MỞ ĐẦU Ngày nay, thế giới đang đứng trƣớc nguy cơ khủng hoảng năng lƣợng trầm trọng. Theo dự báo của các nhà khoa học trên thế giới, nguồn năng lƣợng từ các sản phẩm hoá thạch dầu mỏ sẽ bị cạn kiệt trong vòng 40- 50 năm nữa. Để ổn định và đảm bảo an ninh năng lƣợng đáp ứng cho nhu cầu con ngƣời cũng nhƣ các ngành công nghiệp, các nhà khoa học đang tập trung nghiên cứu tìm ra những nguồn nhiên liệu mới, trong đó nghiên cứu phát triển nhiên liệu sinh học có nguồn gốc từ sinh khối động, thực vật là một hƣớng đi có thể tạo ra nguồn nhiên liệu thay thế phần nào nguồn nhiên liệu hoá thạch đang cạn kiệt, đảm bảo an ninh năng lƣợng cho từng quốc gia. Sử dụng nhiên liệu sinh học có những ƣu điểm nhƣ giảm thiểu ô nhiễm khí thải độc hại từ động cơ, tiết kiệm nguồn nhiên liệu hóa thạch dầu mỏ, tăng hiệu suất của động cơ, mặt khác nhiên liệu sinh học khi thải vào đất có tốc độ phân hủy sinh học cao nhanh hơn gấp 4 lần so với nhiên liệu hóa thạch.
Etanol sinh học (Bio-Etanol) là một loại nhiên liệu sinh học, đƣợc sản xuất chủ yếu bằng phƣơng pháp lên men và chƣng cất các loại ngũ cốc chứa tinh bột có thể chuyển hóa thành đƣờng đơn, thƣờng đƣợc sản xuất từ các loại cây nông nghiệp hàm lƣợng đƣờng cao nhƣ ngô (ở Mỹ), lúa mì, lúa mạch, mía (ở Brazil). Ngoài ra, Etanol sinh học còn đƣợc sản xuất từ cây cỏ có chứa hợp chất cellulose. Etanol từ cellulose đã đƣợc sản xuất thành công và đƣa vào sử dụng làm nhiên liệu ở nhiều nƣớc trên thế giới. Hiện nay, việc sản xuất Etanol từ các loại cây lƣơng thực đang gây ra sự lo ngại về vấn đề an ninh lƣơng thực trên thế giới.
Chính vì vậy, thế giới đang đi theo hƣớng sản xuất Etanol từ các nguyên liệu chứa hợp chất cellulose. Việt Nam là một quốc gia nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài tảo, bèo tây. Trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu ứng dụng khả năng hấp thụ kim loại nặng của bèo tây để làm sạch môi trƣờng nƣớc mặt. Bên cạnh đó, bèo tây cũng đã Phạm Công Minh K15 Cao học Môi trƣờng Trang 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu khả năng chuyển đổi bèo tây thành cồn sinh học đƣợc nghiên cứu trong lĩnh vực sản xuất Etanol sinh học.
Dựa vào thành phần hóa học của bèo tây chủ yếu là cellulose và hemicellulose, qua quá trình thủy phân và lên men nhờ vi sinh vật, chuyển hoá cellulose trong bèo tây thành Etanol sinh học. Với những ƣu điểm nhƣ rẻ tiền, phổ biến và có khả năng phát triển rất nhanh, bèo tây sẽ là một nguồn nguyên liệu tiềm năng trong quá trình nghiên cứu sản xuất Etanol sinh học. Chính vì ý nghĩa thiết thực đó, luận văn đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu khả năng chuyển đổi bèo tây (Eichnoria) thành Etanol sinh ho ̣c” Để đạt đƣợc mục tiêu nêu trên, đề tài đã tiến hành các nội dung nghiên cứu sau: - Nghiên cứu một số điều kiện tối ƣu trong quá trình thủy phân bèo tây thành đƣờng đơn bằng tác nhân hóa học. - Xác định hàm lƣợng Etanol tạo ra sau quá trình lên men bởi vi khuẩn Klebsiella oxytoca THLC0109, phân lập từ quá trình ủ phân cừu và cỏ Napiergrass khô.
