Đặt vấn đề Rừng là nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo, có vai trò cực kì quan trọng đối với đời sống con ngƣời. Rừng mang lại nhiều giá trị sử dụng, trong đó có các giá trị sử dụng trực tiếp, các giá trị sử dụng gián tiếp, các giá trị để lại, các giá trị lựa chọn và các giá trị tồn tại. Tất cả các giá trị sử dụng kể trên mà rừng đem đã, đang và sẽ đƣợc con ngƣời sử dụng. Nhƣng một thực tế ở Việt Nam, giá trị về rừng mà ngƣời cung cấp đƣợc ngƣời sử dụng chi trả mới chỉ là các giá trị sử dụng trực tiếp nhƣ: Gỗ, củi, thuốc, nguồn gen, thực phẩm.còn các giá trị sử dụng khác, đặc biệt là giá trị kinh tế của các dịch vụ môi trƣờng và chức năng sinh thái mà rừng tạo ra nhƣ duy trì chất lƣợng nƣớc, giữ dòng chảy, điều tiết lũ lụt, kiểm soát xói mòn, phòng hộ đầu nguồn, hấp thụ các bon,… vẫn chƣa đƣợc ngƣời sử dụng đánh giá và chi trả cho bên cung cấp.
Dựa trên nguyên tắc ngƣời sử dụng phải trả tiền, việc chỉ đƣợc chi trả cho bên cung cấp các giá trị sử dụng trực tiếp mà chƣa coi trọng các giá trị sử dụng khác đã gây ra sự thiệt thòi lớn, không khuyến khích đƣợc bên cung cấp tham ra tích cực vào bảo vệ và phát triển rừng, việc cung cấp dịch vụ cũng không ổn định và bền vững. Nhƣ vậy, việc bên sử dụng dịch vụ chi trả cho bên cung cấp các giá trị sử dụng của rừng nhƣ là một đòi hỏi tất yếu, khách quan, hƣớng tới sự công bằng. Chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng (PFES) là một điển hình. Tại Việt Nam, Nghị định số 99/2010-NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng (nay là Nghị định 156/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật Lâm nghiệp) đánh dấu mốc cho việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng trên phạm vi cả nƣớc.
Việc thực hiện chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng bƣớc đầu đã đƣợc ngƣời dân đồng tình tình ủng hộ về chính sách, tuy nhiên còn bộc lộ những khó khăn trong khi triển khai, vì vậy hiệu quả của chính sách còn hạn chế. Huyện Văn Chấn-tỉnh Yên Bái trong những năm 2 qua đã và đang thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng cho các chủ rừng, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cƣ. Nhằm đánh giá đƣợc thực trạng công tác chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng tại Huyện Văn Chấn-tỉnh Yên Bái, chỉ ra những hạn chế và khó khăn từ đó đề xuất những giải pháp cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả chính sách góp phần bảo vệ phát triển rừng ngày tốt hơn. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, với nguyện vọng đóng góp một phần nhỏ của bản thân trong nghiên cứu khoa học về lĩnh vực chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng nói chung và giải pháp chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng tại Huyện Văn Chấn- tỉnh Yên Bái nói riêng, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả của Chính sách chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng (PFES) tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái” với mong muốn đƣa ra đƣợc các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách, từ đó góp phần vào sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng, nâng cao đời sống của nhân dân, xóa đói giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới tại huyện Văn Chấn.
Đề xuất đƣợc những giải pháp nâng cao hiệu quả của chính sách chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Ý nghĩa của đề tài 2. Ý nghĩa khoa học: Kết quả đề tài là nguồn tƣ liệu khoa học cho việc xây dựng và lập kế hoạch cũng nhƣ các giải pháp thực hiện chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng đạt hiệu quả tại khu vực nghiên cứu nói riêng và tỉnh Yên bái nói chung. Kết quả đề tài cũng là những tƣ liệu khoa học để cho sinh viên và học viên tham khảo trong lĩnh vực mới về chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng nói chung và của tỉnh Yên Bái nói riêng.
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp các nhà quản lý có cái nhìn toàn diện về ý nghĩa và vai trò của việc thực hiện chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng. Bên cạnh đó, 3 các nhà quản lý sẽ đánh giá một cách đúng đắn hơn về vai trò của cộng đồng dân cƣ trong việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp cộng đồng dân cƣ có nhận thức đúng đắn về vai trò và ý nghĩa của việc thực hiện chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng đối với đời sống kinh tế, xã hội gắn với bảo vệ và phát triển rừng của khu vực nghiên cứu. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Khái niệm chung về chi trả DVMTR 1. Khái niệm về DVMTR Dịch vụ môi trƣờng rừng là việc cung ứng và sử dụng bền vững các giá trị sử dụng của môi trƣờng rừng nhƣ điều tiết nguồn nƣớc, bảo vệ đất, chống bồi lắng lòng hồ, ngăn chặn lũ lụt, lũ quét, cảnh quan, đa dạng sinh học…. Trong đó, giá trị môi trƣờng rừng đƣợc hiểu là giá trị mà rừng làm lợi cho môi trƣờng, do bản thân các khu rừng tạo ra nhƣng không chỉ đƣợc sử dụng bởi những ngƣời quản lý, bảo vệ và phát triển rừng mà còn bởi toàn xã hội. Với việc xem xét đến các đến các dịch vụ môi trƣờng rừng thì các giá trị này đƣợc xem xét nhƣ một loại hàng hoá công cộng, có thể do cả xã hội sử dụng mà ngƣời làm rừng không quản lý và điều tiết đƣợc quá trình khai thác và sử dụng chúng.
