Nghiên Cứu Thành Phần Loài Họ Tò Vò Sphecidae (Hymenoptera: Apoidea) Tại Vùng Tây Bắc Việt Nam

Nghiên cứu thành phần loài họ tò vò Sphecidae ở Tây Bắc Việt Nam, đặc điểm sinh học, sinh thái và tập tính của Sceliphron madraspatanum.

Chuyên ngành

Côn trùng học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

155
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Họ Tò Vò Sphecidae Giới Thiệu Chung

Họ Tò Vò Sphecidae thu hút sự chú ý của các nhà côn trùng học nhờ kích thước lớn, tập tính làm tổ dễ quan sát. Chúng đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái như loài bắt mồi, thụ phấn và chỉ thị sinh học. Nghiên cứu về thành phần loài, sinh học, sinh thái học và tập tính của chúng rất cần thiết để làm nổi bật giá trị của họ Tò Vò. Các loài ong thuộc họ tò vò Sphecidae chiếm giữ một mắt xích trong mạng lưới thức ăn của nhiều hệ sinh thái và là một trong những nhóm ong có ích. Chúng được biết đến với vai trò là những loài côn trùng bắt mồi, thụ phấn cho cây trồngchỉ thị sinh học trong một số hệ sinh thái [1, 2].

1.1. Phân Loại và Phân Bố Họ Tò Vò Sphecidae Toàn Cầu

Trên toàn thế giới, có hàng nghìn công trình nghiên cứu về Sphecidae. Pulawski (2019) [28] đã thống kê tất cả, cho thấy họ này có 789 loài, chia thành 5 phân họ và 19 giống. Sự phân bố của các giống khác nhau, với một số giới hạn ở Bra-xin, Nam Mỹ hoặc Bắc Mỹ. Ví dụ, giống Stangeela chỉ có ở Bra-xin, trong khi Penepodium phân bố ở vùng Nam Mỹ. Điều này cho thấy sự đa dạng sinh học đáng kể của Sphecidae trên toàn cầu.

1.2. Thành Phần Loài Tò Vò Sphecidae ở Khu Vực Đông Nam Á

Thành phần loài tò vò Sphecidae ở Đông Nam Á vẫn còn ít được biết đến. Các ghi nhận và mô tả mới thường nằm rải rác trong các ấn phẩm của các tác giả khác nhau. Tsuneki (1963) [45] đã công bố danh sách các loài tò vò ở Thái Lan, trong đó có Sphex sericeus và Sphex haemorrhoidalis, nhưng cần có nhiều nghiên cứu hơn để hiểu rõ hơn về sự đa dạng của Sphecidae trong khu vực.

II. Thách Thức Nghiên Cứu Họ Tò Vò Sphecidae Tại Việt Nam

Các nghiên cứu về Tò Vò ở Việt Nam còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào điều tra thành phần loài. Đến nay, Việt Nam ghi nhận 24 loài và 3 phân loài thuộc 7 giống trong 4 phân họ [3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27]. Số lượng này còn ít so với 789 loài đã được ghi nhận trên toàn thế giới. Vùng Tây Bắc, với sự đa dạng về khí hậu và địa hình, được kỳ vọng sẽ có khu hệ Tò Vò Sphecidae đa dạng hơn.

2.1. Sự Thiếu Hụt Nghiên Cứu Về Thành Phần Loài và Phân Bố

Số lượng loài Tò Vò được ghi nhận ở Việt Nam vẫn còn thấp so với tiềm năng thực tế. Vùng Tây Bắc, với vị trí địa lý đặc biệt và đa dạng sinh thái, có thể chứa đựng nhiều loài mới chưa được khám phá. Việc thiếu các nghiên cứu chuyên sâu về thành phần loài và phân bố gây khó khăn cho việc bảo tồn và quản lý hiệu quả các loài Tò Vò.

2.2. Sự Hạn Chế Về Nghiên Cứu Sinh Học Sinh Thái Tập Tính

Ngoài thành phần loài, các khía cạnh sinh học, sinh thái và tập tính của Tò Vò ở Việt Nam cũng chưa được nghiên cứu đầy đủ. Việc hiểu rõ hơn về các yếu tố này sẽ giúp chúng ta đánh giá đúng vai trò của Tò Vò trong hệ sinh thái và có những biện pháp bảo tồn phù hợp.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Thành Phần Loài Họ Tò Vò Sphecidae

Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp điều tra và thu mẫu ngoài thực địa. Mẫu vật được thu thập, xử lý, lên tiêu bản và định loại. Phương pháp nghiên cứu sự phân bố của các loài họ Tò Vò Sphecidae được thực hiện dựa trên các địa điểm thu mẫu và các yếu tố môi trường. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài S. madraspatanum bao gồm nghiên cứu cấu trúc tổ, thời gian phát triển, tỷ lệ sống, tỷ lệ giới tính.

