Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Cây ăn quả thuộc họ cam quýt (Citrus) là loại cây ăn quả lâu năm có giá trị kinh tế cao, quá trình sinh trưởng và phát triển chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố nội tại và các yếu tố ngoại cảnh như: Nhiệt độ, ánh sáng, đất đai, biểu hiện qua sinh trưởng, ra hoa kết quả, năng suất và phẩm chất quả. Cây ăn quả có múi có phạm vi thích nghi sinh thái rộng, ở Việt Nam cây có múi có mặt hầu hết ở các tỉnh thành trong cả nước, mỗi vùng miền đều có những cây ăn quả có múi đặc sản. Điều này cho thấy Việt Nam là nước có tập đoàn cây có múi rất phong phú với nhiều loại cây có múi khác nhau.
Hiện nay trên thế giới và ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu để nâng cao năng suất chất lượng quả bưởi, tuy nhiên cây có múi là loại cây trồng có chu kỳ kinh doanh dài, mỗi nghiên cứu chỉ áp dụng cho một loại cây có múi nhất định, do vậy trong thực tiễn sản xuất hiện nay các nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học, nghiên cứu áp dụng các biện pháp nhằm phục vụ cho nghiên cứu khoa học và nâng cao chất lượng quả bưởi Quế Dương là hết sức cần thiết. - Cơ sở khoa học của việc phun phân qua lá: cách bón này dựa trên nguyên lý lá cây có thể hấp thụ được các nguyên tố dinh dưỡng và chuyển hoá nó thành năng lượng nuôi cây. Sử dụng phân bón lá khá phổ biến ở nhiều nước trồng cây có múi và áp dụng trong các trường hợp sau: đất nghèo dinh dưỡng, đất khô hạn, bộ rễ kém phát triển. Khi sử dụng phân bón lá cần lưu ý hoà tan hoàn toàn phân trong nước, nguồn nước sử dụng phải là nước không có axit hoặc không có kiềm.
Các kết quả chỉ ra rằng khi bón phân qua lá dạng hoà tan thì lá cây sẽ hấp thu hết 95% lượng phân. Vì vậy, việc cung cấp các chất dinh dưỡng dạng vi lượng cho cây thông qua lá là việc làm đem lại hiệu quả cao, có thể nói cao Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 5 gấp 8-10 lần so với cung cấp vào đất. Ngoài tác dụng bổ sung dinh dưỡng kịp thời cho cây, phân bón lá còn tăng cường khả năng chông chịu sâu bệnh và các điều kiện ngoại cảnh bất lợi. Tuy nhiên, hiệu quả của phân bón lá còn phụ thuộc vào các giống cây trồng, các giai đoạn sinh trưởng của cây và phụ thuộc vào loại phân, nồng đô, liều lượng, thời gian sử dụng.
Các phân bón lá được sử dụng rộng rãi hiện nay là Komix, yogen, grown, con cò, HP, đầu trâu. Trong những vườn cây ăn quả có mạch nước ngầm cao, hoặc những thời kỳ khô hạn, bộ rễ hoạt động kém do vậy bón phân vào đất hiệu quả sẽ giảm, việc bón phân qua lá là giải pháp cực kỳ hiệu quả để ngăn ngừa sự thiếu hụt dinh dưỡng, bổ sung dinh dưỡng kịp thời cho cây. Hiện nay việc kết hợp giữa bón phân gốc, phun phân qua lá, phân vi lượng. - Cơ sở khoa học của việc sử dụng chất điều hòa sinh trưởng: Chất điều hòa sinh trưởng đã mang lại hiệu quả rất cao trong sản xuất cây ăn quả nói chung và cây có múi nói riêng ở mỹ, Israel, Trung Quốc, Đài Loan, úc, Nhật Bản vv.
