Chương 1: Cơ sở lý luận 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 2: Câu nhượng bộ trong tác phẩm "Báu vật của đời" của bản tiếng Việt Chương 3: Cách chuyển dịch câu nhượng bộ từ tiếng Việt sang tiếng Hán. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. Câu nhƣợng bộ tiếng Việt và những vấn đề liên quan 1. Khái niệm câu nhượng bộ Câu nhượng bộ là một kiểu câu rất phổ biến, tần số xuất hiện rất cao tồn tại trong hầu hết các ngôn ngữ.
Đã có nhiều định nghĩa về câu nhượng bộ. Câu nhượng bộ là một kết cấu phức hợp bao gồm 2 mệnh đề: một mệnh đề chính và một mệnh đề phụ chỉ điều kiện. Câu nhượng bộ là một kiểu câu vừa cơ bản vừa quan trọng trong ngôn ngữ tự nhiên, nó tồn tại hầu hết các ngôn ngữ như tiếng Hy Lạp cổ đại, tiếng Latin, tiếng Hán, tiếng Việt và nhiều thứ tiếng khác nữa. Theo ngữ pháp truyền thống, đây là những câu phức mà cấu tạo gồm hai mệnh đề.
Để làm rõ hơn khái niệm cũng như các vấn đề chung liên quan đến câu nhượng bộ, chúng tôi đã tham khảo rất nhiều ý kiến khác nhau của các tác giả và thống nhất sử dụng quan điểm về khái niệm câu nhượng bộ của Diệp Quang Ban. Theo tác giả Diệp Quang Ban, câu nhượng bộ là loại câu ghép. Để làm rõ khái niệm câu nhượng bộ, chúng tôi xin bắt đầu từ câu ghép. Khái niệm câu ghép: ―câu ghép là câu do hai (hoặc hơn hai) câu đơn kết hợp với nhau theo kiểu không câu nào bao chứa câu nào, mỗi câu đơn 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong câu ghép tự nó thoả mãn định nghĩa về câu.
Có thể dùng tên gọi ―dạng câu‖ hay ―vế câu‖ để chỉ câu nằm trong câu ghép‖ Phân loại câu ghép: a. Câu ghép chính phụ: Là câu ghép có quan hệ ngữ pháp không bình đẳng, thường gọi là quan hệ chính phụ, hay quan hệ phụ thuộc giữa hai vế câu, vế phụ phụ thuộc vào vế chính. Vế phụ là vế chứa quan hệ từ phụ thuộc, quan hệ phụ thuộc đưa vế phụ vào câu. Câu ghép chính phụ thường được phân loại thành những loại nhỏ như sau: 1.
Câu ghép nguyên nhân 2. Câu ghép điều kiện/giả thiết 3. Câu ghép nhượng bộ 4. Câu ghép mục đích b.
Câu ghép đẳng lập: Là câu ghép trong đó quan hệ ngữ pháp giữa các vế câu là ngang hàng nhau, không vế nào phụ thuộc vào vế nào. Câu ghép đẳng lập được phân thành các tiểu loại như sau: 1. Câu ghép liên hợp (dùng quan hệ từ liên hợp) 2. Câu ghép tương liên (dùng cặp phó từ, đại từ hô ứng) 3.
Câu ghép tiếp liên (không dùng quan hệ từ và cặp từ hô ứng) Như vậy, câu nhượng bộ thuộc câu ghép chính phụ, chính vì nó mang đầy đủ tính chất của câu ghép và câu ghép chính phụ. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khái niệm câu nhượng bộ được tác giả Diệp Quang Ban đưa ra trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt như sau: ― Câu ghép nhượng bộ là câu ghép chính phụ mà ở đầu, vế phụ có chứa các quan hệ từ diễn đạt quan hệ nhượng bộ như: tuy, mặc dầu, dù, thà.‖ Ví dụ: Tuy tôi đã nói nhiều lần, nhưng nó vẫn không nghe lời. 我虽然说了几遍,但他还是听不下去。 Một số điểm cần chú ý: + Trong kiểu câu này, vế phụ đứng trước vế chính thì sẽ tạo ra quan hệ nhân nhượng như ví dụ trên. + Nếu trật tự thay đổi ngược lại, tức là vế chính đứng trước thì sẽ tạo ra quan hệ sự việc – nhượng bộ, và trong trường hợp này không được dùng từ ―nhưng‖ đứng đầu vế chính nữa.
