Luận Văn Thạc Sĩ: Nghiên Cứu Đa Dạng Di Truyền Và Cải Tiến Nguồn Gen Khoai Môn Sọ Bản Địa

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đa dạng di truyền và cải tiến nguồn gen khoai môn sọ bản địa bằng công nghệ sinh học và đột biến thực nghiệm.

Chuyên ngành

Di truyền học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2014

163
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Giới thiệu chung về cây khoai môn sọ

1.2. Nguồn gốc, phân bố và đặc điểm sinh thái của cây khoai môn sọ

1.3. Phân loại học cây khoai môn sọ

1.4. Đặc điểm thực vật học của cây khoai môn sọ

1.5. Thành phần dinh dưỡng, giá trị kinh tế và sử dụng của cây khoai môn sọ

1.6. Tình hình sản xuất khoai môn sọ trên thế giới và Việt Nam

1.7. Phân tích đa dạng di truyền ở cây khoai môn sọ

1.7.1. Khái niệm đa dạng di truyền

1.7.2. Vị trí và tầm quan trọng của đa dạng di truyền

1.7.3. Phân tích đa dạng di truyền khoai môn sọ

1.8. Thu thập, bảo tồn và sử dụng nguồn gen khoai môn sọ

1.8.1. Một số vấn đề về thu thập, bảo tồn và sử dụng nguồn gen thực vật

1.8.2. Thu thập, bảo tồn và sử dụng nguồn gen khoai môn sọ

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Phương pháp bố trí trồng và chăm sóc các giống nghiên cứu trên đồng ruộng

2.4. Các phương pháp sử dụng trong đánh giá đa dạng di truyền các mẫu giống nghiên cứu

2.5. Phương pháp nuôi cây mô, tế bào thực vật

2.6. Phương pháp chọn dòng đột biến

2.7. Phương pháp xử lí số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đánh giá đa dạng di truyền nguồn gen khoai môn sọ

3.2. Đa dạng về các đặc điểm hình thái và nông học các mẫu giống khoai môn sọ và một số loài gần

3.3. Kết quả phân tích đa dạng di truyền khoai môn sọ và một số loài gần sử dụng chỉ thị phân tử ADN

3.4. Mối tương quan giữa chỉ thị hình thái – nông học, chỉ thị RAPD và chỉ thị SSR trong đánh giá đa dạng di truyền nguồn gen khoai môn sọ và một số loài gần

3.5. Kết quả phân tích hàm lượng chất khô, thành phần dinh dưỡng và vị ngon của củ của 12 giống khoai môn sọ hạt nhân

3.6. Nghiên cứu thử nghiệm khai thác một số nguồn gen bằng ứng dụng công nghệ tế bào kết hợp đột biến thực nghiệm

3.7. Nghiên cứu nhân nhanh một số giống khoai môn sọ địa phương bằng nuôi cấy chồi đỉnh in vitro

3.8. Nghiên cứu tạo củ in vitro và tiềm năng ứng dụng kỹ thuật tạo củ in vitro trong sản xuất

3.9. Thử nghiệm ứng dụng kết hợp đột biến phóng xạ tia gamma (nguồn Co60) và nuôi cây mô, tế bào thực vật ở khoai môn sọ

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Khoai môn sọ (Colocasia esculenta (L.) Schott) là một trong những loài cây trồng có giá trị kinh tế cao, được trồng phổ biến ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Củ khoai môn sọ chứa hàm lượng dinh dưỡng phong phú, bao gồm hydratcacbon, protein và khoáng chất. Tuy nhiên, loài cây này đang đối mặt với sự xói mòn đa dạng di truyền do sự thay đổi trong cơ cấu cây trồng và áp lực từ đô thị hóa. Việc bảo tồn và khai thác hiệu quả nguồn gen khoai môn sọ là rất cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững của loài cây này. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào mức độ hình thái và nông học, trong khi việc ứng dụng các kỹ thuật phân tử như RAPD và SSR còn hạn chế. Do đó, nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá đa dạng di truyền và cải tiến nguồn gen khoai môn sọ bằng công nghệ sinh học.

