Chương 1: Giới thiệu. - Chương 2: Các nghiên cứu thực nghiệm - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. - Chương 4: Kết quả nghiên cứu. - Chương 5: Kết luận TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Khung lý thuyết nền 2.1 Lý thuyết cấu trúc vốn Theo Modigliani and Miller (1961) trong thế giới hoàn hảo của M-M bao gồm những giả định sau: không có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân, không có chi phí giao dịch và chi phí kiệt quệ tài chính, các cá nhân và doanh nghiệp điều vay cùng một mức lãi suất như nhau, thị trường vốn hoàn hảo.
Các công ty luôn luôn ưu tiên đầu tư tại mức đầu tư tốt nhất. Vì không có chi phí tài chính nên các doanh nghiệp luôn luôn có khả năng tăng vốn khi có nhu cầu đầu tư vào những dự án có NPV dương mà không cần quan tâm đến chính sách cổ tức và mức độ dòng tiền như thế nào. Chính vì vậy trong lý thuyết M-M thì mối quan hệ giữa quyết định đầu tư và cổ tức có thể tách biệt nhau và những cú sốc về dòng tiền có khả năng tác động đến cổ tức nhưng không tác động đầu tư.2 Lý thuyết về dòng tiền tự do Theo Jensen (1986) trong nghiên cứu về chi phí đại diện của dòng tiền tự do cho thấy rằng giữa cổ đông và nhà quản lý có mâu thuẫn về chính sách chi trả cổ tức và đầu tư của công ty. Mâu thuẫn này đặc biệt nghiêm trọng khi công ty có dòng tiền tự do lớn.
Dòng tiền tự do là dòng tiền vượt quá nhu cầu sử dụng tiền tại tất cả những dự án đầu tư có NPV dương. Các cổ đông luôn mong muốn chi trả cổ tức ở mức cao trong khi đó các nhà quản lý thì mong muốn tăng lợi ích cho bản thân, vì vậy các nhà quản lý luôn có khuynh hướng gia tăng việc chi đầu tư ngay cả đối với những dự án đầu tư có NPV âm và mức sinh lợi thấp, nhằm mục đích tăng quy mô công ty từ đó sẽ gia tăng số lượng các nguồn lực kiểm soát. Nhằm tránh vấn đề đầu tư quá mức của các nhà quản lý khi có dòng tiền tự do, Jensen (1986) cho rằng thanh toán nợ sẽ giải quyết được mâu thuẫn lợi ích giữa nhà quản lý và cổ đông. Thanh toán nợ sẽ làm giảm dòng tiền tự do qua đó giảm các nguồn lực dưới sự kiểm soát của nhà quản lý, từ đó giảm thiểu việc nhà quản lý đầu tư quá mức vào những dự án có mức sinh lợi thấp và NPV âm.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Phát triển từ lý thuyết của Jensen (1986), DeAngelo and DeAngelo (2007) cho rằng khi phát sinh dòng tiền tự do bên cạnh thanh toán nợ thì thanh toán cổ tức sẽ góp phần làm giảm việc đầu tư quá mức của các nhà quản lý, ngoài ra nếu cổ tức duy trì ở mức ổn định sẽ giúp công ty dễ dàng huy động được nguồn vốn từ thị trường tài chính. Như vậy, lý thuyết dòng tiền tự do cho rằng nhằm giảm chi đầu tư quá mức khi phát sinh dòng tiền tự do thì các công ty có thể thực hiện việc thanh toán nợ để giảm sự phụ thuộc vào nợ vay, ngoài ra cũng có thể thực hiện tăng cường chi trả cổ tức hoặc duy trì mức cổ tức ổn định. Hàm ý của lý thuyết dòng tiền tự do dự báo rằng sự tăng lên (giảm xuống) trong cổ tức sẽ dẫn đến sự giảm xuống (tăng lên) trong đầu tư.3 Lý thuyết trật tự phân hạng Theo Myers and Majluf (1984) khẳng định rằng các doanh nghiệp sẽ ưu tiên sử dụng nguồn tài trợ từ nguồn vốn nội bộ, kế đó là vay nợ và cuối cùng là phát hành cổ phần. Mục đích của thứ tự này là để tối thiểu hóa chi phí bất cân xứng thông tin và chi phí tài chính.
