Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM Trước khi giải quyết nhiệm vụ chính ở chương 2 (Nghiên cứu và hệ thống hoá các chú giải văn học trung đại Việt Nam ở sách giáo khoa Ngữ văn THPT), luận văn thấy cần thiết phải trình bày nội hàm một số khái niệm lý thuyết có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như là khái niệm văn, khái niệm văn học chức năng và văn học nghệ thuật. Bởi đã có hiện tượng là một số nhà nghiên cứu và biên soạn sách giáo khoa đã xếp tác phẩm từ loại hình văn học này sang loại hình văn học khác (thí dụ: Coi một bài Kệ viết dưới hình thức một bài thơ là một bài thơ trữ tình) dẫn đến hậu quả là các chú giải và câu hỏi hướng dẫn học bài không phù hợp với bản chất loại hình của tác phẩm văn học đó. Tất nhiên việc làm như thế sẽ dẫn đến một hậu quả tiếp theo là việc giảng dạy của thầy và tiếp nhận tri thức của trò về mặt giá trị nội dung và nghệ thuật không chính xác. Xong trước khi trình bày những vấn đề lý luận nêu trên, để có cái nhìn khái quát về bước đi và diện mạo của văn học trung đại Việt Nam, chúng tôi sẽ trình bày ngắn ngọn quá trình phát triển của văn học viết trung đại Việt Nam và những đặc điểm cơ bản của nó.
Các giai đoạn phát triển của văn học trung đại Việt Nam. Giai đoạn từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIV. Văn học giai đoạn này phát triển trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt. Đó là dân tộc ta vừa giành được quyền độc lập tự chủ vào giữa thế kỷ X và lập 9 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn nhiều kỳ tích trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược (chống quân Tống ở thế XI – XII; chống quân Nguyên Mông ở thế kỷ XIII); sau những cuộc chiến tranh vệ quốc là công cuộc xây dựng đất nước trong hoà bình.
Chế độ phong kiến Việt Nam đang ở thời kì ổn định và phát triển. Giai đoạn văn học này có những bước ngoặt lớn. Trước hết là văn học viết chính thức ra đời ở thế kỷ X ( bài thơ sớm nhất là bài Quốc tộ – Đỗ Pháp Thuận) và tiếp đến là xuất hiện của văn học chữ Nôm ở thế kỷ XIII. Những bước ngoặt này mở ra sự phát triển mạnh mẽ của văn học dân tộc: Bên cạnh văn học dân gian đã có văn học thành văn, bên cạnh văn học chữ Hán đã có văn học chữ Nôm.
Giai đoạn từ thế kỷ XV đến hết thế kỷ XVIII. Đây là thời kì mà nhân dân ta tiếp tục lập lên những chiến công trong cuộc kháng chiến chống Minh ở thế kỷ XV, đưa chế độ phong kiến Việt Nam đạt đến cực thịnh ở cuối thế kỷ đó (dưới triều đại Lê Thánh Tông). Bước sang thế kỷ XVI, tuy chế độ phong kiến đã có những biểu hiện khủng hoảng dẫn đến nội chiến và đất nước bị chia cắt song nhìn chung tình hình xã hội vẫn tạm thời ổn định. Văn học giai đoạn này có bước phát triển mới, trong đó nổi bật nhất là những thành tựu nghệ thuật của văn học chữ Nôm (tiêu biểu là Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông; Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi; Bạch Vân quốc ngữ thi của Nguyễn Bỉnh Khiêm; Thiên Nam ngữ lục; các truyện Nôm…).
Hiện tượng văn - sử - triết bất phân khá đậm trong văn học Lý – Trần đã mờ dần từ thế kỷ XV, khi xuất hiện ngày càng nhiều tác phẩm giầu chất văn chương hình tượng. Giai đoạn từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX. Văn học giai đoạn này phát triển trong hoàn cảnh đất nước có nhiều biến động bởi nội chiến phong kiến dẫn đến sự khủng hoảng trầm trọng 10 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn của chế độ phong kiến và bão táp của phong trào nông dân khởi nghĩa mà đỉnh cao là khởi nghĩa Tây Sơn. Khởi nghĩa Tây Sơn cùng một lúc lật đổ các tập đoàn phong kiến thống trị ở trong nước cả đàng Trong và đàng Ngoài, đánh tan ngoại xâm ở phía Nam (quân Xiêm) và phía Bắc (quân Thanh).
Nhưng phong trào Tây Sơn suy yếu và thất bại. Triều Nguyễn thống nhất đất nước thiết lập một chế độ phong kiến quan liêu mới và đất nước đứng trước hiểm hoạ xâm lăng của chủ nghĩa thực dân Pháp. Ở giai đoạn này, văn học phát triển vượt bậc, có nhiều đỉnh cao nghệ thuật (Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm; Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều; Truyện Kiều của Nguyễn Du; thơ Nôm của Hồ Xuân Hương; Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác…). Đây là giai đoạn rực rỡ nhất của văn học trung đại Việt Nam vì nó vừa phong phú về mặt nội dung, vừa đa dạng về hình thức nghệ thuật.
Đây cũng là thời kì mà lần đầu tiên các thể loại văn học dân tộc ra đời như: Ngâm khúc; Truyện Nôm; Thơ ca trù - hát nói… 1. Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX. Năm 1858 thực dân Pháp nổ phát súng xâm lăng đầu tiên vào cảng Đà Nẵng và từng bước xâm lược Việt Nam. Nhân dân cả nước kiên cường đứng lên chống giặc ngoại xâm, nhưng rồi đất nước dần dần rơi vào tay giặc và cuối cùng trở thành thuộc địa của thực dân Pháp.