Ví dụ nếu vế chính được đưa lên trước vế phụ thì câu sẽ có dạng: Nó không nói gì, tuy rằng nó biết rất rõ. Tình hình nghiên cứu câu nhượng bộ trong tiếng Việt Trong lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ, đã có rất nhiêu tác giả đã đề cập đến vấn đề câu nhượng bộ, các mức độ nông sâu của các nghiên cứu cũng không giống nhau. Sau đây chúng tôi xin điểm một số công trình nghiên cứu về câu nhượng bộ. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hoàng Tuệ đã nêu ra kết cấu ―dầu P thì Q‖ là kiểu kết cấu của những câu phức hợp có quan hệ phụ thuộc nhượng bộ.
Và đưa ra nghĩa P và Q là hai mệnh đề với hai kết cấu Đề - Thuyết.[16] Hoàng Trọng Phiến(1980) sắp xếp câu nhượng bộ qua cách thể hiện quan điểm về ngữ nghĩa của các liên từ ―tuy‖ và ―mặc dù‖. Ông viết ―mặc dù.‖ chỉ là giả thiết, điểu kiện và một tình hình nào đó, ―.‖ không phải là giả thiết mà là sự thực.[19] Nguyễn Kim Thản(1997) xếp câu có liên từ ―tuy‖, ―dù‖, ―mặc dù‖ vào loại câu nhượng bộ. Ngoài ra ông chú ý thêm những vị từ tình thái đi kèm với các liên từ chỉ sự nhượng bộ như ―vẫn‖, ―cũng‖.[23] Nguyễn Tài Cẩn(1999) chỉ ra trong câu nhượng bộ, nếu vế phụ đứng trước vế chính thì tạo ra quan hệ ―nhượng bộ - tương phản‖, ngược lại khi vế phụ đứng sau vế chính thì tạo ra quan hệ ―sự việc - nhượng bộ‖, trong trường hợp này, vế chính không sử dụng liên từ ―nhưng‖, ―mà‖. Trong câu nhượng bộ thông thường thì vế chính đứng sau vế phụ, nhưng trong một số trường hợp đặc biệt, chịu hạn chế của ngữ ảnh và để biểu đạt chức năng, vế chính cũng có thể đứng trước vế phụ.[7] Diệp Quang Ban(2000) xếp câu nhượng bộ vào câu ghép chính phụ.
Dù anh có xấu xa cỡ nào, tôi vẫn yêu anh. 不管你有多坏,我依然爱你。(nhượng bộ-tương phản) b. Tôi vẫn quyết định ra đi, dù mọi người đã can ngăn. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 我还是决定离开,虽然大家极力劝阻。(sự việc-nhượng bộ) 1.
Phân loại câu nhượng bộ tiếng Việt Nguyễn Chí Hòa dựa vào vị từ đã chia câu nhƣợng bộ thành 3 loại: a. Vế phụ đứng đầu: Mặc dầu tôi đã hết sức mình, nhưng cũng không cứu được người đó. 纵使我已费尽全力,但也救不了那个人。 b. Vế phụ đứng giữa: Trông thấy chồng con thế dầu có ruột gan là sắt cũng phải đau đớn.
看到丈夫和孩子这样,哪怕肝肠是铁也会心疼。 c. Vế phụ đứng cuối: Cô ta định sinh thêm đứa nữa, dù đã có ba đứa con. 她打算再多生一个,虽然她已经有三个小孩。 Hồ Lê (Cú pháp tiếng Việt) phân loại nhƣ sau: Hồ Lê căn cứ vào tiêu chí nội dung của điều kiện và tính chất của mối quan hệ điều kiện-hệ quả để phân loại. Theo đó, có bốn kiểu nhưng trong đó có ba kiểu là cấu trúc nhượng bộ như bảng sau: Bảng 1.
bảng phân loại câu điều kiện của Hồ Lê Tiêu chí Phân loại Dạng thức của cấu trúc Điều kiện giả định Dù(cho). Nội dung của điều kiện Điều kiện hiện thực Tuy. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tính chất của mối quan Điều kiện thuận hệ hệ điều kiện-hệ quả quả(không phải cấu Vì. trúc nhượng bộ) Điều kiện nghịch hệ Tuy.
quả Căn cứ bảng trên ta thấy cấu trúc nhượng bộ có điều kiện giả định và điều kiện hiện thực đều thuộc cấu trúc nhượng bộ có điều kiện nghịch hệ quả. Kết hợp hai tiêu chí nội dung của điều kiện và tính chất của mối quan hệ điều kiện nghịch hệ quả ta thấy theo quan điểm của Hồ Lê thì cấu trúc nhượng bộ có hai loại: 1. Cấu trúc nhượng bộ có điều kiện giả định nghịch với hệ quả: dù cho. Cấu trúc nhượng bộ có điều kiện hiện thực nghịch với hệ quả: mặc dù.nhưng, tuy.
