CHƯƠNG I: Cơ sở lý luận về công tác kế toán chỉ phí sản xuất và tinh gid thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất. CHƯƠNG II:Đặc điểm cơ bản của Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng công trình Minh Đăng. CHUONG IIL: Thực trạng công tác kế toán chỉ phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của Công ty Cổ phần đầu tư và xây-dựng công trình Minh Đăng. CHƯƠNG IV: Một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác kế toán chỉ phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng công trình Minh Đăng.
CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ CÔNG TAC KE TOAN CHI PHISAN XUAT VÀ TÍNH GIÁ THANH SAN PHAMTRONG DOANH.NGHIEP SAN XUAT 1,1. Khái niệm và phân loại chỉ phí sản xuất và giá thành sản phẩm 1. Chỉ phí sản xuất L111. Khai niệm Chỉ phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện.bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa can thiét cho qua trinh san xuat kinh doanh ma doanh nghiệp đã bỏ ra trong một chu kỳ kinh doanh nhất định.
Phân loại Chi phi SXKD có thể phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau tùy vào mục đích, yêu cầu công tác quản lý. Tuy nhiên, về hạch toán chỉ phí sản xuất thường phân theo tiêu thức sau: s Phân theo yếu tố chí phí toàn bộ chỉ phí được chia thành 5 yếu tố: - Yếu tố chỉ phí nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên, vật liệu chính, vật liệu phụ, công cụ dụng eú,. sử dụng vào sản xuất, kinh doanh trong kỳ. - Yếu tố chỉ phí nhân công:.Bao gồm toàn bộ số tiền công, phụ cấp và các khoản trích theo lương theø quy định của lao động trực tiếp, chế tạo sản phẩm trong kỳ.
- Yếu tố chịphí khấu hao TSCĐ: Phan ánh tông số khấu hao TSCĐ phải trích trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho sản xuất kinh doanh. - Yếut hi dich vu mua ngoài: Phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài ong SXKD. - Yếu tố ia khúc bằng tiền: Các chỉ phí khác bằng tiền chưa phản ánh ở cáo yếuid trén ditlg vao SXKD. e Phâ ight sản xuất theo khoản mục: - Chỉ phí nguyên vật liệu trực tiếp - Chỉ phí nhân công trực tiếp - Chỉ phí sản xuất chung - Chi phí bán hàng - Chi phí quản lý doanh nghiệp e Phân loại theo cách thức kết chuyển chỉ phí, chia thành 2 loại sau; - Chỉ phí sản phẩm: Là những chỉ phí gắn liền với sản'phẩm sản xuất ra hoặc được mua.
- Chi phi thoi ky: Là những chỉ phí làm giảm lợi tức trong một thời kỳ nào đó không phải là một phần giá trị sản phẩm nên được xem là các phí tổn phải khấu trừ ra từ lợi nhuận của kỳ mà chúng phát sinh. ¢ Phân loại chỉ phí sản xuất theo quan hệ của chỉ phí với khối lượng công việc, sản phẩm hoàn thành, chia làm 2 loại: - Biến phí: Là những chỉ phí thay đổi về tổng số, về tỷ lệ so với khối lượng công việc hoàn thành trong kỳ. - Định phí: Là những chỉ phí không thay đổi về tổng số so với khối lượng công việc hoàn thành trong kỳ. Giá thành sản phẩm 1.1 Khải niệm Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hóa có liên quan tới khối lượng công tác, sản phẩm lao vụ đã hoàn thành: 1.
Phân loại theo thời điểm và nguồn số liệu để tính giá thành, thành 3 loại: - Giá ¡h.kế hoạch:Xác định trước khi bước vào kinh doanh trên cơ sở hoạch. Giá thành dink mức được xem là căn cứ để kiểm soát tình hình thực hiện các định mức tiêu hao các yếu tố vật chát khác nhau phát sinh trong quá trình sản xuất. - Giá thành thực tế: Xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm dựa trên cơ sở các chỉ phí phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm. Giá thành thực tế là căn cứ kiểm tra, đánh giá tình hình tiết kiệm chỉ phí, hạ thấp giá thành và xác định kết quả kinh doanh.
Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý giám-sát chỉ.Phí, Xác định các nguyên nhân vượt (hụt) định mức đề có thể điều chỉnh cho phù hợp. ¢ Phan loai theo phạm vi giám sát chỉ phí, gồm:2 loại: - Giá thành sản xuất (giá thành phân xuéng): Phan ánh tất cả chỉ phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sản xuất. - Giá thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ):Phản ánh toàn bộ chỉ phí phát sinh liên quan đến sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Giá thành toàn bộ Giá thành sản xuất Chỉ phí quản lý Chỉ phi = + + của sản phẩm của sản phẩm doanhnghiép ban hang Cách phân loại này cho nhà quản lý biết được-kết quả sản xuất kinh doanh của từng mặt hàng, từng dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh.
