NCKH: Đổi mới chương trình, SGK Lịch sử THCS-THPT qua thực tiễn tại TPHCM

Đề tài nghiên cứu chương trình và SGK Lịch sử cải cách cấp THCS, THPT. Phân tích ưu, nhược điểm qua khảo sát thực tiễn dạy học tại TPHCM.

Chuyên ngành

Lịch sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề tài nghiên cứu khoa học

2001

203
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Lý do và tầm quan trọng của nghiên cứu chương trình SGK Lịch sử

Trong bối cảnh đổi mới công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, giáo dục phổ thông là nền tảng của sự nghiệp giáo dục quốc dân. Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả chương trình và sách giáo khoa vẫn còn nhiều yếu kém. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã chỉ rõ nội dung giáo dục vừa thừa vừa thiếu, chưa gắn với cuộc sống thực tiễn. Đặc biệt, sách giáo khoa các môn khoa học xã hội và nhân văn, nhất là lịch sử dân tộc, cần được cải cách đổi mới để đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội. Do đó, nghiên cứu chương trình SGK Lịch sử THCS & THPT trở thành nhiệm vụ cấp thiết của ngành giáo dục.

1.1. Tình hình hiện tại của chương trình lịch sử

Chương trình lịch sử hiện hành được soạn thảo cách đây 25 năm với nội dung hầu như không thay đổi. Nội dung vừa thiếu vừa thừa, thiếu về lý thuyết nhưng nhẹ về rèn luyện kỹ năng thực hành. Sách giáo khoa lịch sử chưa gắn với thực tiễn cuộc sống, không cập nhật với tiến bộ của khoa học và công nghệ hiện đại.

1.2. Yêu cầu đổi mới từ Đảng và Nhà nước

Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành yêu cầu loại bỏ nội dung không thiết thực, bổ sung nội dung cần thiết, đảm bảo kiến thức cơ bản và cập nhật với khoa học. Cần tăng cường giáo dục về lịch sử dân tộc, địa lý và văn hóa Việt Nam để giáo dục chính trị - tư tưởng hiệu quả hơn.

II. Mục đích và phạm vi nghiên cứu SGK Lịch sử cải cách

Mục đích chính của đề tài là vạch rõ những thành công và điểm mạnh cũng như những thiếu sót của chương trình và sách giáo khoa hiện hành bộ môn lịch sử ở cấp THCS và THPT. Trên cơ sở đó, sẽ đề xuất phương hướng đổi mới chương trình SGK Lịch sử phù hợp với yêu cầu phát triển xã hội. Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình xây dựng chương trình, các nguyên tắc biên soạn sách giáo khoa dựa trên nội dung chương trình, và thực tiễn dạy học lịch sử tại các trường phổ thông Việt Nam, đặc biệt là tại thành phố Hồ Chí Minh.

2.1. Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu

Đề tài nhằm phân tích sâu nội dung và phương pháp biên soạn của chương trình lịch sử cải cách. Xác định những ưu điểm và hạn chế của sách giáo khoa hiện hành so với yêu cầu thực tiễn dạy học. Từ đó, đề xuất những cải tiến và bổ sung cần thiết cho chương trình và sách giáo khoa bộ môn lịch sử.

2.2. Phạm vi khảo sát thực tiễn

Nghiên cứu tập trung khảo sát thực tiễn dạy học tại TP. Hồ Chí Minh, nơi có đặc thù về phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu giáo dục đặc biệt. Dự kiến thu thập dữ liệu từ các trường THCS và THPT, phỏng vấn giáo viên lịch sử và tìm hiểu phản hồi của học sinh về chất lượng sách giáo khoa lịch sử hiện tại.

III. Nội dung chính của chương trình lịch sử THCS THPT cải cách

Chương trình lịch sử cải cách được xây dựng dựa trên các nguyên tắc: đảm bảo kiến thức cơ bản về lịch sử Việt Nam và thế giới, gắn với thực tiễn đời sống hiện đại, phát triển năng lực tư duy lịch sử cho học sinh. Nội dung được chia thành các chuyên đề về lịch sử dân tộc Việt Nam, lịch sử thế giới, và địa lý nhân văn liên quan. Sách giáo khoa lịch sử cần cập nhật những sự kiện lịch sử quan trọng của thế kỷ XX, những bài học lịch sử cho thời đại hiện nay. Phương pháp biên soạn sách giáo khoa phải tăng cường các yếu tố tương tác, câu hỏi gợi mở, và bài tập thực hành để phát triển kỹ năng phân tích và tổng hợp thông tin lịch sử.

