CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu nước ngoài Sirwan Lutfulah Abdulla et al. The Impact of The Change in Accounting Policy on Banking Credit in Light of The Financial Crisis. Tác động của việc thay đổi chính sách kế toán đối với tín dụng ngân hàng do khủng hoảng tài chính.
Chính sách kế toán được coi là một phần của kế hoạch chiến lược cho các tổ chức lao động nói chung và đặc biệt là các tổ chức tài chính. Do đó, điều quan trọng là phải được quan tâm để kiểm soát các hoạt động của tổ chức. Ý nghĩa của nghiên cứu này được đưa ra sau khi lựa chọn và thực hiện các chính sách kế toán hiện có tốt nhất bên trong các ngân hàng thương mại ở khu vực Kurdistan nhằm mục đích duy trì các khoản tín dụng của các ngân hàng và tình hình tài chính của họ trong thời kỳ khủng hoảng tài chính. Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu tác động của các chính sách kế toán có sẵn bên trong các ngân hàng thương mại của Khu vực Kurdistan đối với các quyết định tín dụng cho các công ty tìm kiếm tín dụng.
Sau đó xác định tầm quan trọng của việc theo dõi tín dụng sau khi cấp chúng để đạt được sự liên tục của khách hàng khi trả các khoản trả góp với lãi suất số tiền dựa trên các điều kiện của trái phiếu. Để đạt được điều này, 62 bảng câu hỏi đã được tạo ra và phân phối cho tổng giám đốc, trợ lý giám đốc, trưởng bộ phận, trưởng đơn vị và chính xác hơn là trưởng bộ phận kế toán và kiểm toán. Sau đó, dữ liệu được phân tích bởi SPSS 22 thông qua các công cụ thống kê và phân tích hồi quy. Nghiên cứu đã đạt được một số các kết quả như: các chính sách kế toán khả thi được thực hiện trong các ngân hàng như một cơ sở của các xử lý kế toán hoặc để điều chỉnh thông tin kế toán minh họa bên trong các báo cáo tài chính, một trong các chỉ số tín dụng của ngân hàng gọi là cấp tín dụng ngân hàng được xem là một trong những quyết định khó khăn nhất mà các ngân hàng chịu trách nhiệm về nó đặc biệt là trong cuộc khủng hoảng tài chính.
Cuối cùng, nghiên cứu kết luận với một số khuyến nghị, trước mắt là việc công khai chính sách kế toán vì nó ảnh hưởng tích cực đến quyết định tín dụng của ngân hàng. Sau đó là sự cần thiết của việc tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho cán bộ kế toán quản lý tài chính để sử dụng đúng chính sách kế toán. “Accounting for investment property determinants of accounting policy choice by portuguese listed firms”. Nghiên cứu này xem xét các yếu tố quyết định lựa chọn chính sách kế toán cho các công ty đầu tư bất động sản ở Bồ Đào Nha trong khuôn khổ của lý thuyết kế toán tích cực.
Các kết quả hỗ trợ giả thuyết nợ theo lý thuyết tích cực. Trong đó, các công ty có đòn bẩy tài chính cao làm tăng đáng kể xác suất hơn các công ty chọn mô hình giá trị hợp lý. Kết quả cũng cho thấy rằng kích thước và sự bất đối xứng thông tin tăng đáng kể xác xuất các công ty chọn mô hình hợp lý. Trong khi đó, tập trung quyền sở hữu tăng đáng kể xác suất các công ty chọn mô hình chi phí.
Nghiên cứu này cho thấy quyết định sử dụng phương pháp hợp lý dường như được hướng dẫn chủ yếu bỡi nhu cầu báo hiệu sức khỏe tài chính của công ty. Đặc biệt là khả năng vay bổ sung của nó để giảm sự bất cân xứng thông tin giữa thông tin và các nhà đầu tư bên ngoài. Tuy nhiên, kế hoạch vốn chủ sở hữu, kế hoạch thưởng, số lượng giảm đốc điều hành không nằm trên bảng dường như không thành vấn đề. “Bonus Plan and Income Smoothing on the Selection of Accounting Policy and Corporate Governance Determination Manufacturing Companies Listed on the Indonesian Stock”.
Kế hoạch tiền thưởng và làm tăng thu nhập khi lựa chọn chính sách kế toán và quản trị các công ty sản xuất được niêm yết trên chứng khoán Indonesia. Nghiên cứu này nhằm mục đích quan sát vai trò của quản trị công ty đối với kế hoạch tiền thưởng và cải thiện thu nhập cũng như quyết định các chính sách kế toán. Nhằm mục đích kiểm tra hiệu quả của kế hoạch thưởng và thu nhập ổn định về việc lựa chọn các chính sách kế toán. Phương pháp hồi quy logistic được sử dụng để xử lý dữ liệu từ các công ty sản xuất được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Indonesia trong giai đoạn 2013-2015 được lựa chọn bởi sơ đồ lấy mẫu có chủ đích.
Kết quả cho thấy rằng kế hoạch thưởng không ảnh hưởng đến việc lựa chọn kế toán các chính sách trong khi việc điều chỉnh thu nhập ảnh hưởng đến cách lựa chọn chính sách kế toán. Hơn nữa, công ty quản trị như một biến số điều tiết đã tác động đến kế hoạch tiền thưởng cho việc lựa chọn chính sách kế toán nhưng không ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa việc điều chỉnh thu nhập với việc lựa chọn các chính sách kế toán. Nghiên cứu cố gắng chứng minh ảnh hưởng của hoạt 6 động làm dịu thu nhập đối với việc lựa chọn chính sách kế toán bởi vì cho đến khi bây giờ không có nghiên cứu đã làm như vậy. Okpala, Kenneth Enoch (2016).