3.1. Thu Mẫu và Định Loại Mẫu Vật Tò Vò Sphecidae

Quá trình thu mẫu ngoài thực địa đóng vai trò quan trọng trong việc xác định thành phần loài. Các mẫu vật sau khi thu thập được xử lý cẩn thận và lên tiêu bản để phục vụ cho quá trình định loại. Việc định loại chính xác là yếu tố then chốt để có được danh sách thành phần loài chính xác.

3.2. Phân Tích Phân Bố và Môi Trường Sống Của Tò Vò

Nghiên cứu sự phân bố của các loài Tò Vò Sphecidae dựa trên các địa điểm thu mẫu và các yếu tố môi trường liên quan. Phân tích này giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bố của Tò Vò và hiểu rõ hơn về mối quan hệ của chúng với môi trường sống.

IV. Nghiên Cứu Sinh Học Loài Tò Vò Sceliphron Madraspatanum

Nghiên cứu đặc điểm sinh học của Sceliphron Madraspatanum tập trung vào cấu trúc tổ, thời gian phát triển các pha, thời gian sống của trưởng thành, tỉ lệ sống của các pha trước trưởng thành và tỉ lệ giới tính. Các phương pháp được sử dụng bao gồm quan sát trực tiếp, đo đạc và phân tích số liệu thống kê. Các nghiên cứu về khu hệ tò vò ở Việt Nam cho đến nay còn rất hạn chế. Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào việc điều tra thành phần loài.

4.1. Nghiên Cứu Cấu Trúc Tổ và Sự Phát Triển Của Các Pha

Việc nghiên cứu cấu trúc tổ giúp hiểu rõ hơn về tập tính làm tổ của loài Tò Vò Sceliphron Madraspatanum. Nghiên cứu thời gian phát triển các pha (trứng, ấu trùng, nhộng) cung cấp thông tin quan trọng về vòng đời của loài.

4.2. Đánh Giá Tỷ Lệ Sống và Tỷ Lệ Giới Tính Của Loài Tò Vò

Việc nghiên cứu tỷ lệ sống của các pha trước trưởng thành và tỷ lệ giới tính giúp đánh giá khả năng sinh tồn và sinh sản của loài Tò Vò. Các thông tin này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá tình trạng quần thể và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của loài.

V. Ứng Dụng Nghiên Cứu Họ Tò Vò Sphecidae Trong Nông Nghiệp

Kết quả nghiên cứu về thành phần loài họ Tò Vò Sphecidae sẽ góp phần tạo cơ sở khoa học cho việc đánh giá đa dạng số lượng loài và sự phân bố của chúng ở vùng Tây Bắc nói riêng và của Việt Nam nói chung. Các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ làm giàu thêm hiểu biết của chúng ta về đặc điểm sinh học, sinh thái học và tập tính của loài S. Madraspatanum. Chúng ta có thể sử dụng loài này để tăng gia sản xuất trong nông nghiệp, hoặc là một chất chỉ thị sinh học.

5.1. Tầm Quan Trọng Trong Kiểm Soát Sinh Học

Tò Vò Sphecidae là loài bắt mồi tự nhiên của nhiều loại côn trùng gây hại trong nông nghiệp. Việc hiểu rõ hơn về tập tính bắt mồi của chúng có thể giúp chúng ta sử dụng chúng như một công cụ kiểm soát sinh học hiệu quả, giảm sự phụ thuộc vào thuốc trừ sâu hóa học.

5.2. Nghiên Cứu Để Bảo Tồn Loài

Tầm quan trọng của các nghiên cứu này còn thể hiện trong việc bảo tồn loài. Các nghiên cứu thành công sẽ tạo tiền đề cho những ứng dụng trong tương lai, và việc bảo tồn những loài có ích cho nông nghiệp. Việc bảo tồn rất quan trọng và cần được đẩy mạnh trong tương lai.

