Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Nghiên cứu canh tác nương rẫy Canh tác nương rẫy được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, nông nghiệp du canh, canh tác du canh, nhưng thường được hiểu là chặt cây – đốt nương – làm rẫy. Thuật ngữ này mang nặng dấu ấn về phá hoại môi trường.
Định nghĩa được dùng nhiều nhất là “Canh tác nương rẫy được coi là những hệ thống canh tác nông nghiệp trong đó đất được phát quang để canh tác trong một thời gian ngắn hơn thời gian bỏ hóa (Conklin, 1957)”. Trên quan điểm động, có một định nghĩa mới “Du canh là một chiến lược quản lý tài nguyên trong đó đất đai được luân canh nhằm khai thác năng lượng và vốn dinh dưỡng của phức hệ thực vật – đất của hiện trường canh tác (Mc Grath, 1987)” .Trên quan điểm sử dụng đất, Anthony Young (1997) cho rằng “Du canh là một hệ thống luân canh trong đó sau một thời gian canh tác đất được bỏ hóa tự nhiên để rừng cây hoặc cây bụi mọc trở lại giúp cho đất phục hồi lại độ phì tự nhiên, đây là hệ thống hoàn toàn bền vững khi thời gian bỏ hóa đủ dài và mật độ dân số thấp [15]”. Có rất nhiều các công trình nghiên cứu về canh tác nương rẫy, điển hình là các vấn đề sau: Nghiên cứu về thực trạng nương rẫy: Hiện nay, trên quy mô toàn cầu ước tính có khoảng 5.000ha rừng/ngày bị chặt- đốt với khoảng 500 triệu người sống trực tiếp và một tỷ người sống gián tiếp của 3.000 tộc người khác nhau đang dựa vào canh tác nương rẫy. Đây quả thật là con số báo động.
Do đó, bức tranh về thực trạng nương rẫy luôn là vấn đề quan tâm nghiên cứu đầu tiên ở hầu hết các nước có hoạt động này. Tiêu biểu là “Tổng quan về nông nghiệp du canh” dưới góc nhìn về kiến thức và kinh nghiệm bản địa của người dân trong sử dụng đất khôn khéo và phục hồi rừng. Dự án “Nông LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 nghiệp du canh ở Thái Lan, Lào và Việt Nam, đặc điểm kinh tế, xã hội và môi trường so với các kiểu sử dụng đất thay thế (1991-1994)” của Viện Quốc tế và Môi trường Anh. Nghiên cứu về nguyên nhân không bền vững của canh tác nương rẫy, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, canh tác nương rẫy gây xói mòn mạnh, ước tính mất khoảng 0,5 – 1cm đất/năm nhưng để hình thành đất phải mất 300 năm mới tạo được lớp đất 2,5cm [12].
Công trình “Các phương thức sử dụng đất dốc vùng cao bền vững ở Đông Nam Á” của Garrity (1993) đã chỉ ra các nguyên nhân về tính không bền vững của các phương thức sử dụng đất ở vùng cao, trong đó có nguyên nhân về sự phân chia “trách nhiệm giữa bên nông nghiệp và lâm nghiệp” [12]. Nghiên cứu về giải pháp cho nông nghiệp du canh. Đây là bài toán khó mà thực tế đa số quốc gia chưa tìm được lời giải thấu đáo. Tuy vậy, cũng đã có một số công trình điển hình như chương trình “Thay thế nông nghiệp du canh.
Chiến lược toàn cầu(ABS)” của Trung tâm nghiên cứu nông lâm kết hợp quốc tế ICRAF với nội dung cốt lõi là áp dụng các phương thức nông lâm kết hợp cho sử dụng đất. Thời gian gần đây, ICRAF tiếp tục nghiên cứu về sử dụng đất bỏ hóa. Hội nghị thế giới về “Lâm nghiệp và phát triển bền vững” tại Inđonesia(1996) cũng thảo luận hàng loạt các giải pháp bề canh tác nương rẫy [48]. Nghiên cứu về tác động tích cực của canh tác nương rẫy, một số tác giả khác cho rằng, nếu mật độ dân số 50 người/km2, canh tác nương rẫy có thể được xem như các “ lỗ trống” trong rừng tự nhiên nên hoạt động này là cách hiệu quả nhất để đối phó với các thực thể sinh thái vùng nhiệt đới (Cox và Atkins, 1976) và có tác dụng tích cực trong quá trình diễn thế và tái tạo rừng ( Odum, 1971, Bodley, 1976) Nhìn chung các công trình nghiên cứu đều khẳng định rằng sự không phù hợp của canh tác nương rẫy ngày này.
