left(\frac{n_i}{N}\right)^2$$ Trong đó: $n_i$ là số lượng cá thể của loài $i$, $N$ là tổng số cá thể của tất cả các loài.
  • Phân tích thống kê: Sử dụng phần mềm SPSS 18.0 để tính toán thống kê mô tả và ma trận hệ số tương quan Pearson ($R$). Sử dụng phần mềm PAST 4.0 để phân tích phân cụm tương đồng (Clustering) và phân tích tương quan kinh điển trực giao (Canonical Correspondence Analysis - CCA) nhằm đánh giá ảnh hưởng của các biến môi trường lên mật độ phân bố loài. Phần mềm Google Earth được sử dụng để xây dựng bản đồ vị trí 20 trạm thu mẫu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết có hệ thống cơ sở lý thuyết về phân lớp Giáp xác chân chèo (Copepoda), đặc điểm môi trường nước mặt và điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của vùng nghiên cứu:

  • Sinh học và hình thái Copepoda: Khái quát cấu trúc giải phẫu ngoài (chia 3 phần đầu, ngực, bụng; cấu tạo các đôi râu $A_1, A_2$, chân hàm, chân bơi), cấu tạo trong (tuần hoàn, hô hấp thẩm thấu qua màng bề mặt, bài tiết, thần kinh), vòng đời biến thái qua 6 giai đoạn ấu trùng Nauplius và 5 giai đoạn Copepodid. Phân định ranh giới hình thái giữa 3 bộ phụ Calanoida, Cyclopoida và Harpacticoida.
  • Đặc trưng nước mặt và rừng ngập mặn Quảng Nam: Trình bày hiện trạng mạng lưới sông Thu Bồn, sông Trường Giang, sông Tam Kỳ, đầm An Hòa. Khái quát cấu trúc thảm thực vật rừng dừa nước Cẩm Thanh (chiếm khoảng 81,23 ha dừa nước tập trung, có hệ sinh thái thảm cỏ lươn, cỏ xoan đặc thù) và rừng ngập mặn Tam Giang (hơn 60 ha gồm các quần thể mắm, đước, bần, cốc cổ thụ). Tổng hợp các nguồn thải gây ô nhiễm hữu cơ và phú dưỡng nguồn nước từ nuôi trồng thủy sản, đô thị và nông nghiệp.
  • Tổng quan tình hình nghiên cứu: Điểm lại các công trình quốc tế tại châu Âu, châu Mỹ, Malaysia, Australia; rà soát các nghiên cứu tại Việt Nam (nghiên cứu của Anton Brancelj, Trần Đức Lương, Hồ Thanh Hải, Võ Văn Phú tại hồ Phú Ninh, Trương Sĩ Hải Trình tại Cù Lao Chàm với 92 loài Copepoda) để khẳng định khoảng trống dữ liệu phân loại học Copepoda trong rừng ngập mặn ven bờ Quảng Nam.

Chương 2: Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả chi tiết thiết kế nghiên cứu thực địa và quy trình phân tích:

  • Xác lập vị trí tọa độ 20 điểm thu mẫu: 10 trạm tại Hội An (Đ1 đến Đ10 tại khu vực Cẩm Thanh - Cửa Đại) và 10 trạm tại Núi Thành (NT1 đến NT10 tại Tam Giang - đầm An Hòa).
  • Chuẩn hóa quy trình lấy mẫu định tính (kéo lưới $50,\mu\text{m}$, 3 phút/lần ở tầng mặt $20,\text{cm}$, lặp lại trong 30 phút theo hai pha triều) và mẫu định lượng (lọc 25L nước, cô đặc $50,\text{ml}$, bảo quản Formaldehyde 5%).
  • Quy định hệ thống phương pháp phân tích phòng thí nghiệm theo các tiêu chuẩn TCVN, ISO và Standard Methods đối với 13 chỉ tiêu lý hóa và dinh dưỡng.
  • Mô tả chi tiết kỹ thuật vi phẫu, chụp ảnh hiển vi ($\times 40, \times 100$), kỹ thuật vẽ đồ họa vector Inkscape 0.92, phương pháp đếm buồng Sedgewick Rafter, công thức toán học tính chỉ số $H'$ và $D$, cùng quy trình phân tích đa biến CCA và phân cụm Clustering trên phần mềm PAST 4.0 và SPSS 18.0.

