Phần mở đầu: Luận giải sự cần thiết của luận án, mục đích nghiên cứu, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án. Tổng quan vấn đề nghiên cứu. Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Kết luận, tồn tại, khuyến nghị: các kết luận rút ra từ kết quả nghiên cứu, nêu những hạn chế, tồn tại của luận án và các khuyến nghị về ứng dụng những kết quả nghiên cứu đã thu đƣợc và đề xuất hƣớng nghiên cứu tiếp theo nhằm khắc phục những tồn tại. Ngoài ra còn có hệ thống 27 bảng biểu, 11 hình, Tham khảo 65 tài liệu trong đó 46 tài liệu tiếng Việt, 19 tài liệu tiếng nƣớc ngoài, có liên quan đến chủ đề nghiên cứu và phần phụ lục gồm các bảng biểu minh họa kết quả điều tra và tính toán của luận án. 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Quản lý lâm nghiệp trên thế giới Tình hình tổ chức SXKD trong lĩnh vực lâm nghiệp trên thế giới đã đƣợc hình thành và phát triển từ những năm đầu của thời đại cách mạng công nghiệp.
Từ đó đến nay, các nhà lâm nghiệp đã xây dựng đƣợc những cơ chế, chính sách phù hợp với từng thời kỳ để đƣa lâm nghiệp trở thành một ngành kinh tế không thể thiếu đƣợc trong nền kinh tế thế giới. - CHLB Đức: Điển hình ở CHLB Đức là nƣớc tƣ bản phát triển có nền lâm nghiệp tiên tiến với hàng trăm năm kinh nghiệm, song việc đổi mới tổ chức quản lý lâm nghiệp vẫn thƣờng xuyên diễn ra để thích ứng với tình hình phát triển của đất nƣớc và thế giới nhằm đem lại hiệu quả cao hơn về môi trƣờng, kinh tế và xã hội. Đến năm 2005, có 5/13 bang chuyển đổi tổ chức quản lý rừng nhà nƣớc từ hình thức cơ quan quản lý lâm nghiệp bang (có SXKD lâm nghiệp) sang hình thức LTQD (doanh nghiệp LN bang), xu thế này đang đƣợc mở rộng ở những bang khác [3]. Lý thuyết về quản lý rừng bền vững ở Đức đƣợc Georg LudwigHartig (1764 - 1837) [45] đƣa ra cách đây khoảng 200 năm, với tƣ tƣởng chủ đạo là “Sẽ không có rừng nếu lấy sản phẩm mà không trên cơ sở bền vững.
Đối với rừng, cách khôn ngoan quản lý sử dụng rừng là phải đảm bảo cùng một lợi ích cho thế hệ tƣơng lai”. - Trung Quốc: Trƣớc những năm 1980 SXKD lâm nghiệp ở Trung Quốc tập trung chủ yếu ở khu vực nhà nƣớc và tập thể theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung [47]. Sau những năm 1980, Trung Quốc thực hiện chính sách cải cách mở cửa, nền kinh tế chủ yếu dựa trên chế độ sở hữu nhà nƣớc và tập thể đã chuyển dần sang nền kinh tế có nhiều thành phần cùng tồn tại và phát triển (nhà nƣớc, tập thể, cá nhân, HGĐ, hợp tác xã, liên doanh với nƣớc ngoài). SXKD lâm nghiệp phát triển nhanh chóng, không những nhiều LTQD, xí nghiệp sản xuất đạt hiệu quả cao mà các trang trại lâm nghiệp cũng rất phát triển, các loại sản phẩm lâm nghiệp đã chiếm lĩnh một số thị trƣờng trong khu vực và trên thế giới.
7 Chính sách cải cách tổ chức quản lý và SXKD của Trung Quốc tập trung vào các vấn đề giao đất giao rừng cho các thành phần kinh tế và các hộ nông dân, những năm 1990 Trung Quốc đã giao 30 triệu ha rừng cho 55 triệu HGĐ để xây dựng vƣờn rừng, vƣờn cây quả. Hàng vạn trang trại tập thể đƣợc hình thành với diện tích quản lý khoảng 17 triệu ha rừng [56]. Song song với đó Trung Quốc cũng ban hành nhiều chính sách nhƣ: khoa học công nghệ, trợ cấp, giảm thuế, chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất nhằm khuyến khích, tạo mọi điều kiện cho ngƣời dân phát triển nghề rừng. Ngoài ra Trung Quốc cho phép mọi hình thức liên doanh, liên kết với nhà nƣớc, tƣ nhân và nƣớc ngoài đƣợc hoạt động đã thúc đẩy nền sản xuất lâm nghiệp Trung Quốc phát triển mạnh mẽ.
