đặt vấn đề là phải phát huy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nƣớc Việt Nam, và mở rộng phạm vi thi đua yêu nƣớc ra tất cả các lĩnh vực sản xuất vật chất và tinh thần, cả trong lĩnh vực quân sự. Thi đua yêu nƣớc phù hợp trong các mạng dân tộc dân chủ nhân dân, mà còn hết sức phù hợp trong quá trình quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở nƣớc ta. Tại Khoản 1 Điều 3 Luật TĐKT quy định: “Thi đua là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt đƣợc thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [23; 1]. Nhƣ vậy có thể hiểu: Thi đua là hoạt động xã hội tự nguyện, có tổ chức của các cá nhân và tập thể diễn ra ở các ngành, các cấp, các lĩnh vực đời sống xã hội nhằm đạt kết quả cao nhất trong lao động sản xuất, học tập, công tác, đáp ứng nhu cầu chính đáng của con ngƣời, góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Khái niệm khen thưởng Khen là sự nhận xét đánh giá tốt về một cá nhân, tổ chức về việc nhất định với ý nghĩa hài lòng, thƣờng là tặng bằng hiện vật hoặc bằng tiền… Thƣởng là tặng, cho bằng hiện vật hoặc tiền. Nhƣ vậy, khen thƣởng là hình thức ghi nhận công lao, thành tích của cơ quan có thẩm quyền đối với cá nhân 15 và tập thể. Nó tồn tại song hành với sự tồn tại Nhà nƣớc, còn Nhà nƣớc là còn khen thƣởng. Khen thƣởng vừa có ý nghĩa động viên về tinh thần vừa khích lệ bằng vật chất.
Khen thƣởng đóng vai trò quan trọng, nó là động lực thúc đẩy xã hội phát triển, là một công cụ hữu ích đối với ngƣời quản lý, ngƣời đứng đầu tổ chức nhằm khuyến khích động viên mọi ngƣời tích cực, hăng hái, lập thành tích trong lao động sản xuất và công tác. Khen thƣởng là hình thức ghi nhận công lao, thành tích của cá nhân, tập thể bằng quyết định của cơ quan có thẩm quyền khen thƣởng, khen thƣởng là một vấn đề thuộc phạm trù khoa học xã hội, đƣợc hình thành phát sinh và tồn tại trong quá trình phát triển của con ngƣời, do đó khen thƣởng phải thể hiện quan điểm quần chúng, phải có trách nhiệm cao trong quá trình phát hiện nhân tố điển hình tiêu biểu trong phong trào thi đua để bình xét và đề nghị các cấp có thẩm quyền xem xét công nhận danh hiệu thi đua và bình xét khen thƣởng, khen thƣởng là khen bằng hiện vật với thành tích công lao của cá nhân, tập thể lập đƣợc thành tích trong phong trào thi đua. Luật thi đua, khen thƣởng số 16/VBHN-VPQH ngày 13 tháng 12 năm 2013 quy định: Khen thƣởng là việc ghi nhận, biểu dƣơng, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất với cá nhân, tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc [20;1]. Nhƣ vậy, khen thƣởng là hoạt động mang tính pháp lý của các tổ chức có thẩm quyền và của cơ quan nhà nƣớc và có quyết định khen thƣởng của các cơ quan, tổ chức này.
Cùng với việc ban hành quyết định khen thƣởng còn có sự cổ vũ, động viên bằng vật chất tƣơng ứng với mức độ cống hiến, công lao và theo quy định. Từ phân tích trên có thể đƣa ra khái niệm: khen thƣởng là hoạt động của các cơ quan, các tổ chức có thẩm quyền để ghi nhận, biểu dƣơng, tôn vinh công trạng, thành tích xuất sắc trong hoạt động của cá nhân, tập thể, góp phần thực hiện nhiệm vụ của đơn vị, địa phƣơng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 16 Khen thƣởng là một trong các hình thức tuyên dƣơng cho những cá nhân hay tập thể làm tốt, xuất sắc nhiệm vụ của mình. Hay cũng là một việc biểu dƣơng, tôn vinh công trạng khuyến khích có thể khen thƣởng bằng vật chất hay tinh thần, thƣờng là vật chất.