Phân bón lá, đặc biệt là những loại phân có chứa các nguyên tố vi lượng và chất điều hòa sinh trưởng như GA3 có tác dụng làm tăng khả năng ra hoa, đậu quả, mã quả, chất lượng và giảm số lượng hạt nếu phun vào những thời kỳ thích hợp (Hoàng Minh Tấn, (1994) giáo trình sinh lý thực vật) Về chất điều hòa sinh trưởng, Gibberellin axít (GA) có ảnh hưởng lớn, quan trọng đối với các hoạt động sinh lý của cây, nâng cao sự đậu quả của cây có múi. Tác động nâng cao sự đậu quả có ý nghĩa đã được phát hiện trong cả 2 giống nhiều hạt và không hạt (Parthenocarpic). Đối với giống nhiều hạt khi phun GA3 số lượng hạt đều giảm, tuy nhiên cũng phụ thuộc vào giống, ví dụ quýt Dancy thì thành công nhưng giống Temple lại không có kết quả ( Nguyễn Hữu Thọ 2015). - Cơ sở khoa học của việc sử dụng phân hữu cơ vi sinh: Mỗi năm, người nông dân sử dụng tới 11 triệu tấn phân vô cơ (phân hóa học) để bón cho cây Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.
Mặc dù sử dụng lượng phân bón vô cơ khổng lồ mỗi năm, Việt Nam lại nằm trong nhóm các quốc gia có hiệu suất sử dụng phân bón thấp nhất trên thế giới. Chưa đến 50% lượng phân bón sử dụng được cây trồng hấp thu, phần còn lại thất thoát ra môi trường, ngấm vào đất, vào nước và tồn dư trên bề mặt của nông sản (Võ Thị Tuyết Nhung 2013). Bên cạnh tác dụng tức thời đối với cây trồng, hậu quả mà phân vô cơ để lại gây ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng và làm bạc màu đất nếu sử dụng sai phương pháp. Vì vậy, các nhà khoa học đã nghiên cứu và cho ra đời một loại phân mới mang tên phân bón hữu cơ vi sinh chứa nhiều vi sinh vật có lợi cho cây trồng giúp tăng chất lượng của đất và đảm bảo an toàn cho sức khỏe của người tiêu dùng.
Phân vi sinh được nhiều người sử dụng vì bảo đảm không gây ảnh hưởng xấu đến thực vật, chất lượng cây trồng, môi trường sinh thái và kể cả con người. Cơ chế của loại phân bón vi sinh này khá đơn giản, khi được bổ sung vào đất trồng trọt thì các vi sinh vật sẽ hoạt động và sản sinh ra các chất dinh dưỡng mà cây trồng có thể hấp thụ như N, P, K, nguyên tố vi lượng,… hoặc là các hoạt chất sinh học có khả năng phòng trừ sâu bệnh, giúp cải tạo đất nâng cao năng suất cây trồng (Lê Minh Chiến 2006) 1. Nguồn gốc, phân loại và các giống bưởi chính. Cây bưởi có tên khoa học là Citrus grandis.
Trong hệ thống phân loại bưởi thuộc: Họ Rutaceae, họ phụ Aurantioideae Chi Citrus Chi phụ: Eucitrus Loài: grandis Bưởi (C. grandis L), tên tiếng Anh là Pummelo, có nguồn gốc từ Malaysia và quần đảo Ấn Độ và được phân bố rộng tới quần đảo Fiji, châu Âu và cả các nước vùng Địa Trung Hải. Có một loài khác gọi là bưởi chùm (C. paradisi), có thể là biến dị hoặc một dạng lai của chúng.
Bưởi chùm chủ yếu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 7 được sản xuất ở các nước thuộc châu Mỹ, vùng Địa Trung Hải, Úc và châu Phi. Các nước châu Á rất ít trồng loài bưởi này. Bưởi đôi khi còn được gọi là Shaddock, là loại quả có múi to điển hình của vùng nhiệt đới. Một số nước như Thái Lan, Trung Quốc, Indonexia phân chia bưởi làm 2 nhóm: nhóm quả ruột trắng và nhóm quả ruột hồng (sắc tố).
