CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về chất thải rắn sinh hoạt 1. Nguồn gốc Thông thường, nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) bao gồm: Hộ gia đình; khu thương mại (nhà hàng, khách sạn, siêu thị, chợ…); công sở (cơ quan, trường học, trung tâm, viện nghiên cứu, bệnh viện…); khu công cộng (nhà ga, bến tàu, sân bay, công viên, khu vui chơi giải trí, đường phố…); hoạt động xây dựng; dịch vụ công cộng (quét đường, công viên, khu vực vui chơi giải trí…). Nhiều quốc gia trên thế giới thường sử dụng cụm từ “CTR đô thị” thể hiện cho CTRSH và mỗi quốc gia có định nghĩa hay khái niệm riêng đối với CTR đô thị.
Tuy nhiên, khái niệm chung được đưa ra đối với CTR đô thị là tất cả CTR phát sinh từ đô thị (hộ gia đình, công sở và khu thương mại…) và không bao gồm chất thải phát sinh từ quá trình công nghiệp, xây dựng và nông nghiệp [1]. Thành phần CTRSH là những chất thải liên quan đến các hoạt động của con người, tạo thành chủ yếu từ khu dân cư, trường học, trung tâm thương mại, dịch vụ… Ta có thể phân biệt các thành phần CTRSH qua các loại chất thải sau [1]: Chất thải thực phẩm: Gồm thức ăn thừa, rau củ quả, thịt cá… từ khu dân cư, chợ, siêu thị và khu thương mại. Chất thải trực tiếp chủ yếu là phân, bao gồm phân người và phân động vật. Chất thải lỏng từ hố ga, cống rãnh Tro từ các vật liệu sau cháy, các sản phẩm của quá trình đốt rác, nấu nướng như than, củi, xỉ than… Chất thải đường phố như lá cây, que, túi ni lông, thùng carton, … Bảng 1.1: Thành phần chất thải rắn sinh hoạt đô thị tại Việt Nam Thành phần Hà Nội Các đô thị khác ở Việt Nam Chất hữu cơ 51,90% 50,2 – 68,9% Nhựa và ni lông 3,0% 3,4 – 10,6% Giấy và bìa các tông 2,70% 3,3 – 6,6% THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG.
Lưu hành nội bộ 5 Kim loại 0,90% 1,4 – 19% Thuỷ tinh 0,50% 0,5 – 2,0% Chất trơ 38% 14,9 – 28,2% Cao su và da 1,30% 0,0 – 5,0% Xác động thực vật - 1,5 – 2,5% Chất thải nguy hại - 0,0 – 1,0% Các thành phần khác 1,70% - (Nguồn: Ngân hàng Thế giới, 2018) 1. Khối lượng phát sinh Trong những năm gần đây, lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) phát sinh tiếp tục gia tăng trên phạm vi cả nước. Ước tính lượng CTRSH phát sinh ở các đô thị trên toàn quốc tăng từ 10 – 16% mỗi năm. Lượng CTRSH đô thị tăng mạnh ở các đô thị lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng [2].
Khối lượng CTRSH phát sinh tại các đô thị phụ thuộc vào quy mô dân số, tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa của đô thị và đang có xu thế ngày càng tăng. Tổng khối lượng CTRSH phát sinh tại khu vực đô thị trong cả nước là 35.592 tấn/năm), chiếm 55% khối lượng CTRSH phát sinh của cả nước, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh có khối lượng phát sinh lớn nhất cả nước và kế đến là Hà Nội. Chỉ tính riêng 2 đô thị này, tổng lượng CTRSH đô thị phát sinh tới 12.000 tấn/ngày chiếm 33,6% tổng lượng CTRSH đô thị phát sinh trên cả nước. Khối lượng CTRSH phát sinh tại 5 đô thị đặc biệt/loại 1 là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ chiếm khoảng 40% tổng lượng CTRSH phát sinh từ tất cả các đô thị trong cả nước.