VI. Kết Luận và Hướng Phát Triển Nghiên Cứu Về Tò Vò Sphecidae

Đề tài đã cung cấp danh sách hệ thống các loài ong thuộc họ Tò Vò Sphecidae cho một số tỉnh vùng Tây Bắc, Việt Nam, trong đó phát hiện và mô tả 1 loài mới cho khoa học, ghi nhận mới 4 loài, 3 phân loài cho khu hệ Tò Vò của Việt Nam. Đề tài cung cấp một số dẫn liệu mới về sinh học, sinh thái học và tập tính của loài Tò Vò S. madraspatanum cho khoa học. Đề tài ghi nhận mới 01 giống ong kí sinh Melittobia (Hymenoptera: Eulophidae) cho khu hệ côn trùng kí sinh của Việt Nam.

6.1. Tổng Kết Đóng Góp Mới Của Luận Án

Luận án đã có những đóng góp mới quan trọng về thành phần loài, sinh học, sinh thái và tập tính của Tò Vò Sphecidae ở Việt Nam. Việc phát hiện loài mới và ghi nhận các loài mới cho khu hệ Tò Vò Việt Nam là những kết quả đáng chú ý.

6.2. Đề Xuất Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo

Các nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào việc mở rộng phạm vi điều tra thành phần loài, nghiên cứu sâu hơn về sinh học, sinh thái và tập tính của các loài Tò Vò khác. Đồng thời, cần có các nghiên cứu về vai trò của Tò Vò trong các hệ sinh thái khác nhau và ứng dụng của chúng trong nông nghiệp.

24/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Nghiên cứu trên thế giới về họ tò vò Sphecidae 1. Nghiên cứu về thành phần và sự phân bố các loài họ tò vò Sphecidae Cho đến nay, đã có hàng nghìn công trình nghiên cứu về các loài họ tò vò Sphecidae trên toàn thế giới. Tất cả các công trình nghiên cứu liên quan đến các loài họ tò vò của Sphecidae đã được Pulawski (2019) [28] thống kê.

Theo danh lục của Pulawski (bảng 1.1), họ tò vò Sphecidae gồm có 789 loài và được phân chia trong 5 phân họ và 19 giống. Trong đó phân họ Ammophilinae gồm có 6 giống với 347 loài, phân họ Chloriontinae gồm 1 giống với 20 loài, phân họ Sceliphrinae gồm 6 giống với 148 loài, phân họ Sphecinae gồm 5 giống với 273 loài và phân họ Stangeellinae gồm 1 giống và 1 loài. Trong đó, giống Stangeela (1 loài) được phân bố chỉ ở Bra-xin, giống Penepodium (22 loài) phân bố ở vùng Nam Mỹ (the Neotropical region), giống Dynatus (3 loài) phân bố ở vùng Bắc Mỹ, giống Eremnophila (9 loài) phân bố ở vùng Bắc Mỹ và Nam Mỹ (the Nearctic và Neotropical regions) và vùng Cổ Bắc (the Palearctic region), giống Eremochares (6 loài) phân bố ở vùng Cổ Bắc (the Palearctic region) và vùng Nhiệt Đới Châu Phi (the Ethiopian region), giống Podium (23 loài) phân bố ở vùng Nam Mỹ (the Neotropical region), giống Trigonopsis (16 loài) phân bố ở vùng Nam Mỹ (the Neotropical region), giống Chilosphex (2 loài) phân bố ở vùng Cổ Bắc (the Palearctic region), giống Palmodes (21 loài) phân bố ở vùng Bắc Mỹ (the Nearctic region), vùng Cổ Bắc (the Palearctic region) và vùng Nam Phương (the Australian region). Vùng Đông Phương (the Oriental Region) ghi nhận 12 giống: Ammophila (240 loài), Eremnophila (9 loài), Hoplammophila (4 loài), Parapsammophila (21 loài), Podalonia (67 loài), Chlorion (20 loài), Chalybion (49 loài), Sceliphron (35 loài), Prionyx (56 loài), Isodontia (62 loài), Palmodes (21 loài) và Sphex (132 loài).