Chương 3: Kết quả và biện luận

Chương này trình bày toàn bộ số liệu thu thập và thảo luận khoa học về 5 nội dung chính:

  1. Thành phần loài và phân cụm tương đồng: Ghi nhận 12 loài (và một số phân loại bổ sung đạt 13 taxon) thuộc 9 họ của 3 bộ Copepoda. Phân tích phân cụm ghi nhận 6 nhóm sinh cảnh, trong đó trạm Đ6 (Hội An) và trạm NT6 (Núi Thành) đạt mức độ tương đồng thành phần loài tuyệt đối với sự xuất hiện đồng thời của các loài: Schizopera neglecta, Mesochra bodini, Leptocaris echinatus, Mesochra reducta, Eurytemora sp., Limnoithona sinensis, Lucicutia ovalis.
  2. Loài mới ghi nhận tại Việt Nam: Xác định 9 loài ghi nhận mới cho khu hệ sinh vật rừng ngập mặn Việt Nam, gồm: Onychocamptus talipes, Schizopera neglecta, Mesochra bodini, Leptocaris echinatus, Leptocaris sibilicus, Mesochra inconspicua, Mesochra reducta, Limnoithona sinensis, Lucicutia ovalis.
  3. Mô tả hình thái giải phẫu loài mới:
    • Leptocaris sibilicus: Bụng gồm 5 đốt (1 đốt mang $P_5$, 1 đốt sinh dục, 3 đốt bụng dưới); chạc đuôi hình trụ với 6 lông cứng trần và 1 lông cứng dày dài; $A_1$ gồm 7 đốt (đốt 1 dài nhất có 3 hàng gai ngoài, đốt 5 ngắn nhất); $A_2$ nhánh ngoài mang 3 lông cứng trần, nhánh trong mập có 2 hàng gai; chân $P_1$ nhánh ngoài 3 đốt, nhánh trong 2 đốt với đốt 1 mang ngạnh đặc biệt bên trong.
    • Onychocamptus talipes: Con cái dài 2,5 mm từ đỉnh đầu đến chạc đuôi, thân hình trụ bao phủ nốt sần; $A_1$ ngắn gồm 5 đốt; râu $A_2$ nhánh trong 1 đốt mang hàng gai lề trong; chân $P_1$ có đốt 2 nhánh ngoài mang một gai giữa cong mạnh ra ngoài dạng móng vuốt.
    • Mesochra bodini: Con cái dài 2,5 mm, thân hình trụ thon dần; chạc đuôi hình trụ mang hàng ngang 4–5 gai mặt bụng; $A_1$ ngắn 5 đốt; chân $P_1$ nhánh trong dài bằng nhánh ngoài, đốt 3 nhánh trong mang 1 gai và 2 lông cứng đỉnh.
  4. Chỉ số đa dạng sinh học: Chỉ số Simpson tại Hội An và Núi Thành có sự khác biệt nhẹ nhưng không có ý nghĩa thống kê ($p = 0,108 > 0,05$). Chỉ số Shannon ($H'$) tại Hội An phản ánh độ đa dạng nhỉnh hơn Núi Thành nhưng cũng không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê.
  5. Chất lượng nước và phân tích tương quan đa biến CCA:
    • Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa Hội An và Núi Thành ($p < 0,05$ hoặc $p < 0,01$) đối với các chỉ tiêu: nhiệt độ, EC, TDS, pH, $\text{Cl}^-$, DO, $\text{NO}_3^-$, $\text{NO}_2^-$, $\text{NH}_4^+$. Không có sự khác biệt có ý nghĩa đối với NTU, $\text{PO}_4^{3-}$, $\text{SO}_4^{2-}$, $\text{Fe}^{2+}$, Chl-a.
    • Trục CCA1 giải thích 39,09% phương sai (Eigenvalue 0,24), trục CCA2 giải thích 22,69% phương sai. Mô hình xác lập: Onychocamptus talipes tương quan nghịch với nhiệt độ ($r = -0,95$); Mesochra inconspicua tương quan nghịch với pH và $\text{SO}_4^{2-}$ ($r = -1,0$); Leptocaris echinatus tương quan thuận với Chl-a và $\text{Cl}^-$; Schizopera neglecta và Nitocra sp. tương quan nghịch với $\text{Fe}^{2+}$ ($r = -1,0$); Limnoithona sinensis tương quan thuận với độ mặn, EC và TDS.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp danh mục thành phần loài và xác định mật độ phân bố của Copepoda tại 20 trạm khảo sát thuộc hai hệ sinh thái rừng ngập mặn Hội An và Núi Thành:

