Tổng quan nghiên cứu

Nhu cầu tiêu dùng nông sản an toàn ngày càng gia tăng tạo động lực mạnh mẽ cho quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại các địa phương miền núi phía Bắc. Tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình, tổng diện tích canh tác rau năm 2018 đạt 641 ha, trong đó cây bí xanh khẳng định vị thế chủ lực với quy mô 195 ha, chiếm tỷ trọng 30,4% tổng diện tích rau toàn huyện. Vùng sản xuất tập trung chủ yếu tại 3 xã trọng điểm gồm Độc Lập, Dân Hạ và Yên Quang, mang lại nguồn sinh kế quan trọng cho các hộ nông dân với mức thu nhập thuần đạt khoảng 4,2 triệu đồng/sào, vượt trội so với các loại cây lương thực ngắn ngày truyền thống.

Tuy nhiên, chuỗi giá trị bí xanh tại địa phương đang đối mặt với nhiều rào cản mang tính hệ thống. Hoạt động sản xuất còn phân tán, kỹ thuật canh tác chưa đồng đều, mối liên kết dọc giữa người trồng và các khâu phân phối còn lỏng lẻo, trong khi việc tiêu thụ phụ thuộc lớn vào tư thương ngoại tỉnh. Hơn nữa, sự biến động khó lường của thời tiết và sâu bệnh khiến năng suất bấp bênh, gia tăng rủi ro tài chính cho người sản xuất.

Trước thực tế đó, đề tài tập trung đánh giá toàn diện thực trạng vận hành, lượng hóa chi phí, giá trị gia tăng và sự phân chia lợi nhuận giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị bí xanh tại huyện Kỳ Sơn giai đoạn 2016 - 2018. Trên cơ sở phân tích các yếu tố tác động, nghiên cứu đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cấp chuỗi, nâng cao năng lực cạnh tranh và khai thác hiệu quả hơn 1.100 ha đất có tiềm năng phát triển rau của huyện, tương đương 5,5% tổng diện tích tự nhiên, góp phần thúc đẩy kinh tế nông nghiệp địa phương phát triển bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng đồng bộ hệ thống lý thuyết về chuỗi giá trị nhằm làm sáng tỏ cơ chế vận hành của ngành hàng bí xanh. Trọng tâm lý luận dựa trên khung phân tích chuỗi giá trị của Raphael Kaplinsky và Mike Morris, tiếp cận chuỗi theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ chuỗi hoạt động từ cung ứng đầu vào, sản xuất, thu gom, vận chuyển, bán buôn, bán lẻ đến người tiêu dùng cuối cùng. Cách tiếp cận này được bổ trợ bởi phương pháp phân tích chuỗi Filière do Peter Raikes cùng các cộng sự phát triển để theo dõi dòng chuyển dịch vật chất, kết hợp với lý thuyết lợi thế cạnh tranh của Michael Porter và khung phân tích chuỗi giá trị toàn cầu của tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức GTZ.

Hệ thống khái niệm nghiên cứu tập trung vào 5 chỉ tiêu cốt lõi: Giá trị sản xuất (GO), Chi phí trung gian (IC), Giá trị gia tăng (VA = GO - IC), Lợi nhuận ròng và Thu nhập của tác nhân. Bên cạnh đó, nghiên cứu làm rõ hai hình thức liên kết: liên kết dọc giữa các mắt xích kế tiếp trong chuỗi nhằm giảm chi phí giao dịch và liên kết ngang giữa các hộ sản xuất nhằm gia tăng quy mô và vị thế đàm phán trên thị trường nông sản.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2016 - 2018 kết hợp dữ liệu sơ cấp thu thập trực tiếp trong niên vụ 2018. Cỡ mẫu điều tra bao gồm 120 phiếu khảo sát thực tế, phân bổ cụ thể: 90 hộ nông dân trồng bí xanh, 10 tác nhân thu gom, 7 đại lý bán buôn, 8 người bán lẻ cùng 5 cán bộ quản lý và khuyến nông địa phương. Về địa bàn, mẫu được phân bổ tại xã Độc Lập với 48 phiếu, xã Yên Quang 34 phiếu, xã Dân Hạ 23 phiếu và 15 phiếu dành cho các tác nhân ngoài địa bàn huyện.

Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên có điều kiện đối với các hộ có diện tích trồng bí xanh từ 200 m2 trở lên nhằm đảm bảo tính hàng hóa, kết hợp phân tầng theo địa bàn thâm canh lớn. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm chuyên dụng và phân tích thông qua phương pháp thống kê mô tả, thống kê so sánh kết hợp kiểm định T-test. Việc lựa chọn phương pháp phân tích kinh tế chuỗi giá trị của Kaplinsky và Morris kết hợp ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức SWOT giúp bóc tách chi tiết cơ cấu chi phí, lượng hóa chính xác dòng giá trị gia tăng và xác định những điểm nghẽn thể chế trong chuỗi phân phối bí xanh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu làm sáng tỏ bức tranh toàn cảnh về hiệu quả kinh tế và cấu trúc chuỗi giá trị bí xanh tại huyện Kỳ Sơn qua các chỉ số cụ thể:

Thứ nhất, cây bí xanh mang lại giá trị kinh tế nổi bật trong khâu sản xuất. Thu nhập thuần của người trồng bí đạt 2,76 triệu đồng trên 1 tấn sản phẩm, tương đương mức thu nhập bình quân khoảng 4,2 triệu đồng/sào. Hiệu quả kinh tế này cao hơn từ 3 đến 5 lần so với canh tác lúa và ngô truyền thống trên cùng một diện tích đất canh tác.

Thứ hai, chuỗi giá trị hình thành 3 kênh tiêu thụ chính nhưng có sự mất cân đối nghiêm trọng về thị phần. Kênh bán buôn đóng vai trò chủ đạo, tiêu thụ trên 90% tổng sản lượng bí xanh toàn huyện với quy mô diện tích 195 ha. Nông sản chủ yếu được xuất bán về các đô thị lớn như Hà Nội cách 80 km và thành phố Hòa Bình cách 10 km.

Thứ ba, tồn tại sự bất bình đẳng rõ nét trong phân phối lợi ích toàn chuỗi. Mặc dù hộ trồng bí xanh đạt thu nhập thuần trên 1 tấn sản phẩm cao hơn các trung gian, nhưng xét trên tổng thu nhập cả vụ, một thương lái bán buôn thu về mức lợi nhuận cao gấp 4,2 lần so với một hộ nông dân trực tiếp sản xuất do ưu thế về quy mô luân chuyển hàng hóa.

Thứ tư, hạ tầng phục vụ chuỗi còn nhiều điểm nghẽn. Tỷ lệ đường giao thông nội đồng được kiên cố hóa chỉ đạt 5,7%, tương ứng 3,57 km trên tổng số 62,4 km đường nội đồng toàn huyện. Hệ thống thủy lợi mới chỉ đáp ứng tưới tiêu cho 1.168 ha, tương đương 59,7% diện tích cây hàng năm, gây khó khăn lớn cho việc cơ giới hóa và vận chuyển sau thu hoạch.

Thảo luận kết quả

Sự phân hóa lợi nhuận trong chuỗi bắt nguồn từ việc nông dân thiếu phương tiện vận tải đường dài và hệ thống kho lạnh bảo quản, buộc phải bán nhanh tại ruộng khi vào chính vụ để tránh hư hỏng. Ngược lại, thương lái bán buôn chi phối giá mua nhờ nắm giữ mạng lưới phân phối và nguồn vốn lưu động lớn. Kết quả này hoàn toàn tương thích với các công trình nghiên cứu chuỗi giá trị nông sản tại Malawi và Mozambique của Takemore Chagomoka, cũng như dự án chuỗi giá trị rau an toàn miền Bắc do Metro Cash và Carry triển khai, khẳng định rằng tác nhân thương mại luôn nắm quyền lực điều phối cao nhất khi chuỗi chưa có hợp đồng liên kết chặt chẽ.