Thành phần loài tò vò ở các nước trong khu vực Đông Nam Á vẫn chưa được thống kê, các loài được ghi nhận hoặc mô tả mới nằm rải rác trong các xuất bản của một số tác giả. Tsuneki (1963) [45] công bố thành phần loài tò vò của Thái Lan bao gồm 2 loài trong 1 giống Sphex: Sx. sericeus lineolus (tên gọi khác của Sphex sericues) và Sx. Trong khu vực Châu Á, tính đến nay đã có 2 công trình liệt kê về thành phần loài họ tò vò Sphecidae đó là 5 của Barthélémy (2014) [14] đã thống kê 14 loài họ tò vò Sphecidae thuộc 3 phân họ cho khu hệ tò vò ở Hồng Kông.

Trong đó, phân họ Ammophilinae gồm 1 loài thuộc 1 giống (Ammophila), phân họ Sceliphrinae gồm 5 loài thuộc 2 giống (Chalybion và Sceliphron), phân họ Sphecinae gồm 8 loài thuộc 2 giống (Isodontia và Sphex) và Kim et al. Số lượng giống và loài của họ Sphecidae trên thế giới (theo Pulawski, 2019 [28]) Stt Tên khoa học Số lượng Vùng phân bố loài I Phân họ 347 Ammophilinae 1 Giống Ammophila 240 Vùng Đông Phương, vùng Cổ Bắc 2 Giống 9 Vùng Bắc Mỹ, vùng Nam Mỹ, vùng Eremnophila Đông Phương 3 Giống 6 Vùng Cổ Bắc Eremochares 4 Giống 4 Vùng Cổ Bắc, vùng Đông Phương, vùng Hoplammophila Bắc Mỹ, vùng Nam Mỹ 5 Giống 21 Vùng Đông Phương, vùng Nhiệt Đới Parapsammophila Châu Phi, vùng Nam Phương 6 Giống Podalonia 67 Vùng Đông Phương, vùng Cổ Bắc, vùng Bắc Mỹ, vùng Nam Mỹ, vùng Nhiệt Đới Châu Phi II Phân họ 20 Chloriontinae 7 Giống Chlorion 20 Vùng Bắc Mỹ, vùng Nam Mỹ, vùng Đông Phương, vùng Cổ Bắc 6 III Phân họ 148 Sceliphrinae 8 Giống Dynatus 3 Vùng Bắc Mỹ 9 Giống Penepodium 22 Vùng Nam Mỹ 10 Giống Podium 23 Vùng Nam Mỹ 11 Giống Trigonopsis 16 Vùng Nam Mỹ 12 Giống Chalybion 49 Vùng Đông Phương, vùng Cổ Bắc, vùng Bắc Mỹ, vùng Nam Mỹ, vùng Nhiệt Đới Châu Phi 13 Giống Sceliphron 35 Vùng Đông Phương, vùng Cổ Bắc, vùng Bắc Mỹ, vùng Nam Mỹ, vùng Nhiệt Đới Châu Phi, vùng Nam Phương IV Phân họ 273 Sphecinae 14 Giống Chilosphex 2 Vùng Cổ Bắc 15 Giống Palmodes 21 Vùng Bắc Mỹ, vùng Cổ Bắc, vùng Đông Phương, vùng Nam Phương 16 Giống Prionyx 56 Vùng Đông Phương, vùng Cổ Bắc, vùng Bắc Mỹ, vùng Nam Mỹ, vùng Nhiệt Đới Châu Phi, vùng Nam Phương 17 Giống Isodontia 62 Vùng Đông Phương, vùng Cổ Bắc, vùng Bắc Mỹ, vùng Nam Mỹ, vùng Nam Phương 18 Giống Sphex 132 Vùng Đông Phương, vùng Cổ Bắc, vùng Bắc Mỹ, vùng Nam Mỹ, vùng Nam Phương, vùng Nhiệt Đới Châu Phi V Phân họ 1 Stangeellinae 19 Giống Stangeella 1 Vùng Nam Mỹ Tổng số 789 7 Giống Sceliphron bao gồm 35 loài và 30 phân loài phân bố trên toàn thế giới [28] và được phân chia ra làm 2 phân giống gồm phân giống Sceliphron s.str và phân giống Prosceliphron. Phân giống Sceliphron được mô tả bởi van der Vecht và van Breugel (1968) [15] với 18 loài được ghi nhận và được phân chia thành 2 nhóm loài là nhóm loài S. madraspatanum với 10 loài và nhóm loài S.