Xã hội Việt Nam chuyển dần từ xã hội phong kiến sang xã hội thực dân nửa phong kiến. Văn hoá Nho giáo truyền thống ngày bị mai một; văn hoá phương Tây bắt đầu có những ảnh hưởng tới đời sống xã hội Việt Nam. Văn học yêu nước nửa cuối thế kỷ XIX phát triển rất phong phú và nhìn chung mang âm hưởng bi tráng. Ở giai đoạn văn học này, chữ Quốc ngữ (theo mẫu tự La Tinh) bắt đầu xuất hiện, nhưng văn học chữ Hán và 11 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn văn học chữ Nôm vẫn là chính.
Sáng tác văn học chủ yếu vẫn theo thể loại và thi pháp truyền thống (Hịch – Văn tế…). Tuy nhiên sự xuất hiện một số tác phẩm văn xuôi viết bằng chữ Quốc ngữ đã bước đầu đem đến cho văn học những nét mới theo xu hướng hiện đại hoá. Những đặc điểm cơ bản của văn học viết trung đại Việt Nam. Về những đặc điểm của văn học viết trung đại Việt Nam, chúng tôi thấy quan niệm của các nhà nghiên cứu như GS Lê Trí Viễn trong cuốn Quy luật phát triển của văn học trung đại Việt Nam và PGS – TS Nguyễn Đăng Na trong cuốn Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam là hoàn toàn chính xác.
Vì thế chúng tôi đã dựa vào đó, đồng thời có bổ sung thêm những suy nghĩ của mình. Tựu trung văn học trung đại Việt Nam có những đặc điểm sau: 1. Lấy văn học dân gian làm nền tảng. Văn học dân gian của các dân tộc bao giờ cũng là cơ sở cho văn học thành văn nảy sinh, phát triển.
Đặc biệt đối với Việt Nam thì điều này lại càng vô cùng quan trọng. Trải qua hơn 1000 năm Bắc thuộc, bọn xâm lược đã phá hoại tàn nhẫn truyền thống văn hiến Việt để phục vụ cho mưu đồ "Hán hoá" của chúng. Nhưng linh hồn Việt vẫn trường tồn và quật khởi để cuối cùng giành lại được độc lập vào giữa thế kỷ X. Có được sức mạnh kỳ diệu ấy là bởi dân tộc ta có truyền thống văn hiến lâu đời mà văn học dân gian chính là một trong những phương tiện bảo lưu gìn giữ.
Nhận thức được tầm quan trọng mang ý nghĩa sống còn này, nên sau khi giành được độc lập, nền văn học trẻ Việt Nam mới ra đời đã hướng ngay về cội nguồn, khai thác văn học dân gian, lấy văn học dân gian làm cơ sở để xây dựng truyền thống cho văn học viết. Có thể nói văn học dân gian là nguồn cung dồi dào về nội dung cũng như kinh nghiệm nghệ thuật 12 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn cho văn học viết trung đại Việt Nam trong suốt 10 thế kỷ hình thành và phát triển của nó. Chỉ cần đọc một số tác phẩm tiêu biểu của văn học trung đại qua các giai đoạn như: Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Thiền uyển tập anh ngữ lục… thời Lý – Trần; Quốc âm thi tập, Bạch vân quốc ngữ thi thời Lê – Mạc; Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc, Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương… ta sẽ thấy rất rõ điều đó. Tiếp thu có chọn lọc và sáng tạo tinh hoa văn hoá và văn học nước ngoài.
Trước khi bị đế quốc phong kiến phương Bắc thống trị (năm 111 trước công nguyên) nước ta hình như chưa có chữ viết (mặc dù có thuyết nói rằng người Việt thời cổ đã có chữ viết giống hình con nòng nọc gọi là chữ Khoa đẩu, nhưng cho đến nay giới khoa học vẫn chưa khẳng định được). Vì thế sau khi giành được độc lập người Việt đã dùng chữ Hán như một phương tiện văn hoá trong hoạt động giao tiếp xã hội cũng như trong sáng tác văn học. Tuy nhiên người Việt dùng chữ Hán theo cách riêng của mình và đây chính là điều kiện cho chúng ta dần tách khỏi phạm vi ảnh hưởng của văn hoá Hán. Trên cơ sở chữ Hán và bộ chữ Hán đọc theo âm Hán Việt, cha ông ta đã sáng chế ra loại văn tự dân tộc chủ yếu dùng để ghi âm tiếng Việt.
Đó là chữ Nôm - được coi là quốc ngữ thời đó. Từ thế kỷ XIII chữ Nôm được dùng để sáng tác văn học và cũng từ đó văn học trung đại Việt Nam song song tồn tại hai mảng sáng tác bằng hai loại ngôn ngữ văn tự, đó là: chữ Hán và chữ Nôm. Thời kì đầu (từ thế kỷ X đến thế kỷ XVII) mảng văn học chữ Hán chiếm ưu thế; thời kì sau, đặc biệt là cuối thế kỷ XVIII, ngược lại văn học chữ Nôm lại đóng vai trò chủ đạo, nhất là trong sáng tác thi ca, còn trong văn xuôi chủ yếu vẫn dùng chữ Hán. 13 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn Cuối thế kỷ XVIII do giao lưu với phương Tây, một loại hình văn tự ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự La Tinh ra đời.
Loại văn tự này dần dần thay thế loại văn tự Hán và Nôm trong giao tiếp xã hội và trong sáng tác văn học. Từ đây nền văn dân tộc có thêm mảng văn học sáng tác bằng chữ Quốc ngữ hiện đại và cho đến nay nó chiếm ưu thế tuyệt đối.