STT Tên khoa học Bộ Tình trạng ghi nhận tại Việt Nam Phân bố tại khu vực khảo sát
1 Onychocamptus talipes Harpacticoida Loài ghi nhận mới Đ2, Đ3, Đ10 (Hội An); NT3, NT4 (Núi Thành)
2 Schizopera neglecta Harpacticoida Loài ghi nhận mới Đ4, Đ5, Đ6, Đ7, Đ8 (Hội An); NT3, NT4, NT5, NT6, NT7, NT8, NT9 (Núi Thành)
3 Mesochra bodini Harpacticoida Loài ghi nhận mới Đ3, Đ4, Đ5, Đ6, Đ7, Đ8, Đ9 (Hội An); NT1 đến NT10 (Núi Thành)
4 Leptocaris echinatus Harpacticoida Loài ghi nhận mới Đ3, Đ5, Đ6, Đ7, Đ8, Đ9 (Hội An); NT1, NT2, NT3, NT5, NT6, NT8, NT9 (Núi Thành)
5 Leptocaris sibilicus Harpacticoida Loài ghi nhận mới Đ1, Đ4, Đ7, Đ8, Đ9, Đ10 (Hội An); NT2, NT3, NT7 (Núi Thành)
6 Mesochra inconspicua Harpacticoida Loài ghi nhận mới Đ4, Đ9, Đ10 (Hội An); NT4, NT6, NT8 (Núi Thành)
7 Mesochra reducta Harpacticoida Loài ghi nhận mới Đ3, Đ6, Đ8, Đ10 (Hội An); NT3, NT6 (Núi Thành)
8 Oithona nana Cyclopoida Đã ghi nhận Đ3, Đ6, Đ7, Đ8 (Hội An); NT2, NT4, NT7, NT9 (Núi Thành)
9 Nitocra sp. Harpacticoida Đã ghi nhận Đ2, Đ5, Đ7, Đ8 (Hội An); NT3, NT5, NT7, NT8 (Núi Thành)
10 Eurytemora sp. Calanoida Đã ghi nhận Ghi nhận ở mật độ cao tại một số trạm (lên tới 1600 cá thể/mẫu)
11 Limnoithona sinensis Cyclopoida Loài ghi nhận mới Đ1, Đ2, Đ3, Đ4, Đ6, Đ7, Đ8, Đ10 (Hội An); NT2, NT6, NT7 (Núi Thành)
12 Lucicutia ovalis Calanoida Loài ghi nhận mới Phân bố rộng khắp tại tất cả 10 trạm Hội An và hầu hết trạm Núi Thành

Đóng góp khoa học và thực tiễn của công trình:

  • Bổ sung 9 loài mới cho danh lục khu hệ Giáp xác chân chèo (Copepoda) sống trong hệ sinh thái rừng ngập mặn Việt Nam, cung cấp bản mô tả hình thái và bản vẽ giải phẫu vector chi tiết phục vụ công tác giám định loài.
  • Cung cấp bộ số liệu thực nghiệm đầy đủ về 13 chỉ tiêu chất lượng nước mặt tại hai hệ sinh thái rừng ngập mặn tiêu biểu của tỉnh Quảng Nam.
  • Ứng dụng thành công mô hình phân tích tương quan kinh điển trực giao (CCA), làm sáng tỏ các nhân tố môi trường chính (nhiệt độ, pH, độ mặn, EC, $\text{Fe}^{2+}$, Chlorophyll-a) định hình sự phân bố và mật độ của từng loài Copepoda, tạo cơ sở cho việc sử dụng nhóm sinh vật này làm chỉ thị sinh học môi trường nước lợ.