Cũng cần phân biệt giữa bưởi - Pummelo và Pummeloes, Pummeloes là những giống có quả cực lớn (bòng hoặc kỳ đà), hàm lượng axit thấp tương tự như nhóm cam không axít (hàm lượng axít khoảng 0. Bưởi là những giống có kích thước quả nhỏ hơn so với Pummeloes và hàm lượng axit cao hơn nên còn gọi là bưởi chua, phần lớn các giống bưởi là bất tự tương hợp (self- incompatible) và lai với nhau một cách dễ dàng nên trong tự nhiên có rất nhiều giống đã được phát sinh do lai. Một số giống bưởi chủ yếu trên thế giới Trên thế giới bưởi (Citrus grandis) được trồng chủ yếu ở các nước châu Á và Đông Nam Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Lào, Việt Nam, Philippine, Malaysia vv. Mặc dù bưởi là loài có sự đa dạng di truyền rất lớn, song trong sản xuất không phải tất cả các giống đều được trồng với mục đích sử dụng ăn tươi hoặc trao đổi buôn bán, mà ở mỗi nước chỉ một số giống được phát triển mang tính đặc sản địa phương (Vũ Mạnh Hải và CS, tài liệu tập huấn cây ăn quả, Viện nghiên cứu rau quả, 2000).
Ở Trung Quốc, bưởi được trồng nhiều ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Tứ Xuyên, Hồ Nam, Chiết Giang, Phúc Kiến và Đài Loan. Các giống bưởi nổi tiếng của Trung Quốc được biết đến là: bưởi Văn Đán, Sa Điền, bưởi ngọt Quan Khê. Đây là những giống đã được Bộ nông nghiệp Trung Quốc công nhận là hàng nông nghiệp chất lượng cao và cấp huy chương vàng. Ở Đài Loan có giống nổi tiếng là bưởi Văn Đán, do có đặc tính tự thụ, phôi không phát triển nên không có hạt, chất lượng rất tốt được nhiều người ưa chuộng (Cục nông nghiệp Quảng Tây 2009).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 8 Ở Thái Lan tập đoàn giống bưởi cũng rất phong phú. Theo Prasert Anupunt - Viện làm vườn Thái Lan, các giống phổ biến trong sản xuất trồng ở các tỉnh miền Trung như Nakhon Pathom, Samut Sakhon, Samut songkhram, Ratchaburi và Nothaburi là: Khao Tongdee, Khao Phuang, Khao Phan, Khao Hawm, Khao nhan phung, Khao kheaw, Khao Jeeb, Khao Yai, Tubtim và Sai Nham Phung. Một số giống khác như: Khao Tangkwa, Som Krun, Khao Udom Sook và Manorom được trồng ở Chai Nat và Nakhon Sawan; giống Khao Uthai là giống đặc sản của tỉnh Uthai Thani; giống Takhoi và Som Pol được trồng phổ biến ở Phichit; giống Pattavia chỉ trồng ở vùng phía nam như ở tỉnh Surat Thani, Songkhla, Narathiwat và Pattani(Vũ Mạnh Hải và CS, tài liệu tập huấn cây ăn quả, Viện nghiên cứu rau quả, 2000). Một số giống bưởi chủ yếu trồng ở Việt Nam Ở Việt Nam, bưởi (Citrus grandis) có thể tìm thấy ở tất cả các tỉnh trong cả nước.
Do bưởi dễ lai với nhau và với các giống cây có múi khác, đồng thời từ lâu đời nhân dân có thói quen trồng bằng hạt nên bưởi là một trong những loài có sự đa dạng di truyền rất lớn. Nhiều giống có những phẩm vị cũng như chất lượng rất ngon được người dân chọn lựa mang về trồng đã trở thành các giống đặc sản của mỗi vùng miền. Một số giống trồng phổ biến ở các địa phương với mục đích sản xuất hàng hóa là: - Bưởi Diễn Trồng nhiều ở xã Phú Diễn, Phú Minh huyện Từ Liêm Hà Nội. Bưởi Diễn có thể là một biến dị của bưởi Đoan Hùng.
Quả tròn, vỏ quả nhẵn, khi chín màu vàng cam, khối lượng trung bình quả từ 0,8-1kg, tỷ lệ phần ăn được từ 60-65%, số hạt trung bình khoảng 50 hạt, múi và vách múi dễ tách rời nhau.