II. Căn cứ pháp lý và cơ sở khoa học của định hướng nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên các văn bản pháp lý của Chính phủ Việt Nam về bảo tồn đa dạng sinh học và nguồn gen cây trồng quý hiếm. Việt Nam có nguồn gen khoai môn sọ phong phú, với gần 500 mẫu giống đang được bảo tồn. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ sinh học trong cải tiến giống khoai môn sọ vẫn còn hạn chế. Các kỹ thuật phân tử như RAPD và SSR đã được áp dụng thành công ở nhiều nước, nhưng ở Việt Nam, việc nghiên cứu ứng dụng đột biến thực nghiệm trong chọn giống khoai môn sọ vẫn chưa được thực hiện. Do đó, nghiên cứu này sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho việc bảo tồn và khai thác hiệu quả nguồn gen khoai môn sọ.

III. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu chính của nghiên cứu này là xác định mức độ đa dạng di truyền của nguồn gen khoai môn sọ bản địa thông qua phân tích hình thái, nông học và các chỉ thị phân tử như RAPD và SSR. Nghiên cứu cũng nhằm xây dựng quy trình nhân nhanh in vitro cho một số giống khoai môn sọ địa phương và xác định mức độ mẫn cảm với phóng xạ tia gamma của các giống này. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp tư liệu khoa học cơ bản về di truyền họccải tiến nguồn gen, từ đó đề xuất bộ sưu tập hạt nhân phục vụ cho công tác bảo tồn và khai thác nguồn gen khoai môn sọ hiệu quả.

IV. Nội dung nghiên cứu của đề tài

Nội dung nghiên cứu bao gồm khảo sát và đánh giá mức độ đa dạng di truyền của các giống khoai môn sọ thông qua các đặc điểm hình thái và nông học. Phân tích đa hình ADN bằng kỹ thuật RAPD và SSR sẽ được thực hiện để đánh giá sự hữu ích của các chỉ thị phân tử trong việc đặc trưng các mẫu giống. Nghiên cứu cũng sẽ phân nhóm giống và phân tích mối quan hệ di truyền giữa các giống khoai môn sọ và các loài gần thuộc chi Colocasia và Alocasia. Cuối cùng, nghiên cứu sẽ thử nghiệm ứng dụng công nghệ sinh học trong việc nhân giống cây in vitro và củ in vitro của một số giống khoai môn sọ địa phương.

V. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn nguồn gen khoai môn sọ, một loài cây có giá trị kinh tế cao. Việc ứng dụng các kỹ thuật phân tử sẽ giúp xác định và bảo tồn đa dạng di truyền, từ đó tạo cơ sở cho việc phát triển các giống khoai môn sọ mới có năng suất và chất lượng tốt hơn. Ngoài ra, nghiên cứu cũng góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công nghệ sinh học trong nông nghiệp, đặc biệt là trong việc cải tiến giống cây trồng. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin quý giá cho các nhà khoa học, nhà quản lý và nông dân trong việc phát triển bền vững cây khoai môn sọ tại Việt Nam.

02/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÂY KHOAI MÔN SỌ 1. Nguồn gốc, phân bố và đặc điểm sinh thái của cây khoai môn sọ Khoai môn sọ là loài thực vật thuộc họ Ráy, có tên khoa học là Colocasia esculenta (L.) Schott, là một trong những loài cây trồng lấy củ lâu đời nhất, có niên đại hơn 9. Nguồn gốc của khoai môn sọ hiện vẫn chưa có ý kiến thống nhất hoàn toàn trong các nhà khoa học chuyên nghiên cứu về loài cây này.

Theo ý kiến của nhiều nhà khoa học, khoai môn sọ hiện nay có chung nguồn gốc ở vùng Indo-Malaysia, có lẽ ở Tây Ấn Độ và Bangladesh. Từ đây, cây khoai môn sọ lan rộng về phía Đông đến Đông Nam Á, Đông Á và các đảo Thái Bình Dương; về phía Tây tới Ai cập và Đông Địa Trung Hải và cuối cùng về phía Nam đến châu Phi, từ đó di chuyển đến Caribê và Mỹ [15], [39], [49], [52], [101], [113]. Một quan điểm khác dựa trên dữ liệu isozyme và phân tử ADN lại cho rằng đã có sự tiến hóa song song của hai vốn gen khoai môn sọ, xuất phát từ hai trung tâm tiến hóa khác nhau (ở vùng Đông Nam châu Á và vùng Tây Nam Thái Bình Dương) [65], [66], [71], [90], [74], [75], [77], [78]. Miền tây Melanesia, trung tâm nguồn gốc và thuần hóa của một vài loài cây trồng khác như chuối, dừa, mía, hiện nay có bằng chứng rằng khoai môn sọ có thể cũng đã được thuần hóa ở vùng này.