Nguyễn Đức Dân phân loại nhƣ sau: Nguyễn Đức Dân gọi câu nhượng bộ là cấu trúc nghịch nhân quả. Xuất phát từ tiêu chí trạng thái của các đối tượng xảy ra theo thứ tự thời gian được đề cập đến cấu trúc nhượng bộ, ông phân cấu trúc nghịch nhân quả làm hai loại: cấu trúc nghịch nhân quả sớm và cấu trúc nghịch nhân quả muộn. Cụ thể như bảng dưới đây: Bảng 1. Bảng tổng hợp các dạng cấu trúc nghịch nhân quả của Nguyễn Đức Dân 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Loại Kiểu Dạng thức của cấu trúc Giải thích 1 Tuy X còn A nhưng (mà) Y đã D Đối tượng X còn ở trạng thái A nhưng đối tượng Y đã chuyển sang trạng thái D.
Sở dĩ có ý nghĩa 2 Tuy X mới A nhưng (mà) Y đã D này là do sự Cấu trúc kết hợp của nghịch nhân liên từ chỉ quả sớm nhượng bộ và kết cấu ―còn.‖ Đối tượng X chưa sang 3 Tuy X chưa A nhưng (mà) Y đã D trạng thái A nhưng đối tượng Y đã 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chuyển sang trạng thái D nhờ sự kiện liên kết giữa cấu trúc nhượng bộ với kết cấu ―chưa.‖ Đối tượng X đã chuyển sang trạng thái A nhưng đối tượng Y Tuy X đã A nhưng (mà) Y vẫn vẫn còn ở 4 (còn) D trạng thái D nhờ sự kiện liên kết giữa cấu trúc nhượng bộ với kết cấu 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.‖ Đối tượng X đã chuyển sang trạng thái A nhưng đối tượng Y vẫn còn chưa sang trạng Tuy X đã A nhưng (mà) Y vẫn 5 thái D nhờ sự (còn) chưa D kiện liên kết giữa cấu trúc nhượng bộ với kết cấu ―đã.‖ theo quy luật thông thường Sự kiện B tất cấu trúc yếu sẽ xảy ra nghịch nhân 6 Dù/Dầu A nhưng (mà) vẫn B cho dù sự quả muộn kiện A là yếu tố cản trở. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sự kiện B tất yếu sẽ xảy ra cho dù sự kiện A là yếu 7 Mặc dù A nhưng (mà) vẫn B tố cản trở. Sự kiện A và B đ ều đã xảy ra. Trong bảng trên đây, X và Y có thể là cùng một đối tượng hoặc cũng có thể là hai đối tượng.
Nguyễn Vân Phổ phân loại nhƣ sau: Kế thừa các thành tựu nghiên cứu về cấu trúc nhượng bộ của các nhà Việt ngữ và ngữ học nước ngoài một cách có chọn lọc, Nguyễn Vân Phổ đã có cách phân loại cấu trúc nhượng bộ với hai dạng: - Cấu trúc nhượng bộ ―Mặc dù P, Q‖ - Cấu trúc điều kiện-nhượng bộ ―Dù P thìQ‖ 1. Cơ sở lý luận của câu nhƣợng bộ tiếng Hán 1.1 Khái niệm câu ghép nhượng bộ tiếng Hán Khái niệm câu ghép được Vương Ứng Vỹ ―Văn pháp tiếng Hán thực dụng‖ (1920) đưa ra, ông cho rằng bất kỳ 2 câu đơn trở lên nào ghép với nhau đều tạo thành câu ghép. Người đầu tiên đưa ra khái niệm chính xác nhất là Lưu 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phục, trong cuốn ―Ngữ pháp tiếng Trung‖ (1920) chỉ ra rằng: ―Bất kỳ hai hoặc 2 phân câu hợp thành câu gọi là câu ghép‖, những câu không có hình thức như thế là câu đơn.