Trong công cuộc tìm kiếm các giải pháp sử dụng đất thay thế cho canh tác nương rẫy đã đi đến kết luận: Canh tác LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 nông lâm kết hợp tỏ ra có nhiều triển vọng nhất để giải quyết các vấn đề bức xúc mà các nước đang phải đối mặt, bùng nổ dân số, đói nghèo và cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên (FAO, 1996) 1. Nghiên cứu nông lâm kết hợp Nông lâm kết hợp (Agroforesty) hoặc hệ sinh thái nông lâm kết hợp, kĩ thuật nông lâm nghiệp,… đã được gọi bằng nhiều tên, nhưng về nội dung cơ bản không có sự phân biệt lớn. Lúc đầu gọi là nông lâm Agri - seilviculture đây là một thuật ngữ, được Ủy ban nghiên cứu kinh doanh nông lâm kết hợp của Liên Hợp Quốc là ICRAF do ông King( Ấn Độ) làm chủ tịch đề xuất, năm 1969, King đã viết cuốn sách “Taungya”, trong đó có định nghĩa Agri- eilviculture như sau: “Trên cùng một mảnh đất sản xuất nông, lâm và chăn nuôi cùng kết hợp lại với nhau, cho sức sản xuất của đất được bảo vệ và nâng cao”. Mấy năm sau, Lundgren định nghĩa như sau: “NLKH là tên gọi chung của những hệ thống sử dụng đất trong đó các cây lâu năm (cây gỗ, cây bụi, các cây họ cau dừa, tre trúc, cây ăn quả, cây công nghiệp)….
được trồng có suy tính trên cùng một đơn vị diện tích qui hoạch đất với hoa màu và/hoặc với vật nuôi dưới dạng xen theo không gian hay theo thời gian. Trong các hệ thống nông lâm kết hợp có mối tác động tương hỗ qua lại về cả mặt sinh thái lẫn kinh tế giữa các thành phần trong hệ thống ”. Sau đó thuật ngữ chuyên môn Agroforestry được ứng dụng rộng hơn và tập trung được các loại khoa học. Theo ICRAF (1997): “NLKH là một hệ thống quản lý đất đai có thể chấp nhận được để tăng khả năng sản xuất của nhiều loại sản phẩm kết hợp sản phẩm nông nghiệp, cây công nghiệp, cây rừng và gia súc (được tiến hành đồng thời và kế tiếp nhau) và áp dụng các biện pháp quản lý kỹ thuật thích hợp với trình độ văn hóa của nhân dân địa phương”.
Biện pháp nông lâm kết hợp là một hệ thống các biện pháp kỹ thuật tổng hợp bao gồm các biện pháp kỹ thuật lâm nghiệp, kỹ thuật nông LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 nghiệp,… được tiến hành trên một đơn vị diện tích đất đai nhằm đạt được những mục tiêu đã định sẵn và các sản phẩm hàng hóa. Ngay khi định nghĩa này ra đời đã được chấp nhận rộng khắp thế giới. Vì vậy, từ những năm 1984 trở lại đây thì khái niệm “Nông lâm kết hợp” ít được nhắc đến trong các nghiên cứu mà thay vào đó là việc xác định các kiểu, loại hệ thống NLKH đã thành một chủ đề chính của các nghiên cứu. Việc xây dựng nên hệ thống NLKH trên những vùng những khu vực khác nhau có sự khác nhau về thành phần loài, phương thức trồng… một chút nhưng qua các nghiên cứu đó đã làm sáng tỏ đặc điểm của một hệ canh tác NLKH điển hình và có thể tóm tắt như sau: Hệ canh tác Taungya (Taungya system) là hệ canh tác được sử dụng sớm nhất ở Myanmar nó biểu thị cho phương thức du canh.