spirifex với 8 loài. Phân giống Prosceliphron được mô tả bởi Hensen (1987) [11] với 11 loài được ghi nhận. Jha và Farooqi (1995) [47] đã mô tả 4 loài của giống ở Ấn Độ, trong đó 3 loài thuộc phân giống Sceliphron và 1 loài thuộc phân giống Prosceliphron. Hai loài còn lại của giống là S.

leptogaster Camenron, 1905 cho đến này vẫn chưa được xếp vào phân giống và nhóm loài nào (Pham, 2016) [25]. Nghiên cứu về loài S. madraspatanum Loài tò vò Sceliphron madraspatanum là loài có sự phân bố rộng trên thế giới, cho đến nay loài này được ghi nhận phân bố ở Châu Âu, Châu Á và Châu Phi. Loài này đã được báo cáo là loài ngoại lai ở Châu Úc nhưng chúng chưa thiết lập được quần thể ở đây.

cho thấy loài S. madraspatanum là một loài với nhiều phân loài nhất trong giống Sceliphron, bao gồm 8 phân loài, một số phân loài có phân bố hẹp trong một quốc gia, một số phân loài được phân bố rộng trên nhiều quốc gia [48]. Iida (1969) [41] là tác giả duy nhất cho đến nay đã nghiên cứu về hình thái ấu trùng của loài S. Tác giả đã miêu tả hình thái của ấu trùng đẫy sức S.

madraspatanum đang đình dục trong một tổ bùn mà được thu vào mùa hè ở Ryukyus, Nhật Bản. Ấu trùng có màu trắng vàng nhạt, độ dài tối đa của cơ thể là 14 mm, độ rộng tối đa của cơ thể là 5 mm, chiều dầy cơ thể từ 3,1 – 3,8 mm, độ rộng của đầu là 1,6 mm và chiều cao của đầu là 1,5 mm. Các lông tơ trên bề mặt bụng dài khoảng 20. Ấu trùng có 13 đốt cơ thể, các đốt được phân chia từ sau phần đầu đến phần hậu môn, mặt bên của mỗi đốt có một lỗ thở.

Hai bên mặt lưng bụng có một đường rãnh chạy dọc. Lỗ hậu môn là một khe hẹp nằm ngang. Đầu có màu sắc giống như màu sắc của cơ thể và 1 cặp hố có độ sâu vừa phải ở hai bên. Hàm trên có màu nâu, đỉnh hàm có màu nâu đậm, độ dài 0,54 mm và rộng 0,33 mm.

Gần phần gốc hàm trên có 2 lông cứng dài khoảng 26  và có 9 -10 đốm nhỏ. Hàm trên có 4 răng, 2 răng ở phía đỉnh và 2 răng ở mặt phía trong. Sự phân bố của các phân loài đã biết của S. Sceliphron madraspatanum Ấn Độ 2 andaminicum Kohl, 1918 Sceliphron madraspatanum Philippines 3 conspicillatum (Costa, 1864) Sceliphron madraspatanum Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc 4 formosanum van der Vecht, 1968 Sceliphron madraspatanum Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Việt Nam 5 kohli Sickmann, 1894 Sceliphron madraspatanum Ấn Độ, Ả Rập Saudi, Iran, Pakistan, 6 pictum (Smith, 1856) Afghanistan, Oman, Các tiểu Vương quốc Ả Rập Thống Nhất Sceliphron madraspatanum Indonesia 7 sutteri van der Vecht, 1957 Sceliphron madraspatanum Ý, Pháp, Croatia, Algeria, Tunisia, Tây Ban tubifex (Latreille, 1809) Nha, Turkmenistan, Ai Cập, Hungary, Thổ 8 Nhĩ Kỳ, Iraq, Anbania, Iran, Syria, Bồ Đào Nha, Israel, Nam Tư, Bungaria, Séc, Slovakia, Tajikistan, Uzbekistan, Trung Quốc, Nhật Bản, Ukraina, Slovenia, Nga 9 1.

Nghiên cứu về sinh học của loài tò vò S. madraspatanum và một số loài thuộc họ tò vò Sphecidae Hầu hết các nghiên cứu về sinh học của các loài họ tò vò Sphecidae được thực hiện vùng Bắc Mỹ (the Nearctic region), vùng Nam Mỹ (the Neotropical region) và vùng Cổ Bắc (the Palearctic region). Tuy nhiên, một số các nghiên cứu về sinh học của loài họ tò vò Sphecidae cũng được thực hiện ở vùng Nhiệt Đới Châu Phi (the Ethiopial region) và vùng Nam Phương (the Australian region) [1]. Ở vùng Đông Phương (The Oriental region), nghiên cứu về sinh học của nhiều loài họ tò vò Sphecidae đã nhận được nhiều sự quan tâm nhưng chủ yếu các nghiên cứu này được thực hiện ở Ấn Độ, Sri Lanka, Hồng Kông, Đài Loan, Thái Lan và Philippines.

