Chương 1: Cơ sở lý luận và mô hình lý thuyết Chương 2: Thiết kế mô hình nghiên cứu và thực hiện nghiên cứu Chương 3: Phân tích kết quả Chương 4: Kết luận 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Nói đến chất lƣợng phần mềm (PM), không ít ngƣời nghĩ ngay đến vấn đề là xác định xem PM đó có phát sinh lỗi hay không, có “chạy” đúng nhƣ yêu cầu hay không và cuối cùng thƣờng quy về vai trò của hoạt động kiểm tra phần mềm (testing) nhƣ là hoạt động chịu trách nhiệm chính.Với quan điểm của Luan van 4 khách hàng, điều này có thể đúng, họ không cần quan tâm nội tình của hoạt động phát triển PM, điều họ cần quan tâm là liệu sản phẩm cuối cùng giao cho họ có đúng hạn hay không và làm việc đúng nhƣ họ muốn hay không. Chất lƣợng phần mềm đang là vấn đề bức xúc làm đau đầu cả giới sản xuất và ứng dụng ở Việt Nam. Đến nay, vẫn chƣa có một tiêu chuẩn nào để đánh giá chất lƣợng phần mềm cũng nhƣ chƣa có các tổ chức độc lập thực hiện công việc này.
Theo Olivier Coudert, 2011 “What is software quality” Chất lƣợng của phần mềm đƣợc đánh giá bởi một số biến. Các biến này có thể đƣợc chia thành các tiêu chí chất lƣợng bên ngoài và bên trong. Chất lƣợng bên ngoài là những gì một ngƣời dùng kinh nghiệm đánh giá khi chạy các phần mềm. Chất lƣợng bên trong đề cập đến các khía cạnh thuộc về kỹ thuật, và nó không hiển thị ra bên ngoài để ngƣời dùng có thể nhận xét.
Olivier đã đƣa ra một số tiêu chí nhằm đo lƣờng chất lƣợng phần mềm nhƣ chức năng, tốc độ, ổn định, dễ sử dụng, tƣơng thích, an toàn, di động, bảo trì, tài liệu hƣớng dẫn, khả năng mở rộng… Qua tìm hiểu một số mô hình nghiên cứu chất lƣợng phần mềm, mô hình McCall, Boeym, Dromey có một số nhân xét tổng quan: McCall xác định chất lƣợng của một sản phẩm phần mềm thông qua 3 quan điểm khác nhau cụ thể là Hoạt động sản phẩm, sửa đổi sản phẩm và chuyển tiếp sản phẩm. Nó bao gồm 11 yếu tố chất lƣợng mô tả quan điểm bên ngoài của phần mềm (dành cho ngƣời sử dụng), và 23 yếu tố chất lƣợng mô tả quan điểm bên trong của phần mềm (dành cho nhà phát triển phần mềm), và một tập hợp các số liệu đƣợc sử dụng để đánh giá chất lƣợng. Ý tƣởng của mô hình này là đánh giá mối quan hệ giữa các yếu tố bên ngoài phần mềm và tiêu chuẩn kỹ thuật đảm bảo chất lƣợng phần mềm. Luan van 5 Mô hình Boeym đã trình bày một cấu trúc phân cấp tƣơng tự nhƣ mô hình chất lƣợng phần mềm của McCall gồm cấp cao nhất, cấp trung gian và cấp thấp nhất.
Mỗi đặc điểm mô tả góp phần vào chất lƣợng tổng thể của sản phẩm phần mềm. Boehm cũng mở rộng các đặc tính để mô hình McCall bằng cách nhấn mạnh các yếu tố duy trì của một sản phẩm phần mềm, đó là một trong những ƣu điểm của mô hình này. Tuy nhiên mô hình này không đề nghị bất kỳ phƣơng pháp nào để đo lƣờng các đặc tính chất lƣợng phần mềm. Mô hình của Dromey đề xuất mô hình gồm 3 yêu cầu: Yêu cầu chất lƣợng mô hình, thiết kế mẫu chất lƣợng và chất lƣợng thực hiện mô hình.
