Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Trên Thế giới Theo sử liệu, thì vào thế kỷ XVIII, khi Anh chiếm Hồng Kông và nhiều thành phố lớn khác tại Trung Hoa như Thiên Tân, Thượng Hải, Quảng Châu,.đã du nhập tập tính uống Trà của người Tàu về bản quốc. Hàng tháng để kịp có Trà, nhiều cuộc đua gọi là Đua Trà, bằng thuyền buồm chở các loại Trà quý từ Trung Hoa sang London rất hào hứng. Trong những thập niên đầu của thế kỷ XX nhà sưu tập G.Forest của vườn thực vật Hoàng gia Anh vào Vân Nam đã thu thập hạt các loài Trà Camellia Resculata, Camellia Saluenensis,…về trồng. Năm 1610 người Hòa Lan (Hà Lan) mang Trà từ Trung Hoa về Âu Châu.
Vua Ludwig XIV, Marquise de pompadour, và Goethe là những người uống trà xanh. Nữ hoàng Kathrina von Bragaza (1638-1705) con vua Johanns IV Bồ Ðào Nha (Portugal) cùng đoàn tùy tùng đến Anh Quốc làm lễ thành hôn năm 1665, dâng lễ vật quà cưới đến vua Charle II (1660-1685) trong đó có nửa kilô Trà. Chứng tỏ Trà lúc đó rất quý đối với giới quý tộc Âu Châu. Các quốc gia Ấn Ðộ, Tích Lan (Sri Lanka) bị Anh quốc chiếm làm thuộc địa, các thương gia Anh độc quyền nhập Trà năm 1657 về các cảng Cornwall, Dorset, Kent chở về cho 2000 đại lý ở London bán trà đen tại Âu Châu.
Trà nhập Âu Châu bằng đường thủy, trong thời gian này những đoàn lữ hành, vượt sa mạc dùng lạc đà chuyên chở trà từ Trung Hoa, Ấn Ðộ đến bán cho Liên Xô. Nhưng đến cuối thế kỷ XIX trà xanh tràn ngập thị trường Âu Châu, nhờ phương tiện lưu thông tiến bộ, thời gian chuyên chở làm cho trà xanh không mất phẩm chất. Các Tổng thống Hoa Kỳ: Lincoln, Roosevelt, Hoover, Kennedy đều uống trà. Năm 1650 thương thuyền Hòa Lan nhập trà vào New York, thời ấy c 6 gọi là Amsterdam mới (new Amsterdam).
Năm 1773 ở Boston vì tranh cãi về thuế trà, bị phản đối một phần trà nhập cảng bị ném xuống biển.Ở Châu Á Trung Quốc là nước đi đầu trong nghiên cứu ứng dụng cây Trà vào nghệ thuật cây cảnh, làm thuốc và đồ uống. Trong một công trình nghiên cứu về Trà hoa vàng, hai nhà khoa học khác của Trung Quốc là Chen Jihui và Wu Shurong đã đưa ra các kết luận và bằng chứng, chứng minh tác dụng chữa bệnh của Trà hoa vàng dựa trên các kiểm nghiệm lâm sàng được tiến hành trong một thời gian dài. Công trình của hai nhà nghiên cứu đã được báo cáo tại hội nghị UNESCO thế giới về hóa sinh học vô cơ ứng dụng. Vào năm 1994, hơn 120 học giả chuyên ngành của thế giới đã công nhận công trình này tại hội nghị toàn cầu về Trà được tổ chức tại Nam Ninh (Trung Quốc) Theo Trương Hồng Đạt cho thấy ở Trung Quốc cây Trà có phân bố tự nhiên ở 16 tỉnh và có nhiều loài có giá trị thẩm mỹ cao.
Việc nghiên cứu về các loài Trà hoa được bắt đầu ở Trung Quốc từ những năm 40 của thế kỷ XX, kết quả của việc chọn giống và nhân gây tạo giống đã đưa số chủng loại Trà hoa từ 20 loài lên 120 loài. Đầu những năm 1950 ở Côn Minh (Trung Quốc) đã đưa việc nghiên cứu ứng dụng Trà hoa thành trọng điểm và đi sâu vào nghiên cứu nguồn gốc, phân loại, lai tạo ra các giống mới để phát triển Trà hoa, thiết lập các nguồn giống, xây dựng ngân hàng gen phục vụ cho các mục tiêu sản xuất nguyên liệu công nghiệp, đồ uống và nghệ thuật cây cảnh. Trình Kim Thủy và Trương Hồng Đạt đã tiến hành phân loại chi Camellia thành 4 chi phụ: Potocamelli, Camellia, Thea và Metacamellia. Sau này nghiên cứu tiếp của Chung Hung Ta đã được giới thiệu trong cuốn “Camellius” xuất bản năm 1981 ở Trung Quốc vẫn thống nhất với cách chia c 7 chi Camellia thành 4 chi phụ và đồng thời chia tiếp 4 chi phụ thành 20 chi nhánh.