Về phương diện trực quan hóa dữ liệu học thuật, các kết quả tài chính này được mô hình hóa hiệu quả thông qua sơ đồ dòng sản phẩm, biểu đồ hình tròn thể hiện tỷ lệ 90% sản lượng qua kênh bán buôn, kết hợp biểu đồ cột phân tích chi tiết cơ cấu chi phí trung gian, giá trị gia tăng và lãi ròng của từng chủ thể. Điều này minh chứng cho sự cấp thiết phải hình thành các tổ chức liên kết ngang nhằm bảo vệ quyền lợi của người nông dân.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao giá trị gia tăng và tính bền vững của chuỗi giá trị bí xanh huyện Kỳ Sơn, hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất:

Một là, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật canh tác và chuyển đổi giống chất lượng cao. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp cùng Trạm Khuyến nông huyện tổ chức tập huấn quy trình kỹ thuật VietGAP cho 100% hộ trồng bí tại 3 xã trọng điểm. Mục tiêu đặt ra là nâng cao năng suất thêm 15% đến 20%, mở rộng diện tích bí xanh đạt chuẩn an toàn lên 50 ha trong giai đoạn 2020 - 2022.

Hai là, nâng cấp hạ tầng giao thông nội đồng và hệ thống tưới tiêu. Ủy ban nhân dân huyện Kỳ Sơn cùng Phòng Kinh tế - Hạ tầng ưu tiên bố trí nguồn vốn ngân sách để nâng tỷ lệ bê tông hóa đường nội đồng từ 5,7% hiện nay lên mức 30% vào năm 2023. Đồng thời, kiên cố hóa hệ thống kênh mương nhằm bảo đảm năng lực tưới tiêu chủ động cho hơn 150 ha vùng chuyên canh bí tập trung.

Ba là, phát triển các hình thức liên kết ngang và hợp đồng bao tiêu sản phẩm. Hội Nông dân và Ủy ban nhân dân cấp xã chủ trì thành lập mới từ 3 đến 5 hợp tác xã chuyên ngành sản xuất bí xanh. Các hợp tác xã sẽ đại diện ký kết hợp đồng cung ứng trực tiếp với doanh nghiệp phân phối, phấn đấu nâng tỷ lệ sản lượng tiêu thụ qua hợp đồng chính thức đạt tối thiểu 40% vào năm 2022 nhằm giảm thiểu rủi ro ép giá.

Bốn là, xây dựng nhãn hiệu tập thể và xúc tiến thương mại mở rộng thị trường. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình hoàn tất hồ sơ đăng ký nhãn hiệu chứng nhận Bí xanh Kỳ Sơn trong vòng 12 đến 18 tháng. Đồng thời, tổ chức kết nối tiêu thụ vào ít nhất 10 hệ thống siêu thị và chuỗi bán lẻ thực phẩm sạch tại thị trường Hà Nội.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ hoạch định chính sách nông nghiệp. Kết quả nghiên cứu về diện tích 195 ha và thực trạng hạ tầng cung cấp luận cứ khoa học để xây dựng đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp huyện Kỳ Sơn, bố trí ngân sách kiên cố hóa giao thông thủy lợi và ban hành chính sách hỗ trợ hợp tác xã theo Nghị định 98/2018/NĐ-CP.

Thứ hai, các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế và Kinh tế nông nghiệp. Công trình là tài liệu tham khảo chuẩn mực về việc áp dụng khung phân tích chuỗi giá trị của Kaplinsky và Morris, quy trình khảo sát 120 mẫu thực địa và phương pháp lượng hóa giá trị gia tăng trong nông nghiệp.

Thứ ba, ban giám đốc hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến, phân phối nông sản. Bức tranh tài chính chi tiết về chi phí trung gian và giá bán buôn giúp doanh nghiệp thiết kế mô hình liên kết bao tiêu 40% sản lượng, tối ưu hóa chi phí thu gom và tiếp cận thị trường tiêu dùng bền vững.

