Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiến cứu về quản lý bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học 1.Trên thế giới Tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học đóng vai trò quan trọng trong sự tiến hóa, duy trì hệ thống tự nhiên và phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, rừng nhiệt đới hiện là môi trường sống của hơn một nửa các loài động vật và thực vật trên trái đất; tuy nhiên, các nhà khoa học dự đoán, tác động kết hợp của biến đổi khí hậu và phá rừng có thể buộc chúng phải thích ứng, di chuyển đến nơi khác hoặc chết. Trong những năm tới, biến đổi khí hậu và hoạt động phá rừng có thể thay đổi 1/3 số rừng nhiệt đới tại khu vực Trung Mỹ và Nam Mỹ, 30% rừng nhiệt đới tại châu Phi.
Trước tình hình đó, Liên hợp quốc tuyên bố năm 2011 là năm quốc tế về rừng nhằm nâng cao nhận thức về nhu cầu quản lý, bảo tồn và phát triển rừng bền vững, cũng như về giá trị vô giá của rừng đối với cuộc sống con người và khí hậu để các nước và cộng đồng dân cư dành thêm các nguồn lực bảo vệ và khôi phục nguồn tài sản thiên nhiên quý này. Liên minh quốc tế bảo vệ thiên nhiên (IUCN) nhấn mạnh rừng góp phần ổn định khí hậu toàn cầu, vì vậy rừng cần phải ở vị trí trung tâm của mọi nỗ lực chống biến đổi khí hậu và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Liên minh quốc tế các tổ chức nghiên cứu rừng (IUFRO) khuyến nghị các nỗ lực của Liên hợp quốc để bảo vệ rừng cần tập trung vào sử dụng bền vững tài nguyên rừng và tăng cường các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học. m 8 Tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học đóng vai trò quan trọng trong sự tiến hóa, duy trì hệ thống tự nhiên và phát triển kinh tế xã hội.
ĐDSH ở nhiều quốc gia trên thế giới đang bị suy giảm nghiêm trọng bởi các hoạt động của con người. ĐDSH chịu sự tác động của nhiều yếu tố tự nhiên cũng như xã hội, trong đó quan trọng nhất là hoạt động của con người. Những hoạt động như khai thác gỗ, săn bắn, phá rừng làm rẫy,. là những nguyên nhân tác động trực tiếp lên nguồn tài nguyên thiên nhiên và làm thất thoát ĐDSH.
Những hoạt động này có những nguyên nhân do kinh tế, xã hội và chính sách từ cấp địa phương, tới cấp quốc gia và quốc tế. Rừng nhiệt đới hiện là môi trường sống của hơn một nửa các loài động vật và thực vật trên trái đất. Tuy nhiên, các nhà khoa học dự đoán rằng, tác động kết hợp của biến đổi khí hậu và phá rừng có thể buộc chúng phải thích ứng, di chuyển đến nơi khác hoặc chết. Trong những năm tới, biến đổi khí hậu và hoạt động phá rừng có thể thay đổi 1/3 số rừng nhiệt đới tại Khu vực Trung Mỹ và Nam Mỹ, 30% rừng nhiệt đới tại châu Phi.
Riêng tại vùng châu thổ sông Amazon mức độ thay đổi của hệ sinh thái sẽ lên tới 35%. Giá trị khai thác từ rừng trên toàn cầu ước tính hơn 130 tỷ USD với hơn 60 triệu người lao động trong các ngành công nghiệp liên quan đến rừng. Nghiên cứu của Liên minh quốc tế các tổ chức nghiên cứu rừng (IUFRO) lưu ý các nỗ lực hiện nay của Liên hợp quốc để bảo vệ rừng cần được mở rộng. Tại Việt Nam Nằm ở vùng Đông Nam Á với diện tích khoảng 330.541 km2, Việt Nam là một trong 16 nước có tính ĐDSH cao trên thế giới (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2002: Chiến lược quốc gia quản lý hệ thống Khu bảo tồn của Việt Nam 2002 - 2010).
Đặc điểm về vị trí địa lý, khí hậu. của Việt Nam đã góp phần tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái và các loài sinh vật. Về m 9 mặt địa sinh học, Việt Nam là giao điểm của các hệ động, thực vật thuộc vùng Ấn Độ - Miến Điện, Nam Trung Quốc và Inđo - Malaysia. Các đặc điểm trên đã tạo cho Việt Nam trở thành một trong những khu vực có tính ĐDSH cao của thế giới, với khoảng 10% số loài sinh vật, trong khi chỉ chiếm 1% diện tích đất liền của thế giới (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2002: Báo cáo quốc gia về các Khu bảo tồn và Phát triển kinh tế).
Việt Nam cũng trong tình trạng chung của toàn cầu là ĐDSH đã và đang bị đe dọa và có chiều hướng suy giảm mạnh. Nguyên nhân của sự mất mát ĐDSH được xác định bao gồm hai yếu tố chính là do thiên tai và do tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của con người. Nguồn tài nguyên ĐDSH trong các ngành Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản hàng năm cung cấp cho đất nước khoảng trên 2 tỷ đô la (Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam, 1995). Theo đánh giá của Trung tâm giám sát bảo tồn thế giới (WCMC) (1992, 2003), Việt Nam được xếp thứ 16 trong số các nước có ĐDSH cao nhất thế giới.