Ngoài ra, trong công trình nghiên cứu của ông cho thấy sự phân bố của chi Camellia tập trung ở một số tỉnh ở miền Nam Trung Quốc và kéo xuống miền Bắc Việt Nam. Trà vào Nhật Bản thế kỷ thứ VI, Hòa Thượng Huimeng (638-713) truyền Phật Giáo từ Trung Hoa sang Đại Hàn vào Nhật Bản và phát triển mạnh trong thời Nara Zeit (710-794). Trà du nhập vào cùng giai đoạn trên, nhưng đến thời Hoàng đế Shômu thế kỷ thứ VIII trà dùng phổ thông hơn. Kế tiếp qua nhiều triều đại văn hóa phát triển.
Thượng phụ Murato Shuko (1422- 1502) chế biến trà xanh (Matcha) thường dùng trong các Chùa và các Hiệp sĩ đạo (Samurai). Đến đời sư phụ Sen-No Rikyu (1522-1591) được nâng lên một nghệ thuật, trở thành nghi thức uống trà (Tea ceremony/ Chanoyu) khởi đầu tại Daitoku-Ji-Tempel.Ở Việt Nam Theo thư tịch cổ Việt Nam, cây chè đã có từ xa xưa dưới 2 dạng: cây chè vườn hộ gia đình vùng châu thổ Sông Hồng và cây chè rừng ở miền núi phía bắc: cây chè Suối Giàng Lê Quý Đôn trong sách “ Vân Đài loại ngữ ” (1773) có ghi trong mục IX, Phẩm vật như sau: “…Cây chè đã có ở mấy ngọn núi Am Thiên, Am Giới và Am Các, huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hoá, mọc xanh um đầy rừng, thổ nhân hái lá chè đem về giã nát ra, phơi trong râm, khi khô đem nấu nước uống, tính hơi hàn, uống vào mát tim phổi, giải khát, ngủ ngon. Hoa và nhị chè càng tốt, có hương thơm tự nhiên…” Năm 1882, các nhà thám hiểm Pháp đã khảo sát về sản xuất và buôn bán chè giữa sông Đà và sông Mê Kông ở miền núi phía Bắc Việt Nam, từ Hà Nội ngược lên cao nguyên Mộc Châu, qua Lai Châu; đến tận Ipang, vùng Xípxoongpảnnả (Vân Nam), nơi có những cây chè đại cổ thụ. c 8 Sau những chuyến khảo sát rừng chè cổ ở tỉnh Hà Giang Việt Nam (1923), và tây nam Trung Quốc (1926), các nhà khoa học Pháp và Hà Lan, đã viết “…những rừng chè, bao giờ cũng mọc bên bờ các con sông lớn, như sông Dương Tử, sông Tsi Kiang ở Trung Quốc, sông Hồng ở Vân Nam và Bắc Kỳ (Việt Nam), sông Mê Kông ở Vân Nam, Thái Lan và Đông Dương, sông Salouen và Irrawađi ở Vân Nam và Mianma, sông Bramapoutrơ ở Assam.” Năm 1976, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, sau những nghiên cứu về tiến hoá của cây chè, bằng phân tích chất Cafein trong chè mọc hoang dại, ở các vùng chè Tứ Xuyên, Vân Nam Trung Quốc, và các vùng chè cổ Việt Nam (Suối Giàng, Nghĩa Lộ, Lạng Sơn, Nghệ An…), đã viết: “…Cây chè cổ Việt Nam, tổng hợp các Cafein đơn giản nhiều hơn cây chè Vân Nam… Từ đó có sơ đồ tiến hoá cây chè thế giới sau đây ” Camellia → Chè Việt Nam → Chè Vân Nam lá to → Chè Trung Quốc → Chè Assam (ấn Độ)” Tháng 2 năm 1923, Alfred Petelot thầy thuốc người Pháp đã tiến hành thu thập một số loài thực vật của vùng núi Tam Đảo nay trở thành Vườn quốc gia Tam Đảo.