Mối quan hệ giữa chỉ phí sẵn xuất và tính giá thành sản phẩm Chỉ phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt khác nhau của quá trình sản xuất và có quan hệ mật thiết với nhau. CPSX trong kỳ là căn cứ để tính giá thành sản phẩm lao vụ đã hoàn thành. Sự tiết kiệm hay lãng phí CPSX sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm, quản lý giá thành sản phẩm gắn liền với chỉ phí sản xuất,nhừng do bộ phận chỉ phí sản xuất giữa các kỳ không đều nhau nên CPSX và giá thành lại khác nhau về lượng và thời điểm phát sinh. Điều đó Chỉ phí sản xuất Chỉ phí sản xuất + kinhdoanh - — kinh doanh phát sinh dở dang trong kỳ cuối kỳ Trong mối quar hệ chặt chẽ đó, chỉ phí sản xuất và giá thành sản phẩm cũng có những điểm khác nhau cơ bản sau: - Về thời gian: Giá thành chỉ gắn với một thời kỳ nhất định còn chỉ phí sản xuất thì liên quan đến nhiều kỳ như chỉ phí kỳ trước chuyển sang, chỉ phí này phát sinh không bao gồm các chỉ phí chuyển sang kỳ sau.
- Về sản phẩm: Chỉ phí sản xuất không gắn trực tiếp với lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ, còn giá thành lại được tính trên sản lượng bán thành phẩm hay thành phẩm hoàn thành. - Về giá trị: Tổng giá thành sản phẩm không bao gồm những chí phí sản xuất đã chỉ ra trong kỳ (chi phí chờ phân bổ ở các kỳ sau) song giá thành sản phẩm lại tính cả chỉ phí đã chỉ ra kỳ trước được phân bổ cho kỳ này. Tổng chi phí sản xuất phát sinh khác tông giá thành sản phẩm của các sản phẩm hoàn thành trong kỳ. Nhiệm vụ kế toán chỉ phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Hạch toán chỉ phí sản xuắt, tính giá thành sản phẩm có nhiệm vụ chủ yếu: Một là, phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời các chỉ phí phát sinh thực tế trong quá trình sản xuất tại các phân xưởng, bộ phận:sản xuất, gắn liền với các loại chỉ phí sản xuất khác nhau theo từng lòại sản phẩm được sản xuất.
Hai là, tính toán chính xác kịp thời giá thành đơn vị của từng loại sản phẩm, lao vụ, dịch vụ mà doanh nghiệp tiền hành: Ba là, xác định chính xác kết quả hạch toán nội bộ phân xưởng, sản xuất. Bồn là, kiểm tra chặt chẽ tình hình thực hiện các định mức tiêu hao vật tư, lao động nhằm phát hiện kịp thời các hiện tượng lãng phí, sử dụng chi phí không đúng kế hoạch, sái mục đích. Năm là, cùng cấp các thông tin cần thiết cho việc định giá và đề ra các quyết hân tích tình hình thực oka kế hoạch giá thành đề xuất biện dung công tác kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp. Đối tượng hạch toán CPSX được hiểu là những phạm vi giới hạn mà CPSX thực tế phát sinh cần được tập hợp.
Thực chất của việc xác định đối tượng hạch toán CPSX là xác định noi phat sinh chi phí (phân xưởng, bộ phận sản xuất, giai đoạn công nghệ.) hoặc đối tượng chịu chỉ phí (sản phẩm, đơn đặt hằng. Để xác định đúng đối tượng hạch toán CPSX, căn cứ Vào những cơ sở sau: - Đặc điểm tổ chức sản xuất. - Quy trình công nghệ kĩ thuật sản xuất sản phẩm. - Đặc điểm tổ chức, yêu cầu trình độ quản lý doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó đối tượng hạch toán CPSX có thể là toàn Bộ quy trình công nghệ sản xuất hay từng giai đoạn, từng phân xưởng. Cũng có thể là từng nhóm sản phẩm, từng công trình xây dựng, từng đơn đặt hàng, từng chỉ tiết sản phẩm. Như vậy, để xác định đúng đối tượng hạch toán CPSX phù hợp với tình hình hoạt động, đặc điểm quy trình sản xuất sản phẩm và đáp ứng yêu cầu quản lý chi phí của doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện tổ chức tốt công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất. Đối tượng tính giá thành sản phẩm Các CPSX thực tế phát sinh được tập Hợp là cơ sở để xác định giá thành sản phẩm.
Do vậy, đối tượng tính giá thành sản phẩm chính là những sản phẩm, công việc lao vụ, dịch vụ, những đơn đặt hàng, công trình, hạng mục công trình. đã hoàn thành cần xác định được chi:phí thực tế cấu thành. Việc xác định đối tượng tính giá thành cũng cần phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất; quản lý sản xuất, quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, khả năng, yêu cầu quản lý cũng như tính chất của từng loại sản phẩm cụ thể. Ke toán tập lợp, chỉ pit sẵn xuất đó, chi phí sả hát inh tính trực tiếp cho từng đối tượng chịu chỉ phí nên đảm bảo độ chính xáết cao.
Vì vậy cần sử dụng tối đa phương pháp này trong điều kiện cho phép. Phương pháp tập hợp chỉ phí gián tiếp Phương pháp này áp dụng khi chỉ phí có liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp chỉ phí sản xuất, không thể tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng. Để tập hợp chỉ phí theo phương pháp này, kế toán phải lựa chọn tiêu.chuẩn hợp lý đẻ tiền hành phân bổ chỉ phí cho các đối tượng liên quan theo công thức phân bổ: Chỉ phí sản xuất phân bổ — = Tiêu thức phânbổ x Tỷ lệ (hệ số cho từng đối tượng cho từng đối tượng phân bổ Tổng chỉ phí sản xuất cần phân bồ Tỷ lệ (hệ só) phân bổ = = - Tông tiêu thức phân bô cho tat cả đối tượng 1. Kế toán tập hợp chỉ phí sẵn xuất trong doanh nghiệp 1.