“Factors influencing accounting policy choices under IFRS in the Airline-GSA companies”. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán theo IFRS trong các công ty Hàng không-GSA. Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT trong các Công ty Đại lý bán hàng hàng không. Nghiên cứu sử dụng kích thước mẫu là 101 nhân viên cao cấp của 10 Công ty GSA.
Kết quả đã kết luận rằng quy mô của DN không ảnh hưởng đến lựa chọn CSKT. Mục tiêu thuế của công ty có mối quan hệ đáng kể với lựa chọn CSKT. Nghiên cứu này khằng định rằng các công ty không nên quá tập trung vào việc lựa chọn CSKT nhằm đạt mục tiêu về thuế mà nên tập trung vào lựa chọn CSKT nhằm nâng cao chất lượng thông tin của BCTC nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của các đối tượng sử dụng thông tin của DN. “Three types of accounting policies reflected in Finacial Statements.
Case study for Romania”. Ba loại chính sách kế toán được phản ánh trong báo cáo tài chính nghiên cứu ở Romania. Nghiên cứu cho rằng lựa chọn CSKT trong từng trường hợp cụ thể với những mục tiêu khác nhau sẽ tác động đến BCTC, nhằm phản ảnh tình hình sử dụng tài chính và hiệu quả hoạt động của DN, từ đó cung cấp thông tin cho người sử dụng ra quyết định kinh tế. Theo tác giả, việc lựa chọn CSKT là kết quả giữa mong muốn và kỳ vọng từ các nhà quản trị hay chủ đầu tư và sự tác động các chuẩn mực được ban hành cần tuân thủ.
Vì vậy thông tin phản ảnh trên BCTC không được xem là hoàn toàn trung thực hợp lý. Đối với việc lựa chọn CSKT, tác giả đưa ra ba mục tiêu gồm: điều chỉnh lợi nhuận kế toán trong kỳ, bảo tồn vốn dài hạn và tuân thủ các quy tắc kế toán cũng như quy định luật thuế. Nhìn chung nghiên cứu Marina Gurau góp phần làm rõ các phương pháp, hướng dẫn cụ thể lựa chọn CSKT nhằm đáp ứng các mục tiêu của DN. Szilveszter Fekete et al.
“Explaining Accounting Policy Choices of SME’s: An Empirical Research on the Evaluation Methods”. Giải thích các lựa chọn chính sách kế toán của doanh nghiệp SME’s: Nghiên cứu thực nghiệm về các phương pháp đánh giá. Nghiên cứu việc lựa chọn CSKT của các DNNVV tại Rumani. Szilveszter Fekete và cộng sự đã dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước 7 thực hiện phân tích nhân tố khám phá.
Kết quả có 6 nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT ở Rumani bao gồm: thông tin, thuế, sự tin cậy của các đối tượng bên ngoài DN, đáp ứng yêu cầu các đối tượng bên trong, chi phí, tính trung thực và hợp lý BCTC thu được từ phân tích nhân tố khám phá. Trong đó, nhân tố thông tin (chủ yếu là nhu cầu thông tin của nhà quản lý, cổ đông.) có ảnh hưởng mạnh nhất, tiếp theo là nhân tố thuế, các nhân tố còn lại ảnh hưởng ít. Có thể thấy, nghiên cứu này đã tập hợp khá đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT của DNNVV đã được khám phá trước đó. “Factors influencing a firm’s accounting policy decisions when tax accounting and financial accounting coincide”.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chính sách kế toán của công ty có phù hợp giữa kế toán thuế và kế toán tài chính. Nghiên cứu nhằm mục đích điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến các quyết định lựa chọn CSKT của các công ty hoạt động ở Hy Lạp. Thông qua một cuộc khảo sát các nhà quản lý tài chính của 200 công ty ở Hy Lạp để thu thập ý kiến của họ về tác động của báo cáo số liệu từ các bên liên quan và mức độ các công ty theo đuổi mục tiêu lợi nhuận. Qua cuộc khảo sát, sự lựa chọn CSKT chịu ảnh hưởng bởi nhận thức các bên liên quan, mục tiêu lợi nhuận, mục tiêu tối thiểu hóa nghĩa vụ thuế của DN tuy nhiên những mục tiêu này có thể không đồng nhất.
Tác giả đã ghi lại bằng chứng về mức độ mà DN muốn báo cáo lợi nhuận giảm (để giảm nghĩa vụ thuế) và mức độ DN muốn báo cáo lợi nhuận tăng (để tác động tích cực đến quyết định cho vay của ngân hàng, tránh vi phạm cam kết vay vốn hay tăng giá trị cổ phiếu của DN). Nghiên cứu này giúp các nhà nghiên cứu xác định các yếu tố hình thành CSKT của các DN hoạt động ở các nước có môi trường kinh tế tương tự như của Hy Lạp. Ngoài ra, những phát hiện của nghiên cứu này có thể tạo điều kiện cho các chuyên gia thực hiện phân tích tài chính quốc tế, góp phần giải thích các quyết định lựa chọn CSKT của các công ty Hy Lạp. Nghiên cứu này không những áp dụng cho các công ty hoạt động ở Hy Lạp, mà còn của các công ty ở các nước có môi trường kế toán tương tự như của Hy Lạp (ví dụ như các nước châu Âu).
Franck Missonier-Piera (2004). “Economic Determinants of Multiple Accounting Method Choices in a Swiss Context”. Các yếu tố quyết định kinh tế của nhiều lựa chọn phương pháp kế toán trong bối cảnh Thụy Sĩ.