Tại một số đô thị nhỏ (từ loại II trở xuống), mức độ gia tăng khối lượng CTRSH phát sinh không cao do mức sống thấp và tốc độ đô thị hóa không cao [2].2: Khối lượng phát sinh, chỉ số phát sinh chất thải rắn sinh hoạt bình quân trên đầu người của một vài địa phương (2010, 2015, 2018, 2019) Khối lượng phát sinh (tấn/ Chỉ số phát sinh Địa phương ngày) (kg/người/ngày) 2010 2015 2018 2019 2010 2015 2018 2019 Hà Nội 5.500 0,95 0,76 0,86 0,81 Hải Phòng 1.982 0,67 0,51 0,85 0,98 THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG. Lưu hành nội bộ 6 Đà Nẵng 805 900 1. Hồ Chí Minh 7.400 0,96 1,02 1,06 1,05 Cần Thơ 876 846 605 599 0,73 0,68 0,47 0,49 (Nguồn: Bộ TNMT, 2012,2015 & 2019) Tính theo vùng phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) thì các đô thị vùng Đông Nam Bộ có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất với 4.290 tấn/năm (chiếm 35% tổng lượng phát sinh CTRSH đô thị cả nước), tiếp đến là các đô thị vùng đồng bằng sông Hồng với lượng phát sinh CTRSH là 3. Các đô thị vùng Tây Nguyên có lượng CTRSH phát sinh thấp nhất 542.3: Khối lượng CTRSH phát sinh tại các khu vực đô thị theo vùng Khối lượng Khối lượng STT Vùng phát sinh ( phát sinh ( tấn/ngày) tấn/năm) 1 Đồng bằng sông Hồng 8.926 2 Trung du và miền núi phía Bắc 2.184 Bắc Trung bộ và Duyên hải miền 3 Trung 6.098 5 Đông Nam bộ 12.290 6 Đồng bằng sông Cửu Long 3.592 (Nguồn: Bộ TNMT, 2019) CTRSH nông thôn phát sinh từ các hộ gia đình, chợ, nhà kho, trường học, bệnh viện, cơ quan hành chính.
CTRSH nông thôn chủ yếu bao gồm thành phần hữu cơ dễ phân hủy (thực phẩm thải, chất thải vườn) với độ ẩm thường trên 60%; tuy nhiên, chất hữu cơ khó phân hủy, chất vô cơ (chủ yếu là các loại phế thải thủy tinh, sành sứ, kim loại, giấy, nhựa, đồ điện gia dụng hỏng.) và đặc biệt là túi ni lông xuất hiện ngày càng nhiều. Hầu hết CTRSH không được phân loại tại nguồn, vì vậy tỉ lệ thu hồi chất thải có khả năng tái chế và tái sử dụng như giấy vụn, kim loại, nhựa. còn thấp và chủ yếu là tự phát. Theo số liệu thống kê, khối lượng phát sinh CTRSH nông thôn hiện nay là 28.394 tấn/ngày (tương đương 10.
Vùng Đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh CTRSH nông thôn lớn nhất với 2.494 tấn/ năm (chiếm 27%), tiếp đến là vùng THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG. Lưu hành nội bộ 7 Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung với 2.517 tấn/năm (chiếm 26%), vùng Đồng bằng sông Cửu Long phát sinh 2.925 tấn/năm (chiếm 21%), vùng Tây Nguyên có lượng phát sinh nhỏ nhất, chỉ 526.4: Khối lượng CTRSH phát sinh tại các khu vực nông thôn theo vùng Khối lượng Khối lượng STT Vùng phát sinh ( phát sinh ( tấn/ngày) tấn/năm) 1 Đồng bằng sông Hồng 7.494 2 Trung du và miền núi phía Bắc 2.428 Bắc Trung bộ và Duyên hải miền 3 Trung 7.586 5 Đông Nam bộ 3.918 6 Đồng bằng sông Cửu Long 5. Tổng quan về chế phẩm vi sinh vật 1. Khái niệm chế phẩm vi sinh vật Hiểu theo nghĩa đơn giản nhất đó chính là sự tập hợp hoặc riêng lẻ từng chủng vi sinh có hoạt tính sinh học cao, đa phần là chủng vi sinh vật có lợi.
