Luận văn thạc sĩ ueb nghiên cứu cấu trúc phụ thuộc của thị trường chứng khoán thị trường vàng và thị trường ngoại tệ ở việt nam

Luận văn thạc sĩ UEB nghiên cứu cấu trúc phụ thuộc giữa thị trường chứng khoán, thị trường vàng và thị trường ngoại tệ tại Việt Nam.

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

114
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SƠ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC PHỤ THUỘC CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN, THỊ TRƯỜNG VÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI TỆ

1.1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

1.1.1. Nghiên cứu ngoài nước

1.1.2. Nghiên cứu trong nước

1.1.3. Khoảng trống nghiên cứu

1.2. MỐI QUAN HỆ GIỮA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN, THỊ TRƯỜNG VÀNG, VÀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI TỆ

1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của thị trường chứng khoán, thị trường vàng và thị trường ngoại tệ

1.2.2. Mối quan hệ giữa thị trường chứng khoán và thị trường ngoại tệ

1.2.3. Mối quan hệ giữa thị trường chứng khoán và thị trường vàng

1.2.4. Mối quan hệ giữa thị trường vàng và thị trường ngoại tệ

1.3. SƠ LƯỢC LÝ THUYẾT MÔ HÌNH

1.3.1. Định nghĩa mô hình Copula

1.3.2. Các dạng mô hình copula

1.3.3. Ứng dụng mô hình Copula trong quản trị rủi ro

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU

2.2. GIẢ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.2.1. Xây dựng các giả thuyết

2.2.2. Mô hình nghiên cứu

2.3. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU

2.3.1. Phương pháp phân tích dữ liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH CẤU TRÚC PHỤ THUỘC CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN, THỊ TRƯỜNG VÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI TỆ

3.1. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH SƠ BỘ

3.1.1. Các phân tích thống kê cơ bản

3.1.2. Hệ số tương quan

3.2. PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM

3.2.1. Ước lượng mô hình phụ thuộc

3.2.2. Ước lượng giá trị tổn thất rủi ro và kết quả kiểm định

3.2.3. So sánh kết quả với mô hình khác

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

4.1. KẾT LUẬN VỀ SỰ PHỤ THUỘC CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN, THỊ TRƯỜNG VÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI TỆ

4.2. KẾT LUẬN SỰ PHỤ THUỘC CỦA CỔ PHIẾU CÁC NHÓM NGÀNH VỚI THỊ TRƯỜNG VÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI TỆ

4.3. KẾT LUẬN PHƯƠNG PHÁP ƯỚC LƯỢNG VÀ ỨNG DỤNG QUẢN TRỊ RỦI RO Ở VIỆT NAM

4.4. MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

4.5. HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC A: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỐNG KÊ CÁC NGÀNH

PHỤ LỤC B: KẾT QUẢ HỆ SỐ MÔ HÌNH CẤU TRÚC PHỤ THUỘC CÁC NGÀNH

PHỤ LỤC C: KẾT QUẢ TÍNH TOÁN VÀ KIỂM ĐỊNH GIÁ TRỊ VAR

Tóm tắt

I. Tổng quan về cấu trúc phụ thuộc giữa thị trường chứng khoán vàng và ngoại tệ

Nghiên cứu cấu trúc phụ thuộc giữa thị trường chứng khoán, vàngngoại tệ ở Việt Nam là một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực tài chính. Sự phụ thuộc này không chỉ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư mà còn có tác động lớn đến quản lý rủi ro. Các nhà đầu tư cần hiểu rõ mối quan hệ giữa các thị trường này để tối ưu hóa danh mục đầu tư của mình. Nghiên cứu này sẽ sử dụng mô hình Copula để phân tích mối quan hệ giữa ba thị trường này trong giai đoạn từ 2008 đến 2015.