Lý thuyết này cho rằng khi dòng tiền hoạt động hiện tại của công ty đủ đảm bảo để tài trợ cho các dự án đầu tư mới thì các công ty sẽ không vay nợ, hoặc phát hành cổ phần. Bởi vì các nhà quản trị hiểu rõ hơn các nhà đầu tư bên ngoài về tình hình kinh doanh của công ty cũng như khả năng sinh lợi các dự án trong tương lai. Do đó, nếu các dự án có triển vọng, đem lại lợi nhuận cao thì cách tài trợ tốt nhất với chi phí thấp nhất là sử dụng nguồn tiền sẵn có từ lợi nhuận giữ lại. Trong trường hợp nguồn này không đáp ứng đủ thì nguồn vốn vay với lãi suất cố định thấp hơn tỷ suất sinh lời của dự án sẽ được lựa chọn như là giải pháp thứ hai để không phải chia sẻ lợi nhuận với các cổ đông mới nếu thực hiện phát hành cổ phần mới.
Tuy nhiên, Fazzari et al. (1988) cho rằng những công ty thanh toán cổ tức ít bị ràng buộc tài chính hơn so với những công ty không thanh toán cổ tức. Nhận định này dựa trên quan điểm cho rằng những công ty thanh toán cổ tức cao có bước đệm cổ tức lớn, các công ty có thể cắt giảm cổ tức để tài trợ cho những cơ hội đầu tư có TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 lợi nhuận. Vì vậy khi có những cú sốc tiêu cực của dòng tiền thì những công ty thanh toán cổ tức cao sẽ ít bị tác động về quyết định chi đầu tư vì chúng có thể cắt giảm cổ tức để đáp ứng cho nhu cầu đầu tư.
Như vậy, hàm ý của lý thuyết trật tự phân hạng dự báo rằng khi công ty bị hạn chế về tài chính, dòng tiền thiếu hụt thì các công ty sẽ ưu tiên sử dụng nguồn tài chính bên trong để đáp ứng nhu cầu đầu tư, và chúng có thể cắt giảm chi trả cổ tức để đáp ứng nhu cầu đầu tư, nghĩa là sự tăng lên (giảm xuống) trong cổ tức sẽ dẫn đến sự giảm xuống (tăng lên) trong đầu tư.4 Lý thuyết thông tin dòng tiền Bhattacharya (1979), Jonh and William (1985), Miller and Rock (1985) đưa ra những quan điểm về cổ tức, dòng tiền, các hành vi đầu tư trong lý thuyết về thông tin dòng tiền khi chứng minh rằng sự thay đổi trong chính sách cổ tức sẽ truyền tải thông tin về dòng tiền hiện tại và tương lai của công ty khi đó sẽ tác động đến chính sách đầu tư. Denis et al. (1994) phát triển dựa trên lý thuyết trên cho rằng những người quản lý sẽ sử dụng cổ tức để nhằm mục đích truyền tải thông tin bên trong doanh nghiệp về dòng tiền. Sự tăng lên hay giảm đi trong thanh toán cổ tức sẽ truyền tải thông tin về triển vọng (không triển vọng) về dòng tiền của công ty.