Các giải pháp và kiến nghị được tác giả đề xuất:

  • Tăng cường kiểm soát và xử lý các nguồn nước thải từ các đầm nuôi tôm và khu dân cư trước khi xả ra lưu vực sông Thu Bồn và sông Trường Giang.
  • Bảo vệ nghiêm ngặt diện tích rừng dừa nước Cẩm Thanh và các quần thể mắm, đước cổ thụ tại Tam Giang; ngăn chặn hành vi chặt phá rừng ngập mặn phục vụ mở rộng đìa tôm và xây dựng hạ tầng.
  • Tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng địa phương về việc bảo vệ thảm thực vật rừng ngập mặn, hạn chế sử dụng hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật tại các vùng nông nghiệp lân cận.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số hạn chế do điều kiện thực hiện đề tài tốt nghiệp:

  • Không gian nghiên cứu mới giới hạn trong phạm vi 20 điểm thu mẫu tại hai khu vực Hội An và Núi Thành, chưa bao quát toàn bộ các vùng đất ngập nước ven biển khác thuộc tỉnh Quảng Nam.
  • Dữ liệu thu thập phản ánh đặc trưng tại thời điểm khảo sát năm 2021 theo các pha nhật triều, chưa theo dõi biến động quần xã liên tục qua các mùa trong năm (mùa mưa và mùa khô).
  • Việc định loại sinh vật hoàn toàn dựa trên phương pháp giải phẫu so sánh hình thái học truyền thống, chưa có điều kiện kết hợp kỹ thuật sinh học phân tử (DNA barcoding) để kiểm chứng di truyền cho 9 loài mới ghi nhận.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng mạng lưới quan trắc ra toàn bộ hệ thống cửa sông ven biển miền Trung và vùng lõi Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm.
  • Triển khai nghiên cứu quan trắc định kỳ nhiều năm nhằm đánh giá tác động dài hạn của biến đổi khí hậu, hiện tượng xâm nhập mặn và xói lở bờ biển lên cấu trúc quần xã Copepoda.
  • Kết hợp kỹ thuật giải mã trình tự gen để hoàn thiện khóa phân loại học phân tử cho nhóm giáp xác chân chèo tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Tài liệu có giá trị tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý Tài nguyên Môi trường, Sinh thái học, Thủy sinh học, Hải dương học và Khoa học Môi trường.
  • Các nhà nghiên cứu phân loại học động vật không xương sống thủy sinh và sinh thái học đất ngập nước.
  • Cán bộ kỹ thuật tại các Chi cục Bảo vệ Môi trường, Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên và các cơ quan quản lý tài nguyên thủy sản ven biển.

Các phần nội dung có giá trị tham khảo trực tiếp:

  • Quy trình chuẩn về thu mẫu động vật phù du và sinh vật đáy cỡ nhỏ vùng ngập triều bằng lưới lọc $50,\mu\text{m}$ (phương pháp kéo định tính và lọc 25L định lượng).
  • Kỹ thuật giải phẫu vi phẫu các phần phụ giáp xác chân chèo ($A_1, A_2, P_1 - P_5$) và kỹ thuật vẽ hình minh họa khoa học vector bằng phần mềm Inkscape.
  • Phương pháp luận kết hợp thống kê sinh thái học (chỉ số Shannon, Simpson, phân tích phân cụm Clustering) và phân tích đa biến trực giao CCA trên phần mềm PAST 4.0 và SPSS 18.0.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận được bao nhiêu loài Copepoda và có bao nhiêu loài mới được bổ sung cho khu hệ sinh vật rừng ngập mặn Việt Nam? Khóa luận đã ghi nhận được 12 đến 13 taxon thuộc 9 họ của 3 bộ phân lớp Giáp xác chân chèo (Copepoda). Trong đó, có 9 loài lần đầu tiên được ghi nhận mới cho hệ sinh thái rừng ngập mặn tại Việt Nam gồm: Onychocamptus talipes, Schizopera neglecta, Mesochra bodini, Leptocaris echinatus, Leptocaris sibilicus, Mesochra inconspicua, Mesochra reducta, Limnoithona sinensis và Lucicutia ovalis.