1.1. Khái niệm về cấu trúc phụ thuộc trong tài chính

Cấu trúc phụ thuộc trong tài chính đề cập đến mối quan hệ giữa các biến tài chính. Điều này có nghĩa là sự biến động của một thị trường có thể ảnh hưởng đến sự biến động của thị trường khác. Việc hiểu rõ khái niệm này giúp các nhà đầu tư đưa ra quyết định chính xác hơn trong việc phân bổ tài sản.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu cấu trúc phụ thuộc

Nghiên cứu cấu trúc phụ thuộc giúp các nhà đầu tư nhận diện rủi ro và cơ hội trong danh mục đầu tư. Bằng cách phân tích mối quan hệ giữa thị trường chứng khoán, vàngngoại tệ, nhà đầu tư có thể tối ưu hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu cấu trúc phụ thuộc

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về cấu trúc phụ thuộc, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc xác định mối quan hệ chính xác giữa các thị trường. Các phương pháp truyền thống thường không đủ mạnh để đo lường sự phụ thuộc phi tuyến tính. Do đó, việc áp dụng mô hình Copula là cần thiết để khắc phục những hạn chế này.

2.1. Hạn chế của các phương pháp truyền thống

Các phương pháp như hệ số tương quan Pearson thường giả định rằng dữ liệu tuân theo phân phối chuẩn, điều này không đúng với dữ liệu tài chính. Hệ quả là các kết quả không chính xác và không phản ánh đúng mối quan hệ giữa các thị trường.

2.2. Sự cần thiết của mô hình Copula

Mô hình Copula cho phép phân tích mối quan hệ giữa các biến mà không cần giả định về phân phối của chúng. Điều này giúp xác định cấu trúc phụ thuộc một cách chính xác hơn, từ đó hỗ trợ các nhà đầu tư trong việc quản lý rủi ro hiệu quả.

III. Phương pháp nghiên cứu cấu trúc phụ thuộc giữa các thị trường

Nghiên cứu này sử dụng mô hình Copula để phân tích cấu trúc phụ thuộc giữa thị trường chứng khoán, vàngngoại tệ. Các bước nghiên cứu bao gồm thu thập dữ liệu, xây dựng mô hình và kiểm định kết quả. Phương pháp này giúp cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối quan hệ giữa các thị trường.

3.1. Quy trình thu thập và phân tích dữ liệu

Dữ liệu được thu thập từ các nguồn đáng tin cậy như Sở giao dịch chứng khoán và ngân hàng. Sau đó, dữ liệu sẽ được phân tích bằng các mô hình Copula để xác định cấu trúc phụ thuộc giữa các thị trường.

3.2. Các mô hình Copula được sử dụng

Nghiên cứu sẽ áp dụng các mô hình Copula khác nhau như Normal Copula, Student Copula và Clayton Copula. Mỗi mô hình sẽ cung cấp cái nhìn khác nhau về mối quan hệ giữa các thị trường, từ đó giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định chính xác.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa thị trường chứng khoán, vàngngoại tệ ở Việt Nam là không đồng nhất. Các nhà đầu tư có thể sử dụng vàng và USD như công cụ phòng ngừa rủi ro cho danh mục đầu tư chứng khoán. Điều này mở ra cơ hội mới cho các chiến lược đầu tư.

4.1. Phân tích kết quả mô hình Copula

Kết quả từ mô hình Copula cho thấy sự phụ thuộc yếu giữa các thị trường. Điều này có nghĩa là nhà đầu tư có thể giảm thiểu rủi ro bằng cách đa dạng hóa danh mục đầu tư của mình với vàng và USD.

4.2. Ứng dụng trong quản lý rủi ro

Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin quý giá cho các nhà đầu tư trong việc quản lý rủi ro. Việc sử dụng vàng và USD có thể giúp bảo vệ danh mục đầu tư khỏi những biến động không lường trước trong thị trường chứng khoán.

V. Kết luận và hướng nghiên cứu tương lai

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có sự phụ thuộc giữa thị trường chứng khoán, vàngngoại tệ ở Việt Nam. Tuy nhiên, cần có thêm nhiều nghiên cứu để làm rõ hơn về mối quan hệ này trong các điều kiện thị trường khác nhau. Hướng nghiên cứu tương lai có thể tập trung vào việc áp dụng các mô hình phức tạp hơn để cải thiện độ chính xác.

5.1. Tóm tắt kết quả chính

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự phụ thuộc yếu giữa các thị trường, điều này có thể giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư thông minh hơn.