Những vi sinh vật này được tuyển chọn kĩ lưỡng, an toàn với môi trường, chúng gia tăng hiệu quả cho những ngành sử dụng chúng [3]. Chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu (Effective microorganisms) là tập hợp các loài vi sinh vật có ích. Vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn lactic, nấm men, xạ khuẩn, nấm mốc. Sống cộng sinh trong cùng môi trường.
Có thể áp dụng chúng như là một chất cấy. Chế phẩm vi sinh vật hoạt động dựa trên cơ chế tạo hệ sinh thái giúp cho vi sinh vật hoạt động tốt. Nhằm tăng cường tính đa dạng vi sinh vật, bổ sung các vi sinh vật có ích vào môi trường tự nhiên. Giảm thiểu sự ô nhiễm môi trường do các vi sinh vật có hại gây ra.
Kết quả là có thể cải thiện chất lượng môi trường được cấy, chống bệnh do vi sinh vật. Giúp sinh vật cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn, nâng cao cơ chế phòng bệnh của sinh vật. Cải thiện môi trường xung quanh thông qua quá trình phân hủy các chất hữu cơ nhanh hơn so với bình thường [3]. THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG.
Lưu hành nội bộ 8 1. Ứng dụng của chế phẩm vi sinh vật 1. Ứng dụng trong chăn nuôi Thay thế thuốc kháng sinh để ngăn chặn dịch bệnh trong chăn nuôi: Trước đây, ngành chăn nuôi người ta sử dụng thuốc kháng sinh để trị bệnh trên vật nuôi trong một thời gian dài, điều này đã gây ra vấn đề lớn đó là dư thừa chất kháng sinh trong vật nuôi, tạo ra các cơ chế kháng khuẩn cũng như làm mất cân bằng các men tiêu hoá trong đường ruột, gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của vật nuôi. Hơn nữa nhu cầu của con người đối với các sản phẩm trong chăn nuôi sạch và an toàn trên thế giới ngày càng cao.
Vì thế nếu sử dụng quá nhiều thuốc kháng sinh trong chăn nuôi khiến lượng thuốc kháng sinh trong thành phẩm quá cao, làm cho việc xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi rất khó khăn thậm chí là bị nước nhập khẩu trả hàng và cấm xuất khẩu. Bên cạnh việc ngăn chặn dịch bệnh trong chăn nuôi bằng cách sản sinh ra các chất hoá học có tác dụng diệt các vi khuẩn gây bệnh bám trên thành ruột của vật chủ, các vi khuẩn có lợi trong chế phẩm còn có khả năng cạnh tranh vị trí bám vào thức ăn trong thành ruột với các vi sinh vật gây bệnh, không cho phép các vi sinh vật có hại bám vào cơ thể vật nuôi, nhờ vậy giúp ngăn ngừa dịch bệnh, đảm bảo sức khoẻ cho vật nuôi. Giúp cải thiện hệ tiêu hóa cho vật nuôi: Các dòng chế phẩm sinh học giúp cải thiện hệ tiêu hóa cho vật nuôi có chứa các enzyme ngoại bào như: protease, amylase, lipase, … và cung cấp các dưỡng chất phát triển cần thiết như vitamin, acid béo, amino acid, … Các vi khuẩn vi sinh như bacteroides và clostridium đã cung cấp dinh dưỡng cho cá, đặc biệt là cung cấp các acid béo và vitamin. Ngoài ra, một số vi khuẩn có thể tham gia vào quá trình tiêu hoá của động vật bằng cách sản xuất ra các enzyme ngoại bào như protease, amylase, lipase và cung cấp dưỡng chất phát triển cần thiết như vitamin, acid béo, amino acid.
Vì thế chế phẩm sinh học chính là nguồn cung cấp dinh dưỡng và enzyme cho bộ máy tiêu hoá của các vật nuôi [4]. Giảm mùi hôi chuồng trại: Lượng phân và chất thải ở những khu chăn nuôi gia súc, gia cầm phát sinh amonia gây ra chất độc và làm ô nhiễm môi trường không khí xung quanh. Việc sử dụng chế phẩm sinh học xử lý nước thải chăn nuôi, hay chất thải chăn nuôi sẽ giải quyết từ khâu phân, chất thải, giảm khí độc, giảm vi khuẩn có hại trong quá trình chăn nuôi [4].