Sự chú ý tập chung chủ yếu ở Papua New Guinea, với bằng chứng về sự định cư của con người khoảng 40.000 năm và có nền nông nghiệp ít nhất 6. Phát hiện hạt phấn hóa thạch của khoai môn và ráy trên các dụng cụ bằng đá ở phía bắc quần đảo Solomon với niên đại 28.000 năm đã bổ sung thêm bằng chứng cho quan điểm này [68]. Theo cách đó, khoai môn sọ trồng được tìm thấy ở Thái Bình Dương đã không được du nhập vào vùng này bởi những người định cư từ vùng Indo-Malaysia như những suy đoán trước đây [87], [67], [60], mà được thuần hóa từ nguồn gốc hoang dại đang tồn tại ở Melanesia. Từ Melanesia, khoai môn sọ đã được mang đến Polynesia trong suốt e 9 quá trình di cư thời tiền sử của con người với sự suy giảm về số lượng và sự đa dạng [111], [112], [62].

Cũng theo cách đó, sự thuần hóa khoai môn sọ cũng diễn ra ở Đông Nam châu Á với sự phân chia của vùng đất Sunda và Sahul. Hai vốn gen đã xuất hiện ở Đông Nam Á và Thái Bình Dương với sự gối lợp qua vùng Indonesia [74], [75], [77], [78], [113], [114], [112], [62], [63], [58], [66]. Cây khoai môn sọ thích ứng được với nhiều loại đất khác nhau, được trồng nhiều ở loại đất chua, thành phần đất nhẹ, nhiều mùn và có khả năng chịu được hạn, chịu đất chua, đất mặn, đất nghèo dinh dưỡng phù hợp để khai thác tại những vùng sinh thái khó khăn, nơi những cây trồng khác không thể trồng được hoặc kém phát triển [9], [14] và [120]. Khoai môn sọ là cây dài ngày, yêu cầu độ ẩm cao cho sinh trưởng và phát triển.

Cây đạt năng suất cao nhất trong điều kiện cường độ ánh sáng cao, tuy vậy khoai môn sọ lại là loại cây chịu được bóng râm hơn hầu hết các loại cây khác. Cây vẫn có thể cho năng suất cao ngay trong điều kiện che bóng, nơi những cây trồng khác không thể phát triển được. Đây là đặc tính ưu việt khiến cây khoai môn sọ được coi là cây trồng xen lý tưởng [14]. Phân loại học cây khoai môn sọ Trong hệ thống phân loại thực vật, loài khoai môn sọ có vị trí phân loại như sau: Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Thực vật hạt kín (Angiospermatophyta) Lớp: Một lá mầm (Monocotyledonae) Phân lớp: Cau (Arecidae) Bộ: Ráy (Arales) Họ: Ráy (Araceae) Chi: Khoai môn (Colocasia) Loài: Colocasia esculenta (L.

Trên thế giới, họ Ráy (Araceae) là một họ tương đối lớn với 106 chi và 2.823 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới (đặc trưng cho rừng ẩm) và cận nhiệt đới. Ở Việt Nam, họ Ráy có khoảng 30 chi với khoảng 156 loài, chủ yếu là những loài cây ưa bóng ở tầng thấp trong rừng hoặc bì sinh trên cây khác. Đã có rất nhiều loài Ráy e 10 mới được phát hiện, tính đến năm 2009, có thêm 38 loài Ráy mới được phát hiện ở Đông Dương và Việt Nam [4], [5]. Cây khoai môn, khoai sọ thuộc chi khoai môn (Colocasia) là một trong những chi quan trọng nhất của họ ráy.