5.2. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc áp dụng các mô hình phức tạp hơn và mở rộng phạm vi nghiên cứu để bao quát nhiều thị trường hơn, từ đó cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về cấu trúc phụ thuộc.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueb nghiên cứu cấu trúc phụ thuộc của thị trường chứng khoán thị trường vàng và thị trường ngoại tệ ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về cấu trúc phụ thuộc của thị trường chứng khoán, thị trường vàng và thị trường ngoại tệ Chương 2.Phương pháp nghiên cứu Chương 3. Kết quả phân tích cấu trúc phụ thuộc của thị trường chứng khoán, thị trường vàng và thị trường ngoại tệ Chương 4. Kết luận và hàm ý chính sách 6 CHƢƠNG 1.

TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SƠLÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC PHỤ THUỘC CỦA THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN, THỊ TRƢỜNG VÀNG VÀ THỊ TRƢỜNG NGOẠI TỆ 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY Nghiên cứu cấu trúc phụ thuộc giữa các thị trường góp một phần quan trọng trong quản lý rủi ro, bao gồm các vấn đề về sự dịch chuyển đồng thời và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thị trường. Thuật ngữ sự phụ thuộc trong tài chính hàm ý sự biến động của thị trường này ở một mức độ nào đó có tác động làm cho một thị trường khác cũng biến động ở một mức độ nhất định (xem Nguyễn Thu Thủy, 2015)[14]. Sự phụ thuộc của các biến tồn tại phức tạp và thông thường, trong một cách đơn giản, người ta thường sử dụng các phương pháp đo lường tương quan tuyến tính như hệ số tương quan Pearson.

Phương pháp bình phương nhỏ nhất OLS cũng thường được sử dụng trong việc thiết lập phương trình hồi quy tuyến tính hai biến hoặc đa biến. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu thực hiện bằng các mô hình hồi quy phi tuyến tính, chẳng hạn sử dụng mô hình hiệu chỉnh véc-tơ VAR, VECM, ARDL, GARCH. Trong đó mô hình hồi quy phân vị và hàm Copula được một số nghiên cứu đánh giá là phương pháp đo lường sự phụ thuộc hiệu quả (xem Baur, 2013)[23]. Mối quan hệ giữa chứng khoán, vàng và USD luôn nhận được quan tâm của các nhà đầu tư.

Vàng thường được sử dụng trong chiến lược đa dạng hóa đầu tư bởi giá trị của vàng không phụ thuộc vào thu nhập trong tương lai. Ngoài ra, khi thị trường đang biến động, giá trị của các tài sản khó xác định, trong khi đó giá trị của vàng lại dễ định giá. Mặt khác, USD là đồng tiền mạnh được sử dụng hầu hết trong các giao dịch quốc tế vàđược dự trữ bởi hầu hết các quốc gia. 7 Việc nghiên cứu sự phụ thuộc lẫn nhau hay mối quan hệ giữa chứng khoán,vàng và USD đã được thực hiện tại nhiều quốc gia theo nhiều mô hình kỹ thuật.

Các nghiên cứu đã thực hiện điều tra theo cặp mối quan hệ giữa thị trường chứng khoán và thị trường vàng; hay thị trường chứng khoán và thị trường ngoại tệ hoặc một nghiên cứu tổng thể bao gồm cả ba thị trường cùng một số các nhân tố kinh tế vĩ mô khác đưa đến một số kết quả nhất định. Nghiên cứu ngoài nƣớc a, Trƣờng hợp 2 biến - Chứng khoán và vàng thường được các nhà đầu tư thường sử dụng kết hợp trong danh mục bởi hệ số beta âm giữa hai tài sản này.Moore (1990)[54] cho thấy tồn tại mối tương quan âmkhi tiến hành thực nghiệm trong giai đoạn 1970-1988. Kết quả này tương đồng với: Tunali (2010)[77] khi sử dụng mô hình tự hồi quy vector VAR cho thị trường Thụy Sĩ; Mishra và cộng sự (2010) [53]chothị trường Ấn Độ trong giai đoạn năm 1991 đến năm 2009 bằng mô hình hồi quy sai số điều chỉnh VECM vàBilal và Talib(2013)[29]khi nghiên cứu với chỉ số BSE bằng kiểm định đồng liên kết Johansen và quan hệ nhân quả Granger trong thời gian từ tháng 7/2005 đến tháng 6/2011. Baur và Lucey (2010)[24]đưa ra thuật ngữ “rào chắn- hedge”, “nơi trú ẩn an toàn- heaven safe” để nghiên cứu sự phụ thuộc của vàng vào chứng khoán trong điều kiện thị trường chứng khoán giảm giá.