Những loài được nghiên cứu về sinh học có thể kể ra như: loài Ammophila laevigate, A. atripes, Sphex subtruncatus, Sx. cericeus ở Sri Lanka (Krombein, 1984 [49]); Sx. subtruncatus ở Đài Loan (Tsuneki, 1963 [50]); Sx.

cericeus, Chalybion japonicum ở Hồng Kông (Barthélémy, 2011 [51]; Chalybion bengalense ở Ấn Độ (Jayakar và Spurway (1963, 1964, 1965) [52, 53, 54], Chakrabarti (1986) [55], Sundheendrakumar và Narendran 1989 [56, 57]), S. madraspatanum ở Nhật Bản, Đài Loan và Philippines (Katayama và Ikushima, 1935 [34]; Iwata, 1939 [58]; Spurway et al., 1964 [53]; Williams, 1919 [32]) loài Chlorion lobatum, Sphex argentatus, Sx. luteipennis, Prionyx viduatus, Ammophila clavus, S. Nghiên cứu về cấu trúc tổ Nghiên cứu đầu tiên về sinh học của loài S.

madraspatanum là nghiên cứu của Horne (1870) [29]. Theo nghiên cứu của ông thì sau khi con cái S. madraspatanum tìm kiếm được vị trí lấy bùn thì chúng tiến hành nặn mang các viên bùn về vị trí làm tổ. Cấu trúc tổ của loài là từ các khoang tổ được xây thành hàng ngang hoặc các khoang tổ được xây chồng lên nhau.

Số lượng khoang tổ trong một tổ giao động từ 4 đến 6. Các tổ của loài đều được phủ một lớp bùn bên ngoài, do đó hình thái bên ngoài của tổ giống như một cục bùn. Cameron (1889) [30] cho rằng tổ của loài S. madraspatanum được xây tối đa lên đến 5 khoang tổ.

Các nghiên cứu của Dutt (1912) [31], Myartseva (1968) [40] và Kazenas (2001) [59] đều chỉ ra rằng tổ của loài S. madraspatanum có cấu trúc từ 2 đến 7 10 khoang tổ và một lớp bùn phủ bên ngoài tổ. Các tác giả này cũng cho rằng lớp bùn phủ bên ngoài tổ là một đặc điểm đặc trưng cho cấu trúc tổ của loài. Chính vì đặc điểm đặc trưng của cấu trúc tổ của loài này mà sau khi phân tích một tổ bùn với 5 khoang tổ thu được trong thực đia ở Đức, Menzel (1928) [60] cho rằng đây là tổ của một loài nào đó thuộc giống Sceliphron, có thể là của loài S.

madraspatanum hoặc của loài S. Công bố của Katayama và Ikushima (1935) [34] chỉ ra rằng cấu trúc tổ của loài S.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Thành Phần Loài Họ Tò Vò Sphecidae Ở Tây Bắc Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự đa dạng và phân bố của các loài thuộc họ Tò Vò Sphecidae tại khu vực Tây Bắc Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ giúp xác định các loài mới mà còn làm nổi bật vai trò của chúng trong hệ sinh thái địa phương. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin quý giá về các đặc điểm sinh học, môi trường sống và sự tương tác của các loài này với các yếu tố sinh thái khác.

Để mở rộng kiến thức về sự đa dạng sinh học và bảo tồn, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên thực vật có tinh dầu ở khu vực phía nam thị xã nghi sơn tỉnh thanh hóa, nơi khám phá sự phong phú của tài nguyên thực vật có tinh dầu. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu bảo tồn và phát triển loài lan hài trần liên paphiopedilum tranlienianum đặc hữu bằng phương pháp nhân giống in vitro tại tỉnh thái nguyên sẽ cung cấp cái nhìn về các phương pháp bảo tồn loài quý hiếm. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học của sông mã tỉnh thanh hóa trong bối cảnh biến đổi khí hậu sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của biến đổi khí hậu đến đa dạng sinh học trong khu vực. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá sâu hơn về các chủ đề liên quan.