3.1. Cấu trúc nội dung chương trình lịch sử cấp THCS

Chương trình lịch sử THCS bao gồm lịch sử Việt Nam từ thời cổ đại đến hiện đại, và lịch sử thế giới những nước láng giềng. Sách giáo khoa cần nhấn mạnh những bài học lịch sử về độc lập, tự do, và sự thống nhất dân tộc. Tăng cường các bài học về truyền thống văn hóa Việtvai trò của nhân dân trong lịch sử.

3.2. Cấu trúc nội dung chương trình lịch sử cấp THPT

Chương trình lịch sử THPT sâu rộng hơn, bao gồm lịch sử Việt Nam từ những chế độ cũ đến thời đại Hồ Chí Minh, lịch sử thế giới hiện đại. Sách giáo khoa THPT cần cung cấp kiến thức chuyên sâu, phân tích những xu hướng lịch sửảnh hưởng của các sự kiện lịch sử đến phát triển xã hội hiện nay.

IV. Hướng đổi mới chương trình và sách giáo khoa lịch sử

Để nâng cao chất lượng giáo dục lịch sử, cần cập nhật nội dung chương trình lịch sử với các sự kiện lịch sử thế kỷ XX và XXI. Sách giáo khoa lịch sử phải sử dụng phương pháp dạy học hiện đại, kết hợp lý thuyết và thực hành, tăng cường kỹ năng tư duy phản biện của học sinh. Cần loại bỏ nội dung lạc hậu, bổ sung kiến thức về công nghệ, khoa học ảnh hưởng đến lịch sử. Sách giáo khoa nên có hình ảnh, tài liệu lịch sử, và câu hỏi khuyến khích học sinh suy ngẫm. Việc đổi mới phương pháp dạy lịch sử cần hướng đến giáo dục công dân có ý thức lịch sử, hiểu và tôn trọng truyền thống dân tộc, đồng thời có tầm nhìn toàn cầu.

4.1. Đổi mới nội dung và phương pháp biên soạn sách giáo khoa

Sách giáo khoa lịch sử mới cần cập nhật những phát hiện lịch sử gần đây, loại bỏ những nội dung lỗi thời hoặc thiển cận. Phương pháp biên soạn phải gắn lịch sử với cuộc sống thực tế, sử dụng tài liệu lịch sử phong phú (hình ảnh, tư liệu, nhân chứng). Bài tập và câu hỏi trong sách giáo khoa cần khuyến khích học sinh phân tích, so sánh các sự kiện lịch sử.

4.2. Cải thiện chất lượng giáo dục lịch sử toàn diện

Cần đào tạo giáo viên lịch sử về phương pháp dạy học mớinội dung chương trình cập nhật. Tài liệu hỗ trợ dạy học phải đa dạng và dễ tiếp cận. Thiết lập hệ thống đánh giá học sinh dựa trên khả năng tư duy lịch sử chứ không chỉ ghi nhớ sự kiện. Khuyến khích học sinh tìm tòi và nghiên cứu lịch sử địa phương để tăng sự liên kết với thực tiễn.

18/12/2025
Đề tài nghiên cứu khoa học nghiên cứu chương trình và sách giáo khoa cải cách của bộ môn lịch sử ở trường trung học cơ sở và trung học phổ thông khảo sát qua thực tiễn dạy học tại thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho cuộc cải cách giáo dục lan thứ ba. Văn kiên này chứa đựng những quan điểm cơ bản nhất, trọng yếu nhất để chỉ đạo cuộc CCGD : - _ Về mục tiêu giáo dục, bản Nghị quyết nêu rõ : "Lam tốt việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ ngay từ tuổi ấu thơ cho đến lúc trưởng thành, nhằm tạo ra cơ sở ban đầu rất quan trong của con người Việt Nam mới, người lao động làm chủ tập thể (nhấn mạnh của nhóm nghiên cứu) và phát triển toàn diện, kế tục sự nghiệp cách mang của nhân dân ta, hết lòng lao động xây dưng CNXH, sẵn sàng chiến dau bảo vệ tổ quốc" (5). - Về mục tiêu và quy mô phát triển giáo dục, bản Nghị quyết viết : "Thực hiện phổ cập giáo dục trong toàn dân, góp phan xây dựng quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao déng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành 3 cuộc cach mạng "(5), và : "Đào tạo và bồi dường với qui mô ngày càng lớn dội ngũ lao đông mới, có phẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng, có trình độ khoa học, kỹ thuật và quản lý phù hợp với yêu cầu phân công lao động xã hội" (5) - Về nguyên lý giáo dục, bản nghị quyết nhấn mạnh : "Phải làm cho công tác giáo dục thấu suốt hơn nữa nguyên lý học di đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội" (5). - "Về nội dung giáo dục, cải cách là nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tạo ra những lớp người lao động mới làm chủ tập thể, đò súc gánh vác sự nghiệp xây dựng CNXH của nhân dan ta.