Sử dụng dữ liệu theo ngày trong thời gian từ 1995 đến 2005 và kỹ thuật hồi quyngưỡng phân vị, nghiên cứu tìm thấy vàng là một công cụ phòng ngừa tốt cho chứng khoán ở Mỹ, Anh khi mối quan hệ tương quan âm giữa vàng và chứng khoán có ý nghĩa thống kê. Điều này cho thấy rằng nhà đầu tư tại Mỹ, Anh có khả năng thu được lợi nhuận từ vàng khi thị trường chứng khoán có biến động giảm giá mạnh. 8 Baur & McDermott (2010)[25] khi phân tích trên một mẫu kéo dài khoảng 30 năm từ 1979-2009 cho thấy rằng vàng là một rào chắn và nơi trú ẩn an toàn cho chứng khoán châu Âu và Mỹ. Trái lại, đối với các quốc gia như Australia, Canada, Nhật Bản và thị trường các nước mới nổi BRICS, vàng không thể hiện vai trò đó.

Trong một nghiên cứu khác về thị trường Pháp, Đức, Anh, Mỹ và các nước G7, Coudert & Raymond (2011)[35] thấy rằng vàng đủ điều kiện để trở thành một nơi trú ẩn an toàn,một tài sản để đa dạng hóa danh mục đầu tư do không biến động cùng chiều với cổ phiếu khi thị trường suythoái hoặc giảm giá mạnh. Đối với thị trường các nước mới nổi,Baur & McDermott (2010) cho rằngvàng đóng một vai trò nhỏ trong phòng chống rủi ro. Pasutasarayut & Chintrakarn (2012)[68] đã ứng dụng nghiên cứu tại thị trường Thái Lan với đại diện chỉ số thị trường SET và cổ phiểu của 24 nhóm ngành từ năm 2001 đến 2011. Tác giả không tìm thấy bằng chứng cho thấy vàng là một nơi trú ẩn an toàn cho thị trường Thái Lan.

Bên cạnh đó, tại Malaysia, Ghazali, Lean & Bahari (2011)[42] tìm thấy rằng khi thị trường chứng khoán giảm mạnh, giữa vàng và chứng khoán tồn tại mối tương quan cùng chiều. Cả hai nghiên cứu đều cho rằng, thay vì tìm kiếm một tài sản an toàn thay thế, nhà đầu tư có thể điều chỉnh lại danh mục đầu tư bằng cách rút khỏi thị trường mới nổi để đầu tư vào thị trường các nước phát triển. Ngoài mô hình của Baur & Lucey (2010), Mulyadi & Anwar (2010)[55] đã sử dụng mô hình probit để so sánh đầu tư giữa chứng khoán tại Mỹ và vàng trong thời gian từ năm 1970 đến 2011 cho thấy rằng việc đầu tư vàng đem lại nhiều lợi nhuận hơn. Nghiên cứu cũng chỉ rõ, khi thị trường chứng khoán có chiều hướng xấu đi, xác suất vàng tăng giá so với kì trước cao hơn.

Điều này hàm ý mối quan hệ ngược chiều của vàng với chứng khoán. Đó cũng là kết quả của Beckmann, Berger & Czudaj (2014)[26] khi tiếp cận bằng 9 mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn- STR cho 18 thị trường của 5 khu vực trên thế giới. Ngược lại, một số nghiên cứu chỉ ra rằng không tồn tại sự tương quan phụ thuộc giữa chứng khoán và vàng, chẳng hạn Mani và Vuyyuri (2003)[73] cho thấy ảnh hưởng không đáng kể của giá chứng khoán Ấn Độđến giá vàng. Đây cũng là kết quả trong nghiên cứu của Baig và cộng sự (2013)[21] khi sử dụng dữ liệu theo tháng để nghiên cứu mối quan hệ giữa giá vàng, giá dầu thô và chỉ số chứng khoán KSE của Pakistan trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2010.