Hệ canh tác này được đặc trưng bởi sự kết hợp giữa việc trồng cây nông nghiệp và lâm nghiệp. Cây nông nghiệp được trồng trong giai đoạn đầu của trồng rừng, khi cây rừng chưa khép tán người nông dân được phép trồng cây lương thực hoặc cây hàng hóa kết hợp với việc bảo vệ chăm sóc rừng. Việc kết hợp này chỉ có thể diễn ra trong vài năm đầu. Khái niệm Taungya ngày càng phát triển và ngày nay nó còn bao hàm cả tư tưởng của kỹ thuật sử dụng đất tổng hợp phục vụ phát triển nông thôn, miền núi.
Không chỉ sử dụng đất tạm thời khi chưa khép tán và giúp người nông dân xóa đói giảm nghèo mà nó còn tạo ra sự thay đổi để đảm bảo cho sự tham gia bình đẳng của người nông dân trong nền kinh tế lâm nghiệp sinh thái bền vững. Tuy nhiên hệ canh tác này đem lại hiệu quả kinh tế ban đầu cho người nông dân, nhưng ở những giai đoạn sau khi không còn trồng xen được cây nông nghiệp người dân không có thu nhập trước mắt nữa, đặc biệt trong các khu rừng phòng hộ đầu nguồn. Vì vậy hệ canh tác Taungya này vẫn chưa thực sự bền vững và lâu dài được. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Mô hình rừng rẫy luân canh có thể coi là phương thức duy trì hệ nông nghiệp sinh thái và quản lý rừng tự nhiên bền vững.
Trong canh tác nương rẫy truyền thống, giai đoạn bỏ hóa (Fallow) là rất quan trọng để phục hồi lại độ phì tự nhiên, tái tạo lại rừng đây cũng là thời kì bỏ hóa cho đất nghỉ. Đứng về mặt sinh thái thì bỏ hóa hoàn toàn hợp lý nếu thời gian bỏ hóa được duy trì (Moran,1981), đây là giai đoạn nghỉ canh tác nông nghiệp để rừng được phục hồi lại. Trong giai đoạn gần đây kỹ thuật làm giầu rừng (Enricher fallow) đã và đang được áp dụng rộng rãi và có thể chia hai phương án: Một là hữu canh làm giàu kinh tế, nghĩa là làm tăng giá trị kinh tế của thảm thực vật hữu canh bằng cách trồng thêm các loài cây có giá trị hàng hóa và cây lương thực thực phẩm khác. Chẳng hạn mô hình trồng mây ở Luangan Dayaks của (Weistock, 1984), trồng cây gỗ đa mục đích trên ruộng bậc thang ở Ifugao Phippin (Conklin, 1980).
Hai là giai đoạn hữu canh làm giàu sinh học, nghĩa là tăng khả năng cải tạo đất của thảm thực vật hữu canh bằng các cây cải tạo đất. Việc thực hiện mô hình trồng rừng rẫy luân canh với các cây nương rẫy tạo ra không lớn, và giữ lại những mảnh rừng xung quanh để làm nguồn gieo giống, người sử dụng đã và đang tích cực điều khiển quá trình tái sinh của rừng theo đúng quy luật (Clarker, 1976; Gomerez, 1972) [15]. Trồng theo băng (Alley cropping) là kỹ thuật canh tác NLKH trong đó cây họ đậu cố định đạm mọc nhanh được trồng thành hàng theo đường đồng mức, giữa hai hàng cây này người ta canh tác nông nghiệp. Kỹ thuật canh tác này được nghiên cứu tại Viện nông nghiệp nhiệt đới quốc tế Ibanda (Wilsol và Kang, 1980) [30].
Hệ canh tác này cung cấp gỗ củi, thức ăn gia súc và nguồn phân xanh để nâng cao độ phì cho đất và tăng năng suất cây trồng.