Cấn tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê Nin, lý tưởng công sản chủ nghĩa, dường lối và chính sách của Đảng, những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và đạo đức mới của người lao động làm chủ tập thể, di đôi với việc bồi dưỡng lý luận cách mạng, xây dựng thế giới quan khoa hec va nhân sinh quan CSCN, can bồi dưỡng cho thế hệ trẻ tình cảm cách mang và nếp sống vẫn minh trong các mối quan hệ gia đình, xã hội, người với người, cá nhân với tap thể, công dân với tổ quốc. Công tác giáo dục chính trị và tư tưởng của nhà trường XHCN phải tiến hành thông qua tất cả các hoạt động giáo dục gắn học tập lý luận với hành động thực tién, coi trọng hơn nữa vai trò của văn học nghệ thuật trong việc giáo dục tư tưởng và tình cảm cách mạng. Cân hiện đại hóa một cách vững chắc chương trình học tập văn hóa, khoa học kỹ thuật. Chọn lọc có hệ thống những kiến thức cơ bản, hiện đại, những kiến thức sát với thực tế Việt Nam làm cho vốn văn hóa, khoa học kỹ thuật giảng day ở nhà trường có tác dụng thực sự trong việc hình thành thế giới quan khoa học, phát triển tư duy khoa học, phát triển năng lực hành động của học sinh" (5).

- "Vẻ phương pháp giáo dục : Cải cách là nhằm thực hiện tốt việc kết hợp hữu cơ quá trình giáo dục con người với quả trình cải tạo xã hội và cải tạo tự nhiên, phát huy ý thức làm chủ tập thể, tính tự giác chủ đông, trí thông minh Sáng tao, tình cảm trong sáng, thói quen lành mạnh của học sinh trong học tập và rèn luyện"(5). Vai Nghị quyết của Bộ Chính trị về Cải cách giáo dục, quan điểm chủ dao cuộc cải cách đã được trình bày rô rang và day đủ trên những nét lớn. Theo đó, mục dich trọng tâm của su nghiệp giáo dục là đào tao những người lao động làm chủ tập thể, dap ứng yêu cẩu của *3 cuộc cách mạng" trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội (cách mang khoa học - kỹ thuật, cách mạng quan hệ sản xuất và cách mạng văn hóa tư tưởng) theo cơ chế hiện hành lúc đó. Trên cơ sở Nghị quyết của Đảng, Hội đồng Bộ trưởng đã ra Quyết định về Hệ thống Giáo duc phổ thông mới, đưa cuộc Cải cách giáo duc vào thuc tiễn tử năm 1980.

Hệ thống này được chia làm hai bậc : - Bac phổ thông cơ sở (PTCS) gồm 2 cấp là PTCS cấp | ttừ lớp 1 đến lớp 5) và PTCS cấp II (từ lớp 6 đến lớp 9). - Bắc Phổ thông trung hoc (PTTH) tức là trường PT cấp Il củ (từ lớp 10 đến lớp 12). Để triển khai và phổ biến rong rãi vé cuộc cải cách giáo dục, năm 1982 Bộ Giáo dục (thông qua Nhà xuất bản Giáo Dục) đã xuất bản cuốn "Hệ thống giáo dục phổ thông mới" của Hoàng Ngọc Di. Đây không phải là một văn bản chỉ 10 thị của Bộ, mà được giới thiêu như là một công trình khoa học.

Dựa vào kết quả nghiên cứu trong ngành, sách này giải thích lý do của việc sắp xếp lại hệ thống giáo dục phổ thông là nhằm nhanh chóng phổ cập trình độ PTCS (cấp II) và nâng cao chất lượng của bậc PTTH (cấp III). Sách cũng trình bay và di sâu phân tích các vấn dé cơ bản, chủ yếu và cụ thể của việc CCGD Phổ thong: mục tiêu cấp học, nguyên tắc xây dựng chương trình, cơ sở xác định nôi dung môn hoc. Do đó có thể coi sách này là một tài liệu chính thức của Bộ giáo dục. Mọi lập luận của sách đều dựa trên điểu kiện của đất nước theo cơ chế quan liêu bao cấp.

Vì thế khi cơ chế này không còn nữa thì mọi vấn dé phải dat lại. Để cụ thể hóa một số quan điểm chỉ đạo của Đảng và Hội đồng Bộ trưởng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đương thời là Giáo sư tiến sĩ Pham Minh Hạc đã trình bày tại TP. HO Chí Minh năm 1985 một bản báo cáo nhan dé "Phương hướng và Mục tiêu chiến lược phát triển Giảo dục Mẫu giáo, Phổ thông và Bổ túc Văn hóa từ 1985 đến 2000. Báo cáo khẳng định một số những quan điểm chung : - "Giáo dục là bộ phận trọng yếu của sự nghiệp CMXHCN, toàn bộ hoạt động giáo dục tham gia cài cách và xây dựng, củng cố và phát triển QHSX XHCN,giáo dục là một khâu trong quy trình khoa học - đào tạo kỹ thuật - sản xuất, hệ thống giáo dục có tam quan trọng hàng đầu trong su nghiệp xây dựng nền văn hóa mới, con người mới" (6).