Theo báo cáo quốc gia về ĐDSH Việt Nam năm 2011 thì hệ thực vật Việt Nam đã ghi nhận 13.766 loài thực vật, trong đó có 11.373 loài thực vật bậc cao có mạch, có 2.256 chi, 305 họ, chiếm 4% tổng số loài, 15% tổng số chi và 5% tổng số họ thực vật trên thế giới, 2.393 loài thực vật bậc thấp và các nhóm vi tảo ở nước. Về hệ động vật, ngoài các loài đặc hữu Việt Nam còn có nhưng loài động vật mang tính chất hỗn hợp của hai Khu hệ động vật Nam Trung Hoa và Ấn Độ, Mã Lai. Nhiều loài không những có giá trị cao về kinh tế, mà còn có giá trị bảo tồn ở Việt Nam và thế giới, nhiều loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục đỏ IUCN (2012). Sự phong phú về thực vật và các hệ sinh thái là nơi trú ngụ của nhiều loài động vật.
Việt Nam có đến 312 loài Thú, 840 loài Chim, 317 loài Bò sát, 167 loài Lưỡng cư, 7.700 loài Côn trùng, m 10 547 loài Cá nước ngọt, 2.038 loài Cá biển và 9.300 loài Động vật không xương sống làm sạch không khí và dòng nước, giữ cho môi trường thiên nhiên trong lành. Từ năm 1990 đến nay, đã có nhiều nhà khoa học, các chuyên gia về động vật thuộc các tổ chức WWF, FFI,. cùng hợp tác với các nhà khoa học Việt Nam, thông qua các cơ quan chức năng tham gia nhiều chương trình, dự án nhằm nghiên cứu, bảo tồn động vật hoang dã (John B.Berkmuller, John Mackhinnou, Roger Cox,. Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho nguồn tài nguyên ĐDSH của Việt Nam đã và đang bị suy giảm.
Nhiều hệ sinh thái và môi trường sống bị thu hẹp diện tích và nhiều loài và dưới loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng trong một tương lai gần. Tài nguyên rừng Việt Nam đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân khác nhau như: Nhu cầu lâm sản ngày càng tăng, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác quá mức, không đúng kế hoạch,. Theo số liệu mà Maurand công bố trong công trình “Lâm nghiệp Đông Dương” năm 1943, Việt Nam có 14,3 triệu ha rừng tự nhiên với độ che phủ là 43,7% diện tích lãnh thổ. Quá trình mất rừng xảy ra liên tục từ năm 1943 đến những năm 1990, đặc biệt từ năm 1976 - 1990 diện tích rừng giảm đi mạnh, chỉ trong 14 năm diện tích rừng giảm đi 2,7 triệu ha, bình quân mỗi năm mất đi gần 190.
Việc mất rừng, độ che phủ giảm, đất đai suy thoái do xói mòn, rửa trôi, sông, hồ bị bồi lấp, môi trường bị thay đổi, hạn hán, lũ lụt gia tăng, làm ảnh hưởng lớn đến mọi mặt đời sống của nhiều vùng dân cư. Mất rừng còn đồng nghĩa với mất đi tính đa dạng về nguồn gen động, thực vật. Diện tích rừng của Việt Nam phần lớn là rừng nghèo hoặc rừng đang phục hồi, trong khi đó diện tích rừng và rừng kín năm 2000 chỉ chiếm 3,4% m 11 và năm 2004 chiếm 4,6% tổng diện tích rừng. Hầu như ở các vùng thấp không còn rừng với tính đa dạng còn nguyên vẹn.
Các cơ hội để phục hồi rừng đang giảm đi nhanh chóng vì các khu rừng giàu đã bị chia cắt và cô lập thành những mảnh nhỏ (Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam 2005: Đa dạng sinh học. Nxb Lao động xã hội). Song điều khả quan hiện nay đất nước ta đang có nhiều biện pháp để bảo vệ và phục hồi. Trong nhiều năm qua, đã có rất nhiều nhà khoa học quan tâm tới việc nâng cao hiệu quả của các KBTTN và VQG theo quan điểm bảo tồn - phát triển.
Đó là việc dung hoà mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế- xã hội của người dân địa phương. Đánh giá hiệu quả của công tác bảo vệ các KBT ở Việt Nam, Nguyễn Bá Thụ (1997) đã nhận định: Công tác này phụ thuộc rất nhiều vào việc giải quyết những vấn đề tồn tại trên vùng đệm gồm nâng cao đời sống của nhân dân vùng đệm, chuyển đổi hoặc thay thế tập quán dùng củi, gỗ bừa bãi lãng phí của người dân sống trên vùng đệm; nâng cao trình độ kỹ thuật canh tác nông lâm nghiệp, đẩy mạnh thâm canh, nâng cao năng suất cây trồng, nhanh chóng từ bỏ lối canh tác du canh, quảng canh, nâng cao trình độ hiểu biết về bảo tồn, sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên cho người dân địa phương. Lê Quý An (2001khẳng định quản lý và phát triển vùng đệm trên cơ sở cộng đồng là phát huy lợi thế của cộng đồng, hạn chế tác động tiêu cực trong các hoạt động bảo tồn. Cộng đồng còn có thể phát huy những mặt hay của phong tục, tập quán trong mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng, trong mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên để xây dựng nề nếp của cuộc sống lành mạnh về mặt môi trường, góp sức cho việc bảo tồn.
Ngô Ngọc Tuyên (2007) đã lượng hoá và thể hiện sinh động ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất đến tổng thu nhập của hộ gia đình cũng như mối quan m 12 hệ giữa tổng thu nhập với các nhân tố trong khai thác TNR thông qua việc thực hiện nghiên cứu tác động của người dân địa phương đến TNR tại KBTTN Na Hang, Tuyên Quang. Tác giả đã lựa chọn 4 dân tộc chính trong khu vực, mỗi dân tộc 30 HGĐ để phỏng vấn.