- Đề xuất quy trình sản xuất Etanol từ bèo tây và xây dựng kịch bản áp dụng cho một thủy vực thiên nhiên. Phạm Công Minh K15 Cao học Môi trƣờng Trang 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu khả năng chuyển đổi bèo tây thành cồn sinh học CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sinh khối và nhiên liệu sinh học 1.1 Khái niệm Sinh khối (SK) là các vật liệu hữu cơ có nguồn gốc từ sinh vật có khả năng tái tạo nhƣ cây cối, phân gia súc… SK đƣợc xem là một phần của chu trình cacbon trong tự nhiên. Cacbon từ khí quyển đƣợc biến đổi thành vật chất sinh học qua quá trình quang hợp của thực vật. Khi phân giải hoặc đốt cháy, cacbon quay trở lại khí quyển hoặc đất.
Vì vậy cacbon khí quyển đƣợc giữ ở mức tƣơng đối ổn định. Các vật liệu hữu cơ đƣợc tạo thành bởi các quá trình địa chất tạo than đá, dầu mỏ, khí thiên nhiên không đƣợc gọi là SK. Nhiên liệu hoá thạch có nguồn gốc SK trong thời cổ xƣa đƣợc xem là đã nằm ngoài chu trình cacbon từ rất lâu.Việc đốt cháy chúng làm hàm lƣợng CO2 trong khí quyển mất ổn định. Nhiên liệu sinh học (NLSH) là loại nhiên liệu có nguồn gốc từ SK - có thể là từ các sinh vật sống hoặc sản phẩm phụ từ quá trình chuyển hóa của chúng (ví dụ nhƣ phân gia súc).
Chúng thuộc loại năng lƣợng tái tạo hoàn toàn khác với các loại năng lƣợng khác nhƣ hóa thạch, hạt nhân. Các dạng nhiên liệu sinh học Nhiên liệu sinh học đƣợc sử dụng ở 03 dạng chính sau [40]: - Dạng rắn (SK rắn dễ cháy): củi, gỗ và than bùn. - Dạng lỏng: Các chế phẩm dạng lỏng nhận đƣợc trong quá trình chế biến vật liệu nguồn gốc sinh học nhƣ: + Cồn sinh học - các loại cồn có nguồn gốc sinh học, ví dụ: Etanol sinh học từ đƣờng mía, ngô đang đƣợc sử dụng làm nhiên liệu hoặc phụ gia pha xăng tại Braxin, Mỹ và một vài nƣớc khác; mEtanol sinh học (hiện đang đƣợc sản xuất chủ yếu từ khí tự nhiên, song có thể đi từ SK). Phạm Công Minh K15 Cao học Môi trƣờng Trang 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu khả năng chuyển đổi bèo tây thành cồn sinh học + Dầu mỡ các loại nguồn gốc sinh học: diezel sinh học (Biodiezel) - sản phẩm chuyển hóa ester từ mỡ động vật hoặc dầu thực vật; Phenol và các loại dung môi, dầu nhựa thu đƣợc trong quá trình nhiệt phân gỗ, v.v… - Dạng khí: Metan thu đƣợc từ quá trình phân hủy tự nhiên các loại phân, chất thải nông nghiệp hoặc rác thải - Biogas; Hydro thu đƣợc nhờ cracking hyđrocacbon, khí hóa các hợp chất chứa cacbon hoặc phân ly nƣớc bằng dòng điện hay thông qua quá trình quang hóa dƣới tác dụng của một số vi sinh vật; các sản phẩm khí khác từ quá trình nhiệt phân và khí hóa SK (các loại khí cháy thu đƣợc trong quá trình nhiệt phân gỗ).
Những lợi ích khi sử dụng nhiên liệu sinh học Sử dụng NLSH sẽ giảm thiểu ô nhiễm và khí nhà kính NLSH đƣợc sản xuất từ SK, là loại vật liệu xuất phát từ sinh vật (chủ yếu là thực vật) và là một phần trong chu trình cacbon ngắn. CO2 mà cây hấp thụ từ không khí qua quá trình quang hợp sẽ quay trở lại bầu khí quyển khi chúng đã bị chuyển hóa thành năng lƣợng. Để có thể coi đó là nguồn năng lƣợng tái tạo thì ít nhất kho sinh khối đó phải đƣợc duy trì không thay đổi. Bởi vì trong chu trình không có lƣợng CO2 thừa và NLSH chạy xe phát tán ngƣợc trở lại nên NLSH có thể đƣợc coi là yếu tố "cân bằng về mặt môi trƣờng" thuộc chu trình.