- Chứng khoán và tỷ giá được thể hiện trong một vài nghiên cứu, chẳng hạn Neih và Lee (2001)[60] thấy rằng không có mối quan hệ dài hạn giữa chứng khoán và tỷ giá hối đoái ở các nước G7. Mặt khác, nghiên cứu cũng cho thấy rằng, mối quan hệ trong ngắn hạn chỉ xuất hiện trong thời gian rất ngắn (một ngày nhất định). Trong ngắn hạn, đồng tiền mất giá sẽ làm giảm lợi nhuận cổ phiếu ở Đức (quan hệ đồng biến) nhưng làm tăng cổ phiếu cho thị trường Canada và Anh (quan hệ nghịch biến). Umer, Sevil và Kamisli (2015)[79] sử dụng mô hình ARDL và mối quan hệ nhân quả nhằm nghiên cứu tại 9 thị trường mới nổi (Brazil, Czech Republic, Hungary, Malaysia, Mexico, Ba Lan, Nam Phi, Đài Loan và Thụy Sỹ) trong giai đoạn từ tháng 1/1998 đến tháng 5/2014.

Kết quả của nghiên cứu nhấn mạnh sự dịch chuyển đồng thời tỷ giá hối đoái và giá cổ phiếu trong thời gian khủng hoảng diễn ra mạnh hơn so với giai đoạn ổn định. Nghiên cứu cũng cho rằng, mối quan hệ giữa hai thị trường ngược chiều (stock- oriented) trong thời kỳ ổn địnhvà quan hệ cùng chiều (flow-oriented) trong thời kỳ khủng hoảng. Cakan và Ejara (2013)[32]thực hiện trong giai đoạn từ tháng 5/1994 đến tháng 4/2010 bằng cách sử dụng các kiểm định Granger cho thấy rằng giá cổ 10 phiếu và tỷ giá hối đoái có quan hệ nhân quả hai chiều tuyến tính và phi tuyến tính trong hầu hết các trường hợp, ngoài trừ các nước Brazil, Ba Lan và Đài Loan. Một nghiên cứu khác được thực hiện đối với các nước bao gồm ASEAN của Pan, Fok và Liu (2007)[67] cho thấy mối quan hệ nhân quả giữa tỷ giá hối đoái và chứng khoán tại Hồng Kông, Thái Lan, Nhật Bản, Malaysia.

Tuy nhiên, mối quan hệ nhân quả chỉ thể hiện tác động của tỷ giá lên giá chứng khoán.Sự tác động này phụ thuộc vào cả tỷ lệ thương mại quốc tế của một quốc gia và mức độ của sự mất cân bằng thương mại. - Thị trƣờng vàng và thị trƣờng ngoại hối được các nhà đầu tư quan tâm nhiều bởi mối tương quan hoàn hảo giữa hai thị trường.Mối quan hệ này xuất hiện khi các tiêu chuẩn vàng được sử dụng (thời kỳ bản vị vàng). Trong thời gian đó giá trị của một đơn vị tiền tệ đã được gắn liền với số tiền cụ thể của vàng.Sau khi kết thúc chế độ bản vị vàng năm 1971, giá vàng được quyết định bởi cung cầu của thị trường, trong khi USD đã trở thành một đồng tiền mạnh, giá trị được quy định bởi chính phủ, được giao dịch trên thị trường nước ngoài và được sử dụng như một đồng tiền dự trữ tại các quốc gia trên thế giới. Kết quả thống kê lịch sử cho thấy khoảng 80% vàng và đồng USD sẽ thể hiện mối tương quan âm.

Một cách thể hiện đơn giản rằng khi đồng USD giảm, vàng tăng; và khi đồng USD tăng, vàng giảm. Do đồng nội tệ có biến động ngược chiều so với đồng ngoại tệ (ở đây là đồng USD) nên đồng nội tệ và vàng được kỳ vọng có mối tương quan dương. Mặc dù vậy, trong nhiều trường hợp, đồng nội vẫn tồn tại những biến đổi cùng chiều hoặc ngược chiều với giá vàng. Những lý do được giải thích trong phần 1.

Nair, Choudhary và Purohit (2015)[56] đã kết luận rằng mối quan hệ giữa giá vàng và tỷ giá INF/USD đã bị ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế ở Ấn Độ. Trong thời gian trước khi xảy ra khủng hoảng kinh tế toàn cầu, hai thị 11 trường thể hiện mối quan hệ nhân quả hai chiều. Đây cũng là kết quả được giới thiệu bởi Bhunia (2013)[27]. Arezki và cộng sự (2014)[20] khi nghiên cứu tại thị trường Nam Phi trong giai đoạn 1979- 2010 cho thấy tỷ giá là một yếu tố quan trọng trong việc phân tích biến động giá vàng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