Điểm mạnh của mô hình là có thể áp dụng đƣợc cho nhiều hệ thống khác nhau. Tuy nhiên cần một mô hình năng động hơn vì mô hình này thiếu các tiêu chuẩn để đo lƣờng chất lƣợng phần mềm. Mô hình ISO-9126: Mô hình này dựa trên các mô hình nghiên cứu trƣớc đây của McCall, Boehm, Dromey, FURPS,…Ý tƣởng cơ bản đằng sau mô hình này là xác định và đánh giá chất lƣợng của một sản phẩm phần mềm về chất lƣợng bên trong và bên ngoài. Các thuộc tính chất lƣợng đƣợc phân loại thành một cây cấu trúc phân cấp.
Mức cao nhất bao gồm các đặc tính chất lƣợng và thấp nhất là các cấp độ bao gồm các tiêu chuẩn chất lƣợng. ISO 9126 xác định 6 đặc điểm đƣợc chia thành thành 21 đặc điểm con, mỗi đặc điểm đại diện cho tiêu chuẩn đánh giá chất lƣợng PM. Ƣu điểm của mô hình này là kết hợp đƣợc các ý kiến của mô hình đi trƣớc (McCall, Boehm, Dromey …), các nhân tố có thể xác định đƣợc với tất cả các loại phần mềm, thuật ngữ phù hợp dễ hiểu dễ nghiên cứu. Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Toàn, Huỳnh Thị Hồng Hạnh “Tiêu chí đánh giá chất lượng PMKT” đã đƣa ra một số tiêu chí khi đánh giá chất lƣợng PMKT: Tuân thủ các qui định về chế độ kế toán của Việt Nam, đảm bảo sự chính xác của số liệu kế toán, tính mở, mức độ tự động hóa, tính bảo Luan van 6 mật thông tin và an toàn dữ liệu, dễ sử dụng và linh hoạt, tính liên kết, liên hoàn và tƣơng thích với các phần mềm khác.
Nhìn chung các mô hình nghiên cứu khá cồng kềnh, chi tiết, ngay bản thân các thuộc tính rất khó xác định và đo lƣờng, thiếu các thang đo cụ thể. Các mô hình này đã đƣợc tác giả tham khảo cùng với các nghiên cứu định tính về đánh giá chất lƣợng PM để thiết kế nên mô hình đánh giá CLPM kế toán. Luan van 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN - MÔ HÌNH LÝ THUYẾT 1. PHẦN MỀM KẾ TOÁN 1.
Khái niệm phần mềm Phần mềm máy tính (Computer Software) hay gọi tắt là phần mềm (Software) là một tập hợp những câu lệnh hoặc chỉ thị (Instruction) đƣợc viết bằng một hoặc nhiều ngôn ngữ lập trình theo một trật tự xác định, và các dữ liệu hay tài liệu liên quan nhằm tự động thực hiện một số nhiệm vụ hay chức năng hoặc giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó. Phần mềm thực hiện các chức năng của nó bằng cách gửi các chỉ thị trực tiếp đến phần cứng (hay phần cứng máy tính, Computer Hardware) hoặc bằng cách cung cấp dữ liệu để phục vụ các chƣơng trình hay phần mềm khác. Theo Bách khoa toàn thƣ Wikipedia, phần mềm là một khái niệm trừu tƣợng, nó khác với phần cứng ở chỗ là "phần mềm không thể sờ hay đụng vào" và nó cần phải có phần cứng mới có thể thực thi đƣợc. Khái niệm phần mềm kế toán Phần mềm kế toán là bộ chƣơng trình dùng để tự động xử lý các thông tin kế toán trên máy vi tính, bắt đầu từ khâu nhập chứng từ gốc, phân loại chứng từ, xử lý thông tin trên các chứng từ theo quy trình của chế độ kế toán đến khâu in ra sổ kế toán và báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị.
[1] Phần mềm kế toán hoạt động nhƣ là một bộ phận quan trọng của hệ thống thông tin kế toán. Nó có thể đƣợc phát triển bởi công ty hay tổ chức sử dụng, có thể đƣợc mua từ một bên thứ ba hoặc có thể là một sự kết hợp một gói phần mềm ứng dụng của bên thứ ba với sự sửa đổi cho phù hợp với đặc thù công ty sử dụng. Phân loại phần mềm kế toán Theo phƣơng thức của sản phẩm phần mềm đƣợc chào bán trên thị trƣờng bởi nhà cung cấp phần mềm, ngƣời ta có thể chia phần mềm kế toán làm 2 loại: • Phần mềm đóng gói: Phần mềm đóng gói là các phần mềm đƣợc nhà cung cấp thiết kế sẵn, đóng gói thành các hộp sản phẩm với đầy đủ tài liệu hƣớng dẫn cài đặt, sử dụng và bộ đĩa cài phần mềm. PMKT dạng này thƣờng đƣợc bán rộng rãi và phổ biến.