- Thái Lan: ở Thái Lan các thành phần kinh tế tham gia vào SXKD lâm nghiệp rất đa dạng và phong phú: Các doanh nghiệp nhà nƣớc, doanh nghiệp tƣ nhân, các trang trại, các tổ chức hợp tác xã, lâm nghiệp cộng đồng làng bản, các công ty liên doanh với nƣớc ngoài [56]. Sản xuất lâm nghiệp của Thái Lan mang tính xã hội rất cao, điển hình là mô hình làng lâm nghiệp. Nét đặc sắc của cơ chế quản lý và tổ chức sản xuất lâm nghiệp là phát triển lâm nghiệp xã hội. Nhà nƣớc Thái Lan điều tiết sản xuất lâm nghiệp thông qua các chính sách, các công cụ vĩ mô, còn các hoạt động kinh doanh cụ thể do chủ rừng quyết định.
Đây cũng là cơ chế mà Nhà nƣớc ta đang quan tâm và đang thực hiện để phát triển lâm nghiệp xã hội bền vững. - Nhật Bản: Nhật Bản chia rừng thành 3 khu vực quản lý: khu vực rừng nhà nƣớc chủ yếu là bảo vệ, giao cho Cục quản lý rừng quốc gia đảm nhận. Khu vực rừng cộng đồng và tƣ nhân làm nhiệm vụ SXKD, việc quản lý và khai thác đƣợc tổ chức thành các hợp tác xã (HTX) hoạt động theo luật hợp tác xã [55]. Các HTX lâm nghiệp đƣợc hình thành trên cơ sở các thành viên tự góp vốn, tự chủ trong SXKD và tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ công khai.
Quyền lợi của các thành viên HTX đƣợc phân chia theo tỷ lệ góp vốn và khả năng đóng góp của xã viên. Chức năng nhiệm vụ của HTX lâm nghiệp là khai thác, trồng rừng, chăm sóc, phòng chống cháy rừng, chế biến các sản phẩm lâm nghiệp tổ chức các 8 dịch vụ sản xuất, xây dựng kế hoạch quản lý rừng hƣớng dẫn xã viên quản lý rừng và hổ trợ kỹ thuật. Mô hình HTX lâm nghiệp ở Nhật bản đã khẳng định vai trò quan trọng trong quản lý rừng, bảo vệ môi trƣờng sinh thái và thu nhập quốc dân.430 HTX lâm nghiệp thu hút 1,8 triệu xã viên quản lý 11,4 triệu ha rừng. - Ấn Độ: Ấn Độ là một nƣớc rất coi trọng mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững thông qua các quy định nhƣ thiết kế hệ thống rừng chức năng, chú trọng công tác trồng rừng phòng hộ, khai thác kết hợp trồng rừng và bảo vệ rừng.
Quyền sở hữu về rừng ở Ấn Độ thuộc về 3 chủ thể đó là: Nhà nƣớc, cộng đồng và tƣ nhân [56]. Ấn Độ đã có nhiều chƣơng trình quốc gia nhằm thu hút sự tham gia của các tập đoàn tƣ nhân tham gia vào công tác xây dựng và phát triển lâm nghiệp. Chính phủ Ấn Độ chú trọng việc xây dựng cơ chế quản lý và chỉ đạo chặt chẽ các chƣơng trình hoạt động công ích lâm nghiệp, có nhiều chƣơng trình Nhà nƣớc đứng ra thực hiện. Ấn Độ là một nƣớc phát triển mạnh lâm nghiệp trang trại, lâm nghiệp cộng đồng nhằm thu hút mọi ngƣời dân, mọi tổ chức tham gia vào phát triển nghề rừng.