Tác giả chứng minh rằng những công ty khi tăng chi trả cổ tức cho cổ đông thường nhận thấy những triển vọng tăng trưởng lợi nhuận trong tương lai chính vì vậy khuynh hướng gia tăng chi đầu tư để nắm bắt các cơ hội. Ngược lại khi công ty giảm cổ tức cũng đồng nghĩa với những bi quan về triển vọng tăng trưởng lợi nhuận trong tương lai do đó các công ty thường giảm chi đầu tư. Như vậy, những quan điểm trong lý thuyết về thông tin dòng tiền đã cho thấy có mối quan hệ giữa dòng tiền, chính sách cổ tức, và chính sách đầu tư. Một chính sách cổ tức trong công ty thay đổi sẽ truyền tải những thông tin về dòng tiền hiện tại và kỳ vọng trong tương lai của công ty qua đó sẽ tác động đến chính sách đầu tư.
Một sự gia tăng trong chi cổ tức cho các cổ đông khi công ty nhận ra những cơ hội đầu tư vào những dự án đầu tư có lợi nhuận, vì vậy các công ty sẽ gia tăng chi đầu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Ngược lại một sự giảm trong chi đầu tư đồng nghĩa với những cơ hội đầu tư có lợi nhuận giảm, các công ty sẽ cắt giảm chi đầu tư. Hàm ý của lý thuyết này dự báo rằng giữa quyết định cổ tức và quyết định đầu tư có tương quan dương.2 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới 2.1 Nghiên cứu thực nghiệm về cổ tức, đầu tư Fama's (1974) nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ giữa quyết định cổ tức và quyết định đầu tư của công ty. Sử dụng mẫu nghiên cứu bao gồm 298 công ty tại Mỹ.
Sử dụng phân tích dữ liệu chuỗi thời gian giai đoạn từ 1946-48. Phương pháp ước lượng OLS, 2SLS. Kết luận bài nghiên cứu Fama's (1974) ủng hộ cho lý thuyết M-M, cho rằng cổ tức và đầu tư độc lập với nhau. Fama's (1974) cho rằng những bất hoàn hảo của thị trường vốn không đủ để bác bỏ kết luận về sự độc lập giữa cổ tức và đầu tư của lý thuyết M-M.
Morgan and Saint-Pierre (1978) nghiên cứu quyết định cổ tức và đầu tư. Sử dụng mẫu mẫu quan sát 64 Công ty tại Canada. Sử dụng phân tích dữ liệu chuỗi thời gian giai đoạn từ năm 1954-74 với phương pháp ước lượng OLS, 2SLS. Tác giả cũng đã kết luận rằng chính sách cổ tức và đầu tư độc lập với nhau.
Louton and Domian (1995) khi tiến hành nghiên cứu về mối quan hệ giữa chính sách cổ tức và đầu tư. Bài nghiên cứu cho rằng những kết quả nghiên cứu trước đó của Dhrymes and Kurz (1967), Fama's (1974) trái ngược nhau được gây ra bởi thời gian mẫu quan sát ngắn. Nghiên cứu của tác giả đã kéo dài thời gian chuỗi dữ liệu lên đến 37 năm với 212 Công ty ở Mỹ và sử dụng kiểm định nhân quả Granger đưa đến kết quả cho thấy rằng cổ tức tác động tới đầu tư tại 33% số công ty quan sát. Phát hiện này cho thấy rằng cổ tức tại một số công ty là sự ưu tiên hàng đầu, sau đó đến quyết định đầu tư.
Bhaduri and Durai (2006) nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ giữa quyết định cổ tức và đầu tư tại những thị trường mối nổi. Sử dụng mẫu nghiên cứu 265 công ty sản xuất tại Ấn Độ giai đoạn từ năm 1992 – 2004. Sử dụng phân tích với dữ liệu bảng, phương pháp kiểm định nhân quả Granger. Kết quả nghiên cứu đã bác bỏ lý TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 thuyết M-M và kết luận rằng quyết định cổ tức và đầu tư có mối quan hệ nhân quả hai chiều.
Theo nghiên cứu của Mougoue (2008) nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ giữa cổ tức và đầu tư. Sử dụng mẫu quan sát 417 công ty giai đoạn từ năm 1962- 2004. Sử dụng kiểm định nhân quả Granger tuyến tính và phi tuyến giữa cổ tức và đầu tư.