Thứ tư, các hộ nông dân và chủ trang trại trồng rau hàng hóa. Tài liệu giúp bà con nắm vững định mức chi phí canh tác trên 1 ha, nhận diện cơ cấu lợi nhuận giữa các kênh tiêu thụ và chủ động tham gia các tổ hợp tác nhằm nâng cao năng lực đàm phán giá.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao cây bí xanh được xem là cây trồng chủ lực tại huyện Kỳ Sơn? Cây bí xanh chiếm 195 ha, tương đương 30,4% tổng diện tích rau toàn huyện năm 2018. Với mức thu nhập thuần đạt 4,2 triệu đồng/sào, cây bí xanh đem lại hiệu quả kinh tế cao gấp 3 đến 5 lần so với trồng lúa và ngô, đồng thời rất phù hợp với điều kiện đất đai bãi bồi ven sông Đà.

Tác nhân nào chiếm ưu thế lớn nhất về mặt thu nhập trong toàn bộ chuỗi giá trị? Mặc dù nông dân có thu nhập thuần trên 1 tấn sản phẩm là 2,76 triệu đồng, nhưng thương lái bán buôn mới là tác nhân có tổng thu nhập cao nhất trong cả vụ, gấp 4,2 lần người sản xuất nhờ luân chuyển khối lượng hàng hóa lớn phục vụ thị trường đô thị.

Nguyên nhân chính khiến chuỗi giá trị bí xanh Kỳ Sơn phụ thuộc trên 90% vào thương lái ngoại tỉnh là gì? Nguyên nhân chủ yếu do địa phương chưa xây dựng được các cơ sở bảo quản lạnh và chế biến sâu, trong khi mối liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp tiêu thụ chưa thành hình. Do đó, người trồng buộc phải bán tháo cho thương lái thu mua tại ruộng ngay sau thu hoạch.

Phương pháp nào được sử dụng để lượng hóa giá trị gia tăng trong luận văn? Luận văn áp dụng khung phân tích kinh tế chuỗi giá trị của Kaplinsky và Morris, xác định giá trị gia tăng bằng hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian (VA = GO - IC), kết hợp khảo sát 120 phiếu điều tra thực địa để tính toán chi tiết lợi nhuận từng mắt xích.

Đâu là giải pháp then chốt để nâng cao vị thế đàm phán cho hộ nông dân? Giải pháp cốt lõi là thành lập các tổ hợp tác và hợp tác xã để đại diện nông dân ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm với mục tiêu đạt 40% sản lượng, kết hợp hoàn thiện nhãn hiệu Bí xanh Kỳ Sơn nhằm trực tiếp đưa hàng vào các kênh siêu thị hiện đại.

Kết luận

Nghiên cứu chuỗi giá trị bí xanh tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình mang lại những đóng góp lý luận và thực tiễn sâu sắc:

  • Khẳng định vai trò kinh tế chiến lược của cây bí xanh với quy mô 195 ha, tạo nguồn thu nhập thuần vượt trội đạt 4,2 triệu đồng/sào cho nông dân địa phương.
  • Nhận diện chính xác điểm nghẽn của chuỗi khi kênh bán buôn chi phối hơn 90% sản lượng và thu nhập thương lái gấp 4,2 lần người sản xuất trong cả vụ.
  • Đóng góp bộ dữ liệu sơ cấp chuẩn xác từ 120 phiếu điều tra thực chứng, vận dụng sáng tạo khung phân tích Kaplinsky và Morris vào nông sản miền núi.
  • Đề ra lộ trình 4 giải pháp đồng bộ giai đoạn 2020 - 2025 về chuyển giao kỹ thuật VietGAP, nâng cấp hạ tầng giao thông thủy lợi và đăng ký nhãn hiệu tập thể.
  • Kêu gọi sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, hợp tác xã, doanh nghiệp bao tiêu và nhà khoa học nhằm tái cấu trúc chuỗi giá trị nông sản bền vững.