Các loại dịch vụ môi trƣờng rừng đƣợc chi trả: - Dịch vụ điều tiết nƣớc và cung ứng nguồn nƣớc - Dịch vụ bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, chống bồi lắng lòng hộ - Dịch vụ về du lịch 1. Khái niệm chi trả DVMTR Chi trả dịch vụ môi trƣờng đƣợc xem là cơ chế nhằm thúc đẩy việc tạo ra và sử dụng các dịch vụ sinh thái bằng cách kết nối ngƣời cung cấp dịch vụ và ngƣời sử dụng dịch vụ môi trƣờng. “Chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng” (PFES) là quan hệ tài chính tƣơng đối mới trên thế giới, bắt nguồn từ quan điểm chính sách về “dịch vụ môi trƣờng”. Theo quan điểm này, các hệ sinh thái, trong đó có hệ sinh thái rừng, có vai trò cung cấp các dịch vụ có tác dụng không chỉ đảm bảo sự trong lành về môi trƣờng mà còn đảm bảo sản xuất và sức khỏe của con ngƣời, thông qua các tác động tích cực 5 và đa dạng nhƣ bảo vệ nguồn nƣớc, phòng hộ đầu nguồn, điều hòa khí hậu, phòng chống dịch bệnh, tạo điều kiện phát triển du lịch, văn hóa và cải tạo đất… “Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) là quá trình giao dịch tự nguyện đƣợc thực hiện bởi ít nhất một ngƣời mua và một ngƣời bán dịch vụ môi trƣờng rừng, khi và chỉ khi ngƣời bán đảm bảo cung cấp dịch vụ môi trƣờng rừng đó một cách hợp lý” [Wunder, 2005].
Thiết lập hoạt động chi trả DVMTR Chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng thực chất là một cơ chế chi trả dựa trên việc ngƣời sử dụng hay ngƣời cung cấp có đƣợc lợi ích từ các dịch vụ sinh thái. Cơ chế này cần có sự thiết lập rõ ràng để dựa trên các tiêu chí: - Tự nguyện trong giao dịch - Có ít nhất một ngƣời cung cấp dịch vụ - Có ít nhất một ngƣời mua dịch vụ - Nếu và chỉ với điều kiện là ngƣời cung cấp dịch vụ môi trƣờng phải đảm bảo việc cung cấp các dịch vụ môi trƣờng rừng (đáp ứng các điều kiện cung cấp dịch vụ môi trƣờng rừng). Dựa trên các tiêu chí này, hoạt động chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng đƣợc xây dựng theo ba bƣớc, bao gồm: 1/ Nhận dạng và xác định các dịch vụ môi trƣờng rừng 2/ Xem xét và định giá giá trị kinh tế của các dịch vụ môi trƣờng rừng. 3/ Thiết lập kế hoạch chi trả: Bao gồm xác định cách thức hoạt động chi trả, quản lý dòng tiền và tiến hành chi trả 1.
Nguyên tắc chi trả DVMTR Hai nguyên tắc cơ bản gồm: Tạo ra động lực tài chính hiệu quả, thúc đẩy cá nhân và cộng đồng cung cấp các dịch vụ môi trƣờng; Chi trả các chi phí cho việc cung cấp các dịch vụ của họ. Việc chi trả này có thể dƣới hình thức là tiền hoặc hiện vật [Wunder, 2005]. 6 Cụ thể hơn, đối với Việt Nam, chi trả cho dịch vụ môi trƣờng rừng đƣợc quy định tại Điều 6, Chƣơng I trong Nghị định 99/QĐ-TTg ngày 24/09/2010 của Thủ tƣớng Chính phủ nhƣ sau: (i) Việc chi trả tiền dịch vụ môi trƣờng rừng trực tiếp do ngƣời đƣợc chi trả và ngƣời phải chi trả thực hiện trên cơ sở hợp đồng thỏa thuận theo nguyên tắc thị trƣờng. (ii) Mức tiền chi trả sử dụng dịch vụ môi trƣờng rừng gián tiếp do Nhà nƣớc quy định, đƣợc công bố công khai và điều chỉnh khi cần thiết.
(iii) Các tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ môi trƣờng rừng phải chi trả tiền sử dụng dịch vụ cho ngƣời đƣợc chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng và không thay thế cho thuế tài nguyên nƣớc hoặc các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật. (iv) Đối với tổ chức kinh doanh, tiền chi trả cho việc sử dụng dịch vụ môi trƣờng rừng đƣợc tính vào giá thành sản phẩm của bên sử dụng dịch vụ môi trƣờng rừng. Trên cơ sở đó, chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng đƣợc thực hiện nhằm mục đích: - Tạo ra động lực tài chính hiệu quả thúc đẩy cá nhân và cộng đồng cung cấp các dịch vụ môi trƣờng rừng; - Chi trả các chi phí cho việc cung cấp các dịch vụ của họ. Việc chi trả này có thể dƣới hình thức là tiền hoặc hiện vật.
Cụ thể hơn, với việc chi trả cho dịch vụ môi trƣờng rừng, Điều 7 chƣơng I, Quyết định 380/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ quy định nhƣ sau: + Việc chi trả tiền dịch vụ môi trƣờng rừng trực tiếp do ngƣời đƣợc chi trả và ngƣời phải chi trả thực hiện trên cơ sở hợp đồng thoả thuận theo nguyên tắc thị trƣờng. + Mức tiền chi trả sử dụng dịch vụ môi trƣờng rừng gián tiếp do Nhà nƣớc quy định đƣợc công bố công khai và điều chỉnh khi cần thiết.