Ở mỗi nơi, đơn vị, các ngành nghề, đoàn thể thì lại có các hình thức khen thƣởng khác nhau tùy thuộc vào điều kiện, quá trình công tác mà ban thi đua đề ra các hình thức khen thƣởng khác nhau. Luật TĐKT quy định: “Khen thƣởng là việc ghi nhân, biểu dƣơng, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [23; 1]. Mục đích căn bản của khen thƣởng là khích lệ, khơi dậy một cách đúng đắn động cơ làm việc của mọi ngƣời, khiến cho họ coi việc thực hiện mục tiêu của tổ chứ cũng nhƣ thực hiện nhu cầu của bản thân, từ đó làm cho tích cực sáng tạo của họ tiếp tục đƣợc duy trì và phát huy, góp phần xây dựng con ngƣời mới xã hội chủ nghĩa. Trong khen thƣởng cũng phải đảm bảo các yêu cầu có tính nguyên tắc nhƣ công bằng, minh bạch, phải căn cứ vào thành tích, vào kết quả công việc để khen thƣởng xứng đáng, tránh thổi phồng hoặc tô vẽ thành tích.
Các mức khen thƣởng đề ra phải tính đến thực hiện để cán bộ, công chức, VC nỗ lực phấn đấu, có ý chí vƣơn lên để đạt đƣợc những điều mình mong muốn trong khả năng. Việc quá dễ dãi, xuề xòa hoặc thiếu nghiêm túc trong khen thƣởng, đề ra mức khen thƣởng không phù hợp, quá thấp hay quá hình thức sẽ làm cho cán bộ, công chức, VC, ngƣời lao động không muốn phấn đấu. Nhà nƣớc thực hiện khen thƣởng qua tổng kết thành tích các giai đoạn cách mạng, khen thƣởng theo công trạng và thành tích đạt đƣợc, khen thƣởng quá trình cống hiến và khen thƣởng đối ngoại. Nhƣ vậy khen thƣởng là hoạt động mang tính pháp lý của các tổ chức có thẩm quyền, cùng với việc ban hành quyết định khen thƣởng còn có sự cổ vũ, động viên bằng vật chất tƣơng ứng với mức độ cống hiến, công lao và đúng quy định 17 Từ phân tích trên có thể đƣa ra khái niệm: Khen thƣởng là hoạt động của các cơ quan, các tổ chức có thẩm quyền để ghi nhận, biểu dƣơng, tôn vinh công trạng, thành tích xuất sắc trong hoạt động của cá nhân, tập thể, góp phần thực hiện nhiệm vụ của đơn vị, địa phƣơng, góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Trong khen thƣởng phải kết hợp giữa khen thƣởng về mặt tinh thần với khen thƣởng về mặt vật chất. Hai yếu tố tinh thần và vật chất này phải đƣợc kết hợp chặt chẽ và phải đƣợc giải quyết thỏa đáng mới có tác dụng động viên khuyến khích cán bộ, công chức một cách toàn diện. Trong khen thƣởng không nên phiến diện, chỉ thiên lệch về mặt vật chất hoặc tinh thần. Trong thực tế việc thực hiện khen thƣởng, cần phải tuân thủ đƣợc các nguyên tắc, song phải biết vận dụng linh hoạt vào từng hoàn cảnh, con ngƣời cụ thể.