2. Quy trình thu mẫu Copepoda ngoài thực địa được tác giả thực hiện như thế nào? Mẫu định tính được thu bằng lưới có kích thước mắt lưới $50,\mu\text{m}$, đường kính miệng lưới $28,\text{cm}$, kéo ngang ở độ sâu $20,\text{cm}$ cách mặt nước trong 3 phút, lặp lại trong 30 phút ở cả hai pha triều thấp và triều cao. Mẫu định lượng được thực hiện bằng cách lọc chính xác 25 lít nước qua lưới $50,\mu\text{m}$, cô đặc cặn vào ống Falcon $50,\text{ml}$. Cả hai loại mẫu đều được cố định bảo quản bằng dung dịch Formaldehyde 5%.

3. Phân tích tương quan kinh điển trực giao (CCA) cho thấy các yếu tố môi trường nào ảnh hưởng rõ nhất đến mật độ loài Copepoda? Trục CCA1 giải thích 39,09% phương sai (Eigenvalue 0,24) và trục CCA2 giải thích 22,69% phương sai. Kết quả cho thấy: loài Onychocamptus talipes tương quan nghịch với nhiệt độ ($r = -0,95$); loài Mesochra inconspicua tương quan nghịch với pH và $\text{SO}_4^{2-}$ ($r = -1,0$); loài Leptocaris echinatus tương quan thuận với Chlorophyll-a và $\text{Cl}^-$; loài Schizopera neglecta và Nitocra sp. tương quan nghịch với $\text{Fe}^{2+}$ ($r = -1,0$); loài Limnoithona sinensis tương quan thuận với độ mặn, EC và TDS.

4. Sự khác biệt về chất lượng môi trường nước giữa khu vực Hội An và Núi Thành được thể hiện qua các chỉ tiêu nào? Qua phân tích thống kê, có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$ hoặc $p < 0,01$) giữa Hội An và Núi Thành đối với các chỉ tiêu: nhiệt độ ($T^\circ$), EC, TDS, pH, độ mặn, $\text{Cl}^-$, DO, $\text{NO}_3^-$, $\text{NO}_2^-$ và $\text{NH}_4^+$. Ngược lại, các chỉ tiêu độ đục (NTU), $\text{PO}_4^{3-}$, $\text{SO}_4^{2-}$, $\text{Fe}^{2+}$ và Chlorophyll-a không ghi nhận sự sai khác mang ý nghĩa thống kê giữa hai khu vực nghiên cứu.

5. Mức độ đa dạng sinh học thể hiện qua chỉ số Shannon và Simpson giữa hai khu vực có sự sai khác có ý nghĩa thống kê không? Chỉ số đa dạng loài Shannon ($H'$) tại Hội An phản ánh mức độ đa dạng cao hơn so với Núi Thành, tuy nhiên kết quả kiểm định thống kê cho thấy chỉ số Simpson giữa hai khu vực có giá trị $p = 0,108 > 0,05$. Điều này chứng minh sự khác biệt về mức độ đa dạng sinh học quần xã Copepoda giữa rừng ngập mặn Hội An và Núi Thành chưa đạt mức sai khác có ý nghĩa thống kê.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Ánh Hồng đã xây dựng được cơ sở dữ liệu sinh học có hệ thống về cấu trúc thành phần loài và mật độ phân bố của phân lớp Giáp xác chân chèo (Copepoda) tại hệ sinh thái rừng ngập mặn Hội An và Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Điểm nhấn khoa học nổi bật của công trình là việc phát hiện, định loại và cung cấp bản vẽ giải phẫu hiển vi chi tiết cho 9 loài Copepoda lần đầu tiên được ghi nhận tại Việt Nam. Đồng thời, mô hình phân tích đa biến CCA và các chỉ số sinh thái học trong khóa luận đã làm rõ mối quan hệ tương tác giữa quần xã sinh vật với các yếu tố lý hóa môi trường nước mặt, đóng góp tài liệu tham khảo có giá trị cao cho công tác quan trắc và bảo tồn đa dạng sinh học các vùng đất ngập nước ven biển.