- "Giáo dục phổ thống là nền tang văn hóa của đất nước, là sức mạnh tương lai của dẫn tộc. Nơi xây dựng cho thế hé trẻ cơ sở vửng chắc để phát triển toàn diện nhân cách XHCN và năng lực làm chủ tập thể XHCN , chuẩn bị lực lượng lao động xã hội, tao nguồn bổ sung cho giai cấp công nhân, đào tạo cán bộ và nhân tài cho sự nghiệp xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa khoa học kỹ thuật và tăng cưởng quyền lực quốc phỏng" (6). - "Giáo dục phổ thông có nội dung giáo dục toàn diện, bao gồm đức dục, trí dục, thé dục, thẩm mỹ và giáo dục lao động, thông qua nguyên lý học di đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gan liên với xã hội, chú trọng thực hiện tốt yêu cầu giáo dục về chính trị tư tưởng, về văn hóa khoa hoc kỹ thuật và về nghề nghiệp" (6): - "Bồi dưỡng cho học sinh cả về mặt quan điểm, phương pháp, kiến thức kỹ năng dảm bảo tính chất cơ bản, hiện đại, Việt Nam, thiết thực của học vấn phổ thông nhằm tạo diéu kiện cho học sinh ra trường có thể sống và làm việc tốt cho đất nước, cho cách mạng và có khả năng vươn lên không ngừng" (6). Đây là văn kiện chính thức của Bộ chủ quản quán triệt Nghị quyết trên của Bộ Chính trị, có tính đến những đặc điểm mới phát sinh của 6 năm sau đó và vạch ra phương 11 hướng, dài hạn 15 năm cho ngành giáo dục.

Tuy nhiên, văn kiện này không ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác dịnh mục tiêu đào tạo và xây dựng chương trình của trường phổ thông đã được xác định trước đó. Hơn nữa đây là văn kiện cuối cùng của ngành giáo dục dưới cơ chế quan liêu bao cấp. Chỉ một năm sau, đất nước bước vào công cuộc đổi mới toàn diện theo cơ chế thị trường và văn kiện này đã bị thực tiễn vượt qua. Đường lối đổi mới giáo dục phổ thông 2.1 Hoàn cảnh Từ 1979 đến 1985, dúng trong thời gian đang triển khai cuộc cải cách giáo dục, đất nước ta gap rất nhiều khó khăn cả về kinh tế, xã hội, chính trị và lâm vào một cuộc khủng hoảng thực sự.

Cơ chế quan liêu bao cấp đã bộc lô những yếu tố tiêu cực khiến lực lượng sản xuất không thể phát triển mạnh, đời sống nhân dân trở nên hết sức khó khăn. Vi vậy mà "sự nghiệp giáo dục - đào tao đang gap phải những khó khăn rất lớn. Quy mô giáo dục - đào tạo đang có chiéu hướng bị thu hẹp, chất lượng giáo dục - đào tao, cơ sở vật chất của các trường hoc sút kém ở nhiều nơi." (7) Để dua dat nước phát triển theo con đường đúng đắn của quy luật khách quan nhằm thoát khỏi cuộc khủng hoảng, Đại hội lần thứ VỊ (năm 1986) của Dang Công Sản Việt Nam đã vạch ra đường lối đổi mới đất nước. Phương hướng chung là xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở 5 thành phần kinh tế (kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tự bản nhà nước, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế cá thể), mở cửa để hôi nhập với thế giới bên ngoài.

Công việc đổi mới đưa nước ta vào một giai đoạn phát triển mới đòi hỏi ngành giáo dục phải đáp ứng những yêu cầu của giai đoạn mới đó.2 Đường lối đổi mới giáo dục phổ thông Công cuộc đổi mới đất nước đã buộc ngành giáo dục phải đổi mới ngay khi cuộc cải cách giáo dục dang thực hiện giữa chừng. Tất cả các vấn để cơ bản như vị trí, vai trò, nguyên lý, phương châm, hệ thống tổ chức, mục tiêu đào tao, chế độ chính sách. đều phải được đổi mới cho phù hợp với cơ chế mới của đất nước. Trước hết, Bộ Giáo dục thực hiện việc điều chỉnh CCGD bằng cuốn "Quy định vẻ Mục tiêu và Kế hoạch dao tạo của trường Phổ thông Trung hoc’, cong bố vào tháng 4 - 1990.

Văn kiện pháp quy này nêu rõ việc phan ban ở bậc 12 PTTH.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