Để công tác khen thƣởng đƣợc thực hiện tốt, phát huy tác dụng tích cực còn cần phải phát huy cơ chế dân chủ, có sự tham gia của cán bộ, công chức; phải phát huy đƣợc sự nhìn nhận đánh giá công tâm của ngƣời làm công tác khen thƣởng. Một số hình thức khen thƣởng nhƣ: Giấy khen, Bằng khen, huân chƣơng, huy chƣơng, cờ thi đua của chính phủ, cờ thi đua cấp Bộ, ngành. Để nhận đƣợc những danh hiệu trên, đòi hỏi phải tuân theo đúng quy trình, thủ tục do pháp luật quy định. Nhà nƣớc cần có những quy định tiêu chuẩn cụ thể, rõ ràng về khen thƣởng đối với công chức để đảm bảo công tác khen thƣởng thực sự phát huy tác dụng, để công tác khen thƣởng thực sự trở thành công cụ đắc lực trong công cuộc xây dựng và phát triển đội ngũ nhân lực xuất sắc phục vụ cho quá trình cải cách hành chính, hội nhập quốc tế và phát triển đất nƣớc.
Chính sách thi đua, khen thưởng Khái niệm chính sách: Thuật ngữ chính sách sử dụng phổ biến trong đời sống xã hội, nhà nƣớc ở Việt Nam, trong Hiến pháp năm 2013 khi quy định về nhiệm vụ, quyền hạn 18 của các cơ quan nhà nƣớc quy định quyền ban hành chính sách của một số cơ quan nhà nƣớc. Ví dụ: Quốc hội: “Quyết định chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia” (Điều 70); Chính phủ “Đề xuất, xây dựng chính sách trình Quốc hội, Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều này” (Điều 96 Hiến pháp 2013). Tuy vậy, không có bất kỳ định nghĩa nào về chính sách. Trong thực tiễn việc sử dụng thuật ngữ này nhƣ là một sự ƣớc lệ: chúng ta đã nói, viết về các chính sách: chính sách đối với ngƣời có công với cách mạng; chính sách xóa đói giảm nghèo, chính sách ruộng đất, chính sách nông nghiệp phát triển nông thôn, chính sách giáo dục, chính sách tiền tệ, chính sách hình sự hóa, phi hình sự hóa, tội phạm hóa, phi tội phạm hóa, chính sách đối nội, đối ngoại v.v “Chính sách” là một khái niệm đƣợc sử dụng phổ biến trong các tài liệu, trên các phƣơng tiện thông tin, truyền thông và đời sống xã hội.
Theo từ điển tiếng anh (Oxford English Dictionary) “Chính sách” là một đƣờng lối hành động thông qua và theo đuổi bởi chính quyền, Đảng, nhà cai trị, chính khách…”. Theo Từ điển tiếng Việt “chính sách” đƣợc hiểu là “sách lƣợc và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đƣờng lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra chính sách…”. Chính sách là cơ sở nền tảng để chế định nên pháp luật. Hay nói cách khác, pháp luật là kết quả của sự thể chế hóa chính sách.
Có thể có chính sách chƣa đƣợc luật pháp hóa (thể chế hóa), hoặc cũng có thể không bao giờ đƣợc luật pháp hóa vì nó không đƣợc lựa chọn để luật pháp hóa khi không còn phù hợp với tƣ tƣởng mới hay sự thay đổi của thực tiễn. Nhƣng sẽ không có pháp luật phi chính sách hay pháp luật ngoài chính sách. Theo nghĩa đó, chính sách chính là linh hồn, là nội dung của pháp luật, còn pháp luật là hình thức, là phƣơng tiện thể hiện của chính sách khi nó đƣợc thừa nhận, đƣợc “nhào nặn” 19 bởi “bàn tay công quyền”, tức là đƣợc ban hành bởi nhà nƣớc theo một trình tự luật định. Chính sách luôn gắn liền với quyền lực chính trị, với đảng cầm quyền và với bộ máy quyền lực công – nhà nƣớc.
Chúng ta vẫn thƣờng nói đến một nguyên tắc của tổ chức thực thi quyền lực chính trị là “Đảng đề ra đƣờng lối, chính sách, Nhà nƣớc thể hóa đƣờng lối, chính sách của Đảng thành pháp luật”.