Dựa trên mẫu vật mang số hiệu 848 lưu giữ tại phòng tiêu bản thuộc trường đại học California (UC) nhà thực vật người Pháp Elmer Drew Merrill đã công bố loài mới và đặt tên là Thea petelotii vào năm 1924 (in Univ. Theo luật danh pháp quốc tế, Robert Sealy một nhà thực vật người Anh đổi thành Camellia petelotii (Merr.) Sealy vào năm 1958 trong tác phẩm “Revesion of the genus Camellia”. Đây là loài Camellia đầu tiên ghi nhận có ở VQG Tam Đảo. Trong những năm nửa đầu thế kỷ XX nhiều nhà thực vật đã tiến hành nhiều đợt khảo sát và thu thập các mẫu vật trong đó có các loài thuộc chi Camellia, Eberhardt và Petelot đã thu thập được các mẫu Camellia c 9 amplexicaulis và Camellia caudate.
Các loài này đã được Gagnepain công bố trong “Thực vật chí Đông Dương” bổ sung xuất bản năm 1943. Từ năm 1990 đến 1998 nhiều cuộc khảo sát của các nhà nghiên cứu thuộc Viện điều tra quy hoạch rừng, Viện Sinh thái và Tài nguyên, Trường đại học Lâm nghiệp. Các kết quả nghiên cứu thực vật được thông báo hay đăng tải trên các kỷ yếu của các hội thảo. Trong các bảng danh lục có đề cập đến một số loài thuộc chi Camellia mà các nhà thực vật người Pháp đã thu được ở các vùng khác nhau trên lãnh thổ Việt Nam.
Nghiên cứu của GS.TS Ngô Quang Đê bằng phương pháp điều tra theo tuyến đã điều tra phát hiện khu vực phân bố, đặc điểm hình thái, sinh thái của một số loài Trà hoa tại Vườn quốc gia Ba Vì – Hà Tây (nay là Hà Nội) đã cho thấy ở Vườn quốc gia Ba Vì có hai loài Camellia có triển vọng thuần hóa làm cây cảnh. Phần lớn những loài này đều phân bố ở độ cao trên 600m, nơi có tầng đất dày, xốp ẩm, hơi chua dưới tán rừng, là các loài sinh trưởng chậm, chịu bóng nhạy cảm với điều kiện ngoại cảnh nên cần có kỹ thuật tốt. Tuy nhiên GS.TS Ngô Quang Đê đã di thực thuần hóa thành công 2 loài: Trà hoa thơm Ba Vì (Camellia vietnamensis) và Trà hoa vàng Ba Vì (Camellia tonkinensis (Pitard) Cohen Stuart) tại vườn ở Xuân Mai – Chương Mỹ - Hà Nội, hiện 2 loài này sinh trưởng phát triển tốt đồng thời cho hoa đẹp vào dịp xuân về. Hiện nay đó cũng là một trong số rất nhiều loài Trà hoa mà GS.TS Ngô Quang Đê đã thuần hóa trồng thành công tại vườn Trà của mình.
Ngô Quang Đê, Ngô Quang Hưng và Lê Sỹ Doanh với nghiên cứu khảo sát điều kiện sống của Trà hoa vàng tại Ba Vì – Hà Tây và Sơn Động – Bắc Giang đã đánh giá được điều kiện sống cũng như các đặc điểm hình thái sinh thái đặc trưng của hai loài Trà hoa vàng Ba Vì (Camellia tonkinensis (Pitard) Cohen Stuart) và Trà hoa vàng Sơn Động (Camellia euphlebia Merret Sealy var. c 10 Hoàng Minh Chúc và Bùi Văn Khánh đã nghiên cứu hình thái, sinh thái, sinh trưởng của 2 loài Camellia hoa trắng và Camellia hoa vàng tại Vườn quốc gia Ba vì – Hà Tây. Tuy nhiên 2 tác giả mới chỉ dừng lại ở việc điều tra tổ thành loài cây, xác định quan hệ của loài với môi trường sống thông qua yếu tố khí hậu tại khu vực phân bố của loài nghiên cứu. Năm 1997, nghiên cứu của Lê Xuân Trường về đặc điểm hình thái, sinh thái, sinh trưởng của loài Camellia hoa vàng tại Sơn Động – Bắc Giang.
Nghiên cứu đã chỉ ra được các đặc điểm hình thái, sinh thái của cũng như các điều kiện môi trường tác động trực tiếp tới loài Trà hoa vàng.