• Phần mềm đặt hàng: PMKT đặt hàng là phần mềm đƣợc nhà cung cấp phần mềm thiết kế riêng biệt cho một doanh nghiệp hoặc một số nhỏ các doanh nghiệp trong cùng một tập đoàn và hệ thống theo đơn đặt hàng. Trong trƣờng hợp này nhà cung cấp phần mềm không cung cấp một sản phẩm sẵn có mà cung cấp dịch vụ phát triển sản phẩm dựa trên những yêu cầu cụ thể. Đặc điểm chung của loại phần mềm này là không phổ biến và có giá thành rất cao. Khái niệm chất lƣợng Nâng cao chất lƣợng có lẽ là hoạt động quan trọng nhất và là vấn đề phức tạp trong chiến lƣợc kinh doanh.
Các công ty cạnh tranh dựa trên chất lƣợng, khách hàng tìm kiếm chất lƣợng và thị trƣờng đƣợc dẫn dắt bởi chất lƣợng. Nó là một điều kiện quan trọng hàng đầu để làm khách hàng hài lòng, làm tăng lợi nhuận công ty và tăng tốc độ tăng trƣởng kinh tế của các quốc gia (Deming 1982; Kennedy 1987; Rust,Zahorik , và Keiningham 1995). Zeithaml (1988) định nghĩa rằng "giá cả, chất lƣợng và giá trị là từ quan điểm của khách hàng " và lƣu ý rằng " mục tiêu chất lƣợng có thể không tồn tại bởi vì tất cả chất lƣợng có đƣợc là cảm nhận của một ngƣời nào đó ". Ngƣợc lại, suy nghĩ của các nhà lãnh đạo trong các tài liệu quản lý chất lƣợng cho rằng chất lƣợng cảm nhận chỉ là một trong nhiều khía cạnh của chất lƣợng (Garvin 1984) Luan van 9 Định nghĩa về chất lƣợng đã đƣợc các chuyên gia chất lƣợng diễn đạt khác nhau: Theo Juran “ Chất lƣợng là sự phù hợp với nhu cầu”, Crosby lại cho rằng : “Chất lƣợng là sự phù hợp với các yêu cầu hay đặc tính nhất định”.
Theo Ishikawa “ Chất lƣợng là sự sự thoả mãn nhu cầu thị trƣờng với chi phí thấp nhất”. Vào những năm 1990, các viện sĩ, nhà quản lý và những ngƣời trực tiếp điều hành đã đƣa ra một số khái niệm về chất lƣợng nhƣ sau: - Chất lƣợng là sự quyết tâm và sự cố gắng của mỗi ngƣời trong tổ chức để hiểu biết và đáp ứng những đòi hỏi của khách hàng. - Chất lƣợng là sản phẩm tốt nhất mà ta có thể sản xuất đƣợc bằng các yếu tố đầu vào sẵn có. - Chất lƣợng không chỉ là sự hài lòng của khách hàng mà còn làm cho họ say mê sản phẩm, tìm cách đƣa ra những cái mới, cái sáng tạo.
Theo tiêu chuẩn của Viện Quốc gia Hoa Kỳ, chất lƣợng "là toàn bộ các tính năng và đặc điểm của một sản phẩm hoặc dịch vụ mà có khả năng đáp ứng được các nhu cầu " ( ANSI / ASQC 1978) Bednar (1994) đã kết luận "Các định nghĩa khác nhau của chất lƣợng là thích hợp trong các hoàn cảnh khác nhau” Gần đây hơn, Karmarkar và Apte (2007, p.451) cho rằng "Đo lƣờng chất lƣợng và định nghĩa chất lƣợng là một vấn đề đặc biệt phức tạp”. Chất lƣợng là khái niệm đặc trƣng cho khả năng thoả mãn nhu cầu của khách hàng.