Hiện nay, hàng năm toàn thế giới phát thải khoảng 25 tỷ tấn khí độc hại và khí nhà kính. Nồng độ khí CO2, loại khí nhà kính chủ yếu, tăng trên 30% so với thời kỳ tiền công nghiệp (từ 280 ppm tăng lên 360 ppm), nhiệt độ trái đất tăng 0,2- 0,40C. Nếu không có giải pháp tích cực, nồng độ khí nhà kính có thể tăng đến 400 ppm vào năm 2050 và 500 ppm vào cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ trái đất tăng thêm 2-40C, gây ra hậu quả khôn lƣờng về môi trƣờng sống. Sử dụng NLSH so với xăng dầu khoáng giảm đƣợc 70% khí CO2 và 30% khí độc hại, do NLSH chứa một lƣợng cực nhỏ lƣu huỳnh, chứa 11% Phạm Công Minh K15 Cao học Môi trƣờng Trang 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu khả năng chuyển đổi bèo tây thành cồn sinh học oxy, nên cháy sạch hơn.
NLSH phân huỷ sinh học nhanh, ít gây ô nhiễm nguồn nƣớc và đất. Sử dụng NLSH sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp Ngành kinh tế nông nghiệp ngoài chức năng cung cấp lƣơng thực thực phẩm, nguyên liệu công nghiệp, giờ đây có thêm chức năng cung cấp năng lƣợng sạch cho xã hội, đóng góp vào việc giảm thiểu khí nhà kính và khí độc hại. Đặc biệt, khi phát triển NLSH có thể sử dụng các giống cây có dầu, chẳng hạn nhƣ J. Curcas trồng trên các vùng đất hoang hoá hoặc đang sử dụng kém hiệu quả, giúp nâng cao hiệu quả sử dụng đất.[18] Kỹ thuật và kinh tế năng lượng Sản xuất và sử dụng NLSH đơn giản hơn so với các dạng nhiên liệu hyđrô /pin nhiên liệu.
Khi sử dụng E20, B20 không cần cải biến động cơ, sử dụng đƣợc cho các loại ôtô hiện có, cũng không cần thay đổi hệ thống tồn chứa và phân phối hiện có. NLSH và nhiên liệu khoáng có thể dùng lẫn với nhau đƣợc. Công nghệ sản xuất NLSH không phức tạp, có thể sản xuất ở quy mô nhỏ (hộ gia đình) đến quy mô lớn. Sự tiêu hao nhiên liệu, công suất động cơ tƣơng tự nhƣ dùng xăng dầu khoáng.
Nhiều công trình nghiên cứu về cân bằng năng lƣợng đã cho thấy: Từ 1 đơn vị năng lƣợng dầu mỏ sản xuất đƣợc 0,87 đơn vị năng lƣợng xăng, hoặc 1,02 đơn vị năng lƣợng ETBE, hoặc 2,05 đơn vị năng lƣợng Etanol. Từ 1 đơn vị năng lƣợng dầu mỏ (dùng để cày bừa, trồng trọt, chăm sóc, vận chuyển đến chế biến) sẽ tạo ra 1,2 đơn vị năng lƣợng NLSH. Nếu kể thêm các sản phẩm phụ (bã thải, sản phẩm phụ) thì tạo ra 2-3 đơn vị NLSH. Nhƣ vậy, cân bằng năng lƣợng đầu ra so với đầu vào là dƣơng.
Hiện tại, giá NLSH còn cao do sản xuất nhỏ, giá nguyên liệu cao. Khi sản xuất quy mô lớn với công nghệ mới sẽ giảm giá thành. Nếu xăng dầu không bù giá thì NLSH có giá thành thấp hơn. Có thể khẳng định, NLSH sẽ đem đến đa lợi ích.
Phạm Công Minh K15 Cao học Môi trƣờng Trang 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu khả năng chuyển đổi bèo tây thành cồn sinh học 1. Etanol sinh học 1. Tính chất lý hoá học của Etanol a. Tính chất lý học Etanol hay rƣợu Etylic là một chất lỏng, không màu, mùi thơm dễ chịu, vị cay, nhẹ hơn nƣớc (khối lƣợng riêng 0,7936 g/ml ở 150C), sôi ở nhiệt độ 78,390C, hóa rắn ở -114,150C, tan trong nƣớc vô hạn.
Độ nhớt của Etanol là 1,200 cP ở 20°C b.