Nhà nƣớc ban hành hàng loạt các chủ trƣơng chính sách hổ trợ tài chính, tín dụng, khoa học công nghệ nhằm khuyến khích phát triển sản xuất lâm nghiệp. - Philippin: Nhà nƣớc Philippin rất chú trọng công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển tài nguyên rừng [30]. Trong những năm 1980 trở lại đây để tăng cƣờng công tác quản lý tài nguyên Chính phủ đã tiến hành điều tra quy hoạch và phân vùng tài nguyên rừng thành 2 mục đích rõ rệt đó là: + Rừng bảo vệ môi trƣờng sinh thái do Nhà nƣớc quản lý, mọi hoạt động đều do ngân sách Nhà nƣớc đầu tƣ thông qua hợp đồng với các công ty, xí nghiệp theo đơn đặt hàng của Chính phủ. + Rừng sản xuất do các đơn vị SXKD lâm nghiệp và các HGĐ quản lý.
Ở Philippin mối liên kết lâm công nghiệp đặc biệt coi trọng, từ đó đã hình thành các tập đoàn sản xuất, những chủ rừng phối hợp với ngành công nghiệp để sản xuất, chế biến hàng hóa lâm sản. Nhƣ vậy, mỗi quốc gia đều có những cơ chế chính sách về phát triển lâm nghiệp phù hợp với nền kinh tế của mình, mọi hoạt động về quản lý cũng nhƣ 9 SXKD đều hƣớng đến mục đích lợi ích kinh tế, xã hội và lợi ích môi trƣờng nhằm tham gia vào sự phát triển chung của đất nƣớc. Các mô hình hoạt động kinh doanh lâm nghiệp Trên thế giới có sự thừa nhận rộng rãi là: tƣ tƣởng chỉ đạo, lý luận kinh doanh rừng và lâm nghiệp là một trong những yếu tố có tính chất quyết định đến việc hoạch định chính sách lâm nghiệp của nhiều nƣớc. Vào những năm 70 của thế kỷ trƣớc đã xuất hiện “Lý luận về phân loại rừng theo công dụng chủ yếu của từng khu rừng” [54].
Tiếp theo đó, xuất hiện“Lý luận kinh doanh rừng bền vững”, đặt ra những vấn đề thách thức mới đối với “Lý luận về phân công rừng theo công dụng chủ yếu của từng khu rừng”. Đến những năm 80 của, ở Châu Âu đã xuất hiện “Lý luận phát triển lâm nghiệp tiếp cận tự nhiên”còn gọi là “Lý luận thiên nhiên hoá rừng nhân tạo”. Lý luận này là cơ sở để xây dựng các phƣơng thức kinh doanh rừng nhân tạo [56]. Tổng quan về thay đổi tƣ duy kinh doanh rừng trên thế giới có thể kể đến cách tiếp cận ở một số nƣớc nhƣ sau: - Nước Áo: Đang phát triển và thịnh hành tƣ duy về xây dựng“Nông nghiệp, lâm nghiệp xã hội và sinh thái hài hoà với tự nhiên”.
- Ba Lan: Đã đề ra và đang thực thi “Mô hình mới về kinh doanh rừng” với mục tiêu là thực hiện những công tác bảo vệ và kinh doanh rừng không dẫn đến tình trạng phá hoại môi trƣờng và cân bằng sinh thái. - Thụy Điển: Đang áp dụng và thảo luận mô hình “Lâm nghiệp dựa vào điều kiện lập địa” và cho rằng ngành lâm nghiệp hợp lý là ngành có thể kết hợp với nhiệm vụ bảo vệ cảnh quan và những khu vực tự nhiên qui mô nhỏ. - Nước Đức: Đang đề ra và thực hiện tƣ duy về “Lâm nghiệp chính xác” với nội dung là xây dựng những phƣơng pháp kinh doanh phù hợp với những qui tắc lâm học đã có cơ sở khoa học và đƣợc thực tiễn chứng minh, đồng thời bảo đảm nâng cao bền vững năng suất sản xuất sinh thái và năng suất kinh tế của đất rừng. Nhờ đó, đã bảo đảm sự bền vững của các yếu tố vật chất và phi vật chất.
Nhƣ vậy, thực tế phát triển lâm nghiệp trên thế giới cho thấy, nếu tiếp tục áp dụng các tƣ duy, lý luận, chính sách và phƣơng pháp đã áp dụng trong giai đoạn phát triển lâm nghiệp truyền thống thì không có cách gì đáp ứng đƣợc nhu cầu của xã hội hiện 10 đại.