Trên thế giới chi này bao gồm khoảng 8 loài. Các loài trong chi này được sử dụng làm nguồn lương thực, thực phẩm cho người và thức ăn cho gia súc. Theo các tài liệu đã công bố, Việt Nam có 5 loài là C. Khoai môn sọ trồng được định loại loài C.) Schott là một loài phức.

Chi Colocasia được xác định bởi Schott năm 1832 trên cơ sở hai loài đã được Linnacus mô tả lần đầu tiên vào năm 1753 là Arum colocasia và Arum esculentum [14]. Schott cũng đã đặt lại tên của hai loài này là C. Hiện nay, trong nghiên cứu phân loại chi Colocasia vẫn còn nhiều tranh cãi chưa ngã ngũ. Một số nhà phân loại thực vật học cho rằng có một loài đa hình là C.

esculenta và ở mức độ dưới loài biết đến có C. Một số khác lại cho rằng chi Colocasia có một loài phức là C. antiquorum và ở mức độ dưới loài là C. Tuy nhiên, có trường phái lại cho rằng, chắc chắn có hai loài C.

antiquorum được phân biệt dựa vào những đặc điểm hình thái hoa (Purseglove, 1972) [88]. Theo quan điểm này thì loài C. esculenta có phần phụ vô tính ở đỉnh bông mo thò ra khỏi mo hoa, ngắn hơn cụm hoa đực. antiquorum có phần phụ vô tính ở đỉnh bông mo không thò ra khỏi mo hoa, dài hơn cụm hoa đực.

Ở Việt Nam, trong nhiều tài liệu nghiên cứu về cây khoai môn sọ, các tác giả đều sử dụng danh từ chung “Cây khoai môn” vừa để chỉ giống cây thích nghi với môi trường đất bị ngập nước hoặc ẩm ướt, với tên thường gọi là “Cây khoai nước” và cũng để chỉ nhóm cây chịu hạn mà không chịu được ngập úng tên thường gọi là “Cây khoai sọ” (Bùi Công Trừng và cs, 1963) [27], (Nguyễn Đăng Khôi và Nguyễn Hữu Hiến, 1985) [18]. Đến nay, tên của loài cây môn sọ trong các tài liệu hiện hành e 11 cũng được sử dụng rất khác nhau. Có tác giả cho rằng “Cây khoai môn” là tên chung để chỉ hai nhóm cây hoàn toàn khác nhau về loài là cây khoai nước (C. esculenta) và cây khoai sọ (C.

Một số khác lại cho rằng “Cây khoai môn” với tên loài của nó C.) Schott là tên chung của cả hai nhóm khoai nước và khoai sọ (Nguyễn Hữu Bình, 1963) [2], (Nguyễn Đăng Khôi và Nguyễn Hữu Hiến, 1985) [18]. Nhóm nghiên cứu cây có củ thuộc Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam vào những năm thập kỷ 60 lại cho rằng “Cây khoai môn” với tên loài của nó C. antiquorum là tên chung của hai nhóm cây khoai nước và khoai sọ (dẫn theo Nguyễn Thị Ngọc Huệ và cs, 2004) [14]. Từ năm 1998, khi nghiên cứu đa dạng di truyền nguồn gen khoai môn sọ ở Việt Nam, các tác giả Nguyễn Thị Ngọc Huệ, Trương Văn Hộ, Nguyễn Văn Viết, Nguyễn Phùng Hà, cho rằng giả thiết có hai loài phụ dưới loài C.

antiquorum với tên gọi khoai môn và khoai sọ là có lý hơn cả. Nguồn gen khoai môn sọ bao gồm 3 biến dạng thực vật là khoai môn (Dasheen type), khoai sọ (Eddoe type) và nhóm trung gian. Ba biến dạng này có mối quan hệ khá gần gũi trong quá trình tiến hoá từ cây khoai nước đến khoai môn và sau cùng là cây khoai sọ [14]. esculenta theo phân loại dưới loài cho thấy có hai nhóm cây là nhóm khoai nước (chịu ngập úng) và nhóm khoai môn (sử dụng củ cái và trồng trên đất cao).

Hai nhóm này sử dụng củ cái để ăn, củ con để làm giống và dọc lá dùng để chăn nuôi. Hoa có phần phụ vô tính ngắn hơn so với phần cụm hoa đực. antiquorum gồm nhóm cây khoai sọ. Nhóm này có củ cái kích thước nhỏ đến trung bình kèm theo nhiều củ con có tính ngủ nghỉ.

Nhóm khoai sọ phân bố rộng có thể trồng trên đất ruộng lúa nước hoặc trên đất phẳng có tưới, thậm chí trên đất dốc sử dụng nước trời. Hoa có phần phụ vô tính dài hơn phần cụm hoa đực. Vì vậy nên gọi nhóm cây khoai môn sọ là chính xác nhất, kể cả khi cho rằng có một loài đa hình là C. antiquorum và ở mức độ dưới loài là C.

Để nhận biết các giống của hai nhóm này, cần dựa vào kết quả phân tích tổng hợp của 3 nhóm đặc điểm: Hình thái của củ cái và củ con Số lượng nhiễm sắc thể Đặc điểm hình thái hoa Dựa vào hình thái của củ cái và củ con thấy rằng: Nhóm C. esculenta (Dasheen) bao gồm các giống khoai môn và khoai nước. Đặc điểm của chúng là có một củ cái lớn quyết định năng suất khóm khoai, với một vài củ con nhỏ hoặc dải khoai (Stolon) không dùng để ăn. Bông mo của nhóm này có phần phụ vô tính ngắn hơn phần hoa đực.

Khả năng thích nghi của các giống khoai thuộc nhóm này từ điều kiện đất bị ngập nước (khoai nước ở vùng chiêm trũng Nam Định, Thái Bình) tới những vùng đất cao thuộc các tỉnh trung du miền núi và cao nguyên sử dụng nước trời như Sơn La, Hoà Bình, Lào Cai, Lạng Sơn, Cao Bằng, Thanh Hoá, Lâm Đồng với các giống điển hình như khoai môn Thuận Châu, Hậu Doàng, Phước Ỏi, Phứa Lanh, khoai Mán vàng. antiquorum (Eddoe) gồm hầu hết các giống khoai sọ. Đặc điểm chính của nhóm này là có một củ cái kích thước nhỏ hoặc trung bình, ăn sượng và hơi ngái. Xung quanh củ cái có nhiều củ con hình cầu hoặc hình trứng kích thước khác nhau tuỳ thuộc giống.

Ở các giống khoai sọ, củ con là yếu tố quyết định năng suất thương phẩm [14]. Trong những năm gần đây, thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ về “Kế hoạch hành động đa dạng sinh học Việt Nam”, dự án “Xây dựng ngân hàng gen cây trồng quốc gia” những loài thực vật hữu ích của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã và đang được triển khai tại Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam. Tính đến năm 2012, Trung tâm Tài nguyên thực vật đã thu thập được một tập đoàn giống cây có củ khá lớn, đáng chú ý là tập đoàn khoai môn sọ (C.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu đa dạng di truyền và cải tiến nguồn gen khoai môn sọ bằng công nghệ sinh học" cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc ứng dụng công nghệ sinh học trong việc nâng cao chất lượng và năng suất của khoai môn sọ. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về sự đa dạng di truyền của giống khoai môn mà còn mở ra hướng đi mới cho việc cải tiến nguồn gen, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững trong nông nghiệp. Độc giả sẽ nhận thấy những lợi ích thiết thực từ việc áp dụng các phương pháp sinh học hiện đại, giúp tăng cường khả năng chống chịu của cây trồng và nâng cao giá trị kinh tế.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các nghiên cứu liên quan đến nông nghiệp bền vững, hãy tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ nông nghiệp điều tra nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tổng hợp trong canh tác hồ tiêu piper nigrum l theo hướng bền vững tại đăk lăk, nơi bạn có thể khám phá các biện pháp canh tác hiệu quả. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối coffea canephora pierre giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk sẽ cung cấp thêm thông tin về kỹ thuật bón phân trong nông nghiệp. Cuối cùng, bạn cũng có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ chuyên ngành khoa học môi trường đánh giá mức độ tồn lưu thuốc bảo vệ thực vật để hiểu rõ hơn về tác động của hóa chất trong